Động và Tĩnh - đôi cánh của sáng tạo

15:01 12/09/2025
Để hiểu được tác phẩm, người sáng tạo nhất thiết phải trình hiện trước bàn dân thiên hạ. Nhà văn thì in sách, họa sỹ thì làm triển lãm.

Với họa sỹ, triển lãm cá nhân là sự tự khẳng định, còn triển lãm đôi, nhất là ở những người cùng trường phái, ít nhiều cùng phong cách là sự tự phát hiện bản thân. Tìm sự khác nhau ở cái khác nhau đã khó, tìm sự khác nhau ở cái giống nhau còn khó hơn. Cuộc triển lãm Động và Tĩnh của hai họa sỹ Hải Minh và Trần Lưu Mỹ là một trường hợp.  

Bước sang thế kỷ XXI, tranh trừu tượng từ một dòng phụ, chảy bên lề, đã trở thành một trong những dòng chính ở trung tâm của hội họa Việt Nam. Sự tự do thể hiện mình ở/của nghệ thuật trừu tượng đã tạo ra sức quyến rũ khó cưỡng khiến họa sỹ nào cũng muốn thử sức. Có người rẽ sang ngang. Có người chọn nó hay được nó chọn ngay từ khởi thủy. Tranh trừu tượng ở đâu đó và lúc nào đó đã trở thành mốt, tưởng ai cũng vẽ được, như làm thơ tự do không cần vần điệu. Vượt lên màu sắc và hình thể, tranh trừu tượng cần một nhịp điệu.

Tranh của họa sỹ Trần Lưu Mỹ


Đến với tranh trừu tượng, tức từ nghệ thuật biểu hình đến phi biểu hình, có nhiều lối đi. Riêng ở Việt Nam, lộ chính vẫn là tiến trình trừu tượng hóa nhiều cấp độ đến mức cuối cùng vật thể không còn vật thể nữa. Cái cây giờ đây chỉ còn là một mớ đường nét dù vẫn còn những ám gợi đến hình thể ban đầu. Tuy nhiên, ở Hải Minh và Trần Lưu Mỹ, ngay từ xuất phát điểm, dù còn ở miền tiềm thức, không hề có một vật thể nào mở lối. Ở họ, mảng nét và màu sắc đều có nghĩa tự thân. Còn một khi đã nằm trong cấu trúc nhịp điệu của văn bản tranh, chúng được dôi nghĩa. Một nghĩa không hề bám vào sự vật, mà ở miền tưởng tượng. Từ đó, tôi muốn gọi tranh của Minh, Mỹ là trừu tượng thuần túy.

Nhưng tranh của hai người lại vẫn khác nhau. Để tìm cái khác trong cái giống, tôi sử dụng cặp phạm trù triết mỹ độngtĩnh. Sự khác nhau của Minh - Mỹ không sáng đẹp đơn thuần như người này là động còn người kia là tĩnh, mà cả hai đều vừa là động, vừa là tĩnh: trong tĩnh có động, trong động có tĩnh. Bút pháp trừu tượng của Hải Minh đã đạt tới đỉnh cao. Mảng và nét của anh có sự viên mãn trong chính nó. Cấu trúc tranh vững chắc, mạnh mẽ hình thành một nhịp điệu bình ổn. Vậy nên, tranh của Minh có cốt tĩnh. Nhưng màu sắc tranh anh lại bừng nở rực rỡ tạo ra sự chuyển động, đúng hơn một khí động, thứ “khí vận sinh động” theo nguyên lý Tạ Hách. Lối vẽ Hải Minh mạnh, màu chồng lớp liên tục, nên biểu cảm nóng, năng lượng ngoại phóng, hay lồi như cách gọi của họa sỹ Phan Thiết. Tranh Minh, do vậy, có âm hưởng Tây phương.

Tranh của họa sỹ Hải Minh


Trong khi đó, cốt khí, cả cốt lẫn khí, tranh Trần Lưu Mỹ có thể hạ một chữ đạm, nhưng mà “đạm nhược thủy”. Màu sắc tranh Mỹ thâm trầm, anh ưa những gam màu lạnh. Như dòng nước trôi qua những cánh rừng sậm lá hoặc bầu trời đẫm sắc đen. Nhưng đây đó vẫn vương vất những tấm khăn màu cam hoặc xanh lơ như tình cờ, lơ đãng. Nghệ thuật trừu tượng của Mỹ được xây dựng chủ yếu bằng nét chứ không phải mảng, nên có phần gợi đến lối vẽ tranh thư pháp của Tàu. Những đường nét to nhỏ, đậm nhạt, ngắn dài chạy từ góc tây - bắc tranh xuống phía đông - nam. Có nét như “nước sông Hoàng Hà cuồn cuộn từ trên trời đổ xuống”. Xa trông thì tĩnh mà gần trông thì động. Có nhịp điệu nhưng là nhịp điệu của sự đứng yên. Có âm thanh, nhưng là âm thanh của sự im lặng. Chính sự nghịch lý thuận lý này tạo nên sức căng nội tại của tranh Mỹ, đẩy tĩnh thành động, xô lệch sự hài hòa, đối xứng. Mất đối xứng Trần Lưu Mỹ phải đi tìm một đối xứng mới. Không phải ở nội bộ bức tranh, mà ở văn bản bức tranh đối xứng với những gì ngoài văn bản tranh, kiểu như ngoài trời còn có trời. Tranh Trần Lưu Mỹ, vì vậy, có âm hưởng Đông phương.

Động và tĩnh, hoặc động - động, tĩnh - tĩnh, như vậy, là những cực đối trọng mà hợp nhất, đôi cánh chim vút bay về phía chân trời của nghệ thuật ý niệm. Có điều nếu ở tranh giá vẽ và phi giá vẽ (trình diễn, sắp đặt,...) tư tưởng nghệ thuật được tác giả cài đặt sẵn vào thân thể tác phẩm thì ở tranh trừu tượng nó như con rồng ẩn: đuôi thấp thoáng trong tranh, còn thân và đầu thì ở trong tưởng tượng và cảm xúc của người thưởng lãm. Tranh trừu tượng, nhất là của Hải Minh và Trần Lưu Mỹ, đòi hỏi một sự tham dự để cùng họa sỹ hoàn tất bữa tiệc thẩm mỹ này.

Đ.L.T
(TCSH438/08-2025)

 

 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
  • LÊ MINH PHONG Nghệ thuật của Đoàn Quỳnh Như, cả hội hoạ lẫn thi ca, đều là những nỗ lực phóng chiếu thế giới nội tâm. Ở đó, ta thấy một vùng trời rộng lớn và huyền bí khó xâm nhập,đóchính là tâm thức của thi sĩ. Nhờ vào những thi/ hoạ phẩm ấy, ta có thể lần tìm và cảm nhận được phần nào thế giới tâm thức mênh mông của Như, nơi không dễ để thấu cảm.  

  • Hoàng Như Thủy An là nghệ danh của anh Hoàng Như Bứa, quê anh Bứa ở làng Thủy An, huyện Phú Lộc. Ngôi làng nằm dưới chân núi Bạch Mã thơ mộng mà hùng vĩ của thành phố Huế.

  • Con đường nghệ thuật Bắc Miền Trung rộng mở với những thăng hoa, vừa tĩnh lặng, vừa nồng ấm và bàng bạc không gian sống động.

  • BẠCH DIỆP

    "Có lẽ đau khổ lại tốt cho con người. Nhà nghệ sĩ có thể làm gì nếu anh ta hạnh phúc? Anh ta liệu có muốn làm bất cứ điều gì không? Nghệ thuật, rốt cuộc chính là chống lại sự khắc nghiệt của cuộc đời".

  • ĐINH CƯỜNG

    Kỷ niệm 100 năm ngày sinh của họa sĩ Nguyễn Phan Chánh

     

  • PHAN THANH BÌNH

    Trong lịch sử mỹ thuật thế giới, từ Âu châu đến Á châu đã ghi nhận nhiều hoàng đế từng cầm bút vẽ, nặn tượng và không ít bảo tàng mỹ thuật ở các quốc gia có lưu giữ những tác phẩm mỹ thuật mà tác giả là những vị vua danh tiếng.

  • KHẢ HÂN

    Là một trong những họa sĩ chủ soái của trường phái Ấn tượng nổi tiếng với phong cách làm việc ngoài trời một cách nhất quán, Monet đã để lại rất nhiều bức vẽ đầy ấn tượng về băng, tuyết và sương giá.

  • LINH PHƯƠNG

    Một lần nữa có thể thấy rằng, mỹ thuật Huế trong dòng chảy của mình, không ồn ào mà lại âm thầm trong việc theo đuổi những tiếng gọi nghệ thuật thuộc nhiều kiểu dạng ngôn ngữ nghệ thuật khác nhau để có được hiệu quả thẩm mỹ tốt nhất.

  • PHƯỢNG LÂM

    Họa sĩ Léopold Franckowiak, đến nay ông đã có bảy năm sống ở Việt Nam. Có thể nói, Việt Nam là nơi gợi cảm hứng sáng tác mạnh mẽ nhất với ông trong thời điểm này.

  • TRẦN DUY MINH

    Trong hội họa, mùa thu là mùa quyến rũ với các họa sĩ, bởi mùa thu là mùa của thi tính, của cái đẹp và cũng là mùa của nỗi buồn. Mùa thu là mùa của sự úa tàn, của những phôi pha, của những gì kết thúc nhưng đó cũng là thời điểm để khởi đầu cho một hành trình mới của sự vật.

  • LÝ HỮU NGUYÊN

    Nguyễn Trọng Khôi là họa sĩ song hành cả hiện thực và trừu tượng.

  • VŨ LINH

    Từ khởi thủy của nghệ thuật tạo hình, động vật đã là một đề tài được lựa chọn. Những hình vẽ sơ khai nhất được tìm thấy trong các hang động, những hình thù khắc trên đá, trên xương động vật, trên các dụng cụ bằng đồng...

  • TRẦN DIỄM THY

    Trong nghệ thuật tạo hình trên thế giới cũng như ở Việt Nam, hình tượng trẻ con luôn được xem như là một nguồn mạch của sáng tạo nghệ thuật.

  • LÊ TRIỀU HẢI

    Nếu như nghệ thuật hiện đại có những cách thức đi ngược chiều với quan niệm nghệ thuật là sự mô phỏng của Plato và Aristotle, thì ngày nay, trào lưu nghệ thuật cực thực lại hướng tới mô phỏng ngoại giới một cách tinh vi, nếu không muốn nói là đẩy tới cực đoan nhất có thể trong việc mô phỏng vật thể.

  • NGUYỄN THỊ HÒA

    Huế những năm đầu thế kỷ XX, Nhà nước phong kiến triều Nguyễn đã ban hành nhiều chính sách, trong đó có chính sách văn hóa hướng tới nhiều khía cạnh của đời sống xã hội như văn chương nghệ thuật, giáo dục, giao lưu, tiếp xúc văn hóa, bảo tồn di sản… nhằm đáp ứng nhu cầu văn hóa nghệ thuật của cộng đồng, với sự xuất hiện trào lưu học thuật tân tiến của châu Âu, mỹ thuật được giao lưu biểu hiện qua các hoạt động và sáng tác nghệ thuật.

  • ĐẶNG TRIỆU VĂN

    Như tên gọi của nó, trào lưu tối giản trong nghệ thuật hướng tới tiết chế mọi yếu tố cấu nên tác phẩm nghệ thuật.

  • NGUYỄN HOÀNG VY

    Từ khi Phân tâm học của Freud ra đời, người ta mới có thể lý giải được phần nào nguyên do xui khiến người nghệ sĩ lao vào sáng tạo nghệ thuật, có một sức mạnh to lớn từ vô thức khiến người nghệ sĩ mộng mơ, đó là sức mạnh bất khả từ chối.

  • VŨ LINH

    Với hội họa Việt Nam, sơn mài là chất liệu không xa lạ. Những tên tuổi lớn từng thành công trên chất liệu sơn mài phải kể đến như: Nguyễn Gia Trí, Nguyễn Sáng, Nguyễn Đỗ Cung, Phan Kế An, Nguyễn Tư Nghiêm...

  • TRÚC LÂM

    Trong văn hóa nhân loại, lợn như là một biểu tượng phổ quát. Lợn được xem là tổ phụ sáng lập một trong bốn đẳng cấp trong xã hội Meslanesie. Nữ thần trời và mẹ vĩnh cửu của các tinh tú ở Ai Cập cổ đại lại thường được tạo hình trên các bùa đeo với những họa tiết của lợn nái đang cho đàn con bú.