C. J. MCCARTHY
Cormac McCarthy là nhà văn người Mỹ, ông nổi tiếng với phong cách viết bạo liệt và u ám. McCarthy chuyên viết tiểu thuyết và được giới hàn lâm đánh giá cao ở ngay tiểu thuyết đầu tiên, The Orchard Keeper (1965), nhưng ông không thành công với độc giả đại chúng.
Nhà văn Cormac McCarthy năm 1973 - Ảnh: wiki
|
Mãi đến năm 1992, sự ra mắt của tiểu thuyết All the Pretty Horses mới mang về cho ông nhiều giải thưởng từ giới chuyên môn và sự đón nhận của số đông đại chúng. Tác phẩm thành công nhất của ông là tiểu thuyết The Road (2006) đã được chuyển thể thành phim. Năm 2003, McCarthy được nhà phê bình Harold Bloom đánh giá là một trong bốn nhà văn vĩ đại còn sống của nước Mỹ, bên cạnh Don DeLillo, Thomas Pynchon, và Philip Roth. Ngày 13/6/2023, Cormac McCarthy qua đời tại nhà riêng ở Mỹ, hưởng thọ 89 tuổi. Một vụ đuối nước là một trong số truyện ngắn hiếm hoi mà McCarthy từng viết vào thời còn trẻ. Truyện ngắn này ra mắt năm 1960 trong tạp chí The Phoenix. Tuy là tác phẩm ở quãng thời gian sớm sủa trong sự nghiệp viết của McCarthy nhưng truyện ngắn này rất đậm đà phong vị của ông: mơ hồ, tăm tối, u uất, trần trụi, chủ đề xoay quanh sự sống và cái chết. Văn phong đặc trưng polysyndeton (hành động dùng rất ít dấu phẩy và thay vào đó bằng các liên từ) cũng bắt đầu được ông áp dụng ở đây. Nội dung câu chuyện tương đối đơn giản, một cậu bé dường như bị “ra rìa” khi cha mẹ sinh em gái, cậu có một con chó cái và một đàn chó con, một ngày nọ cậu phát hiện xác một chú chó con dưới con lạch gần nhà, nó bị cho vào bao tải cùng với hai viên gạch. Thế rồi một loạt những miêu tả mơ hồ và tăm tối diễn ra, có rất nhiều cách để đọc hiểu và diễn giải câu chuyện này. Sự thật là gì, chúng ta không thể biết chắc, và đó là cái hay của sự mơ hồ trong tác phẩm của Cormac McCarthy. Nguyễn Tuấn Linh dịch và giới thiệu |
Một vụ đuối nước
Ngay khi cánh cửa lưới đóng sầm lại, cậu đi vòng ra phía góc nhà để khuất mắt người ta, rồi chạy đến túp lều chứa củi và đặt nó xuống giữa bản thân mình và ngôi nhà. Đứa bé đã chợp mắt. Cậu không định đi đâu xa. Dưới tán cây dương hòe cậu đứng nhìn quanh quất. Vài con ong bắp cày bay qua bay lại trong bóng râm dưới mái chìa. Đi vòng ra phía sau túp lều và xuyên qua chiếc cổng đang chia đôi cái hàng rào lớn thiếu tay người chăm sóc, cậu bước vào lô đất dẫn đến nếp nhà ngang cũ kĩ. Cậu cẩn thận mở cánh cửa mục nát; các tấm ván vừa cong vênh vừa nhẵn mịn vừa được phủ một lớp nước bóng màu xanh nhạt. Một thanh gỗ ở lớp phía sau đã biến mất và một vệt sáng mỏng xiên xiên chiếu vào. Trên sàn nhà vẫn còn cái áo khoác cũ mà cậu mang xuống đây cho con Suzy, sau đó cậu đi theo nó, ngày đầu tiên mà nó trông có vẻ gầy gò và vẫy đuôi phấn khích, đầu vú của nó không còn xệ xuống tận đất nữa. Cái áo khoác bị bám chằng chéo những sợi lông trắng và mùi sữa chua thoang thoảng của đàn chó con vẫn còn vương vất. Chúng đã được gửi đến nhà chủ mới vào tuần trước. Cậu bước vào nhìn xuống cái hố và khi mắt đã quen với bóng tối bên dưới là cậu có thể thấy lờ mờ hai hình tam giác nho nhỏ màu đỏ nằm đấu đỉnh với nhau. Bên mé gót chân cậu có một con dế đang nằm nghỉ ngơi trên lớp đất mùn, râu nó xoay xoay theo những vòng cung ngẫu nhiên. Cậu thấy nó và thò tay bắt, nhưng nó nhảy lên, va phải mặt ghế và rơi trở xuống sàn. Cậu mau mắn giẫm lên nó, rồi nhặt nó lên. Nó vẫn còn đạp đạp một chân theo nhịp điệu chầm chậm vô thức; một chất lỏng đặc màu trắng rỉ ra từ nó. Cậu thả nó xuống cái hố và khom lưng quan sát. Cậu có thể thấy nó đang nhẹ nhàng lắc lư trong tấm mạng đàn hồi. Con góa phụ áo đen len lỏi tiến về phía nó, rồi khi đến nơi nó bắt đầu lấy chân làm chuyển động dệt tơ quanh con mồi như thể đang thực hiện một nghi thức tử thần nào đó. Chẳng mấy chốc cái chân của con dế thôi đạp. Thế rồi cậu hơi chúi người về phía trước, phóng ra từ lưỡi một giọt nước bọt lớn; nó lướt qua đám lá hình lược bên dưới, chuyển dần từ màu trắng sang xám trong bóng tối càng lúc càng sẫm lại. Con nhện hóa đá. Cậu nhắm mục tiêu cho chuẩn, và cục nước bọt thứ hai bắn trúng phóc, nhấn chìm cả hai đối tượng. Con nhện bỏ nạn nhân của nó lại mà chạy vào những hốc tối của con đường hầm mốc meo làm kéo theo một chuỗi nước dãi mảnh đang treo thành những vòng cung nhầy nhụa giữa các sợi tơ đan của tấm mạng nhện.
Sau đó cậu đi ra ngoài, cẩn thận khép cánh cửa xập xệ vào. Mặt trời đã treo cao trên những cây sồi ở đằng xa ngôi nhà. Vài con giẻ cùi màu lam thấp thoáng giữa tán lá. Cậu chần chừ một thoáng, rồi rẽ vào đường mòn dẫn đến phía góc của lô đất. Tại đây cậu băng qua chỗ đất sụt trong hàng rào bằng cây kim ngân và bắt đầu đi vào khu rừng. Không lâu sau cậu bắt gặp một đường ray xe goòng cũ chạy quanh co trong thanh bình và sáng lốm đốm nhờ ánh nắng đầu ngày chiếu xuyên qua tán cây đẫm sương. Cậu đi theo con đường dốc xuống, lê chân qua đám lá, làm lật ngửa mặt dưới còn ướt đẫm của chúng. Cậu dừng lại một lần, tước một nắm thuốc lá thỏ, nhét vào miệng và lê bước xuống đường, miệng khạc nhổ, đôi vai gầy nhấp nhô trong khoái chí.
Con đường nhấp nhô và khúc khuỷu dốc xuống cho đến khi dẫn ra bìa rừng nơi nó chạy thẳng trước khi mất dấu trong cánh đồng kêu rì rào mà phía bên kia là hàng liễu và cây bông trải dài để đánh dấu hướng đi của con lạch. Cậu vẫn cảm nhận được vết lún dưới chân khi lội qua đồng cỏ cao đến đầu gối hoặc len giữa những bụi mâm xôi mọc thưa thớt. Rồi cậu vén tấm màn liễu, màu chanh tươi và vàng kim hắt lên lúc chúng hứng ánh nắng trên con đường cậu đi. Cậu nghe được tiếng róc rách lờ mờ ngay từ lúc ấy, trước cả khi cậu bước ra khỏi rặng liễu nơi cây cầu bắc ngang, thấp thoáng sau tấm mạng ren màu xanh lục, sóng nước hình rẽ quạt nằm ở phía bên kia nơi mặt trời ló rạng và nhảy múa trên mặt nước lăn tăn như những con ong bạc.
Cậu đi lên cây cầu nhỏ, bước thận trọng. Những tấm ván cong vênh đã bị nứt toác và phong hóa, bạc phếch thành thứ màu xám trông gần như kim loại. Cây cầu bị oằn xuống đầy nguy hiểm ở phần giữa như thể một con la đang chở hàng quá sức. Cậu ngồi xuống những phiến gỗ ấm áp, rồi nằm ép bụng xuống mà nhìn qua khe hở xuống mặt nước bên dưới. Con lạch nước nông và trong vắt. Đáy lạch có màu lốm đốm nâu và vàng như da báo gấm, nơi ấy mặt trời chiếu xuyên qua vòm lá và cành cây bên trên. Đàn cá tuế bơi chênh chếch theo dòng chảy chầm chậm. Qua tấm kính bằng nước cậu quan sát những cái bóng tí hon lướt ngang lưng con báo trong tĩnh lặng và dập dờn như đường bay của loài chim. Cậu tìm được vài viên sỏi trắng nhỏ nằm cạnh khuỷu tay và thả chúng xuống đàn cá tuế; chúng xoay xoay và tỏa sáng chầm chậm lúc rơi xuống đáy kéo theo đám bọt nước li ti xoáy lên thành hình tua rua trước khi nổi hẳn lên và biến mất. Đàn cá tuế lao tới săm soi. Cậu khoanh tay đặt dưới cằm. Mặt trời sưởi ấm và vuốt ve lưng cậu qua chiếc áo sơ mi flannel.
Thế rồi theo dòng chảy hiền hòa trôi đến từ phía dưới cầu một chú chó nhỏ, lăn và xóc dưới đáy con lạch, xoay tròn không trọng lượng trong làn nước chảy chậm. Cậu nhìn với vẻ khó hiểu. Nó từ từ xoay lại để nhìn trân trối vào cậu bằng đôi mắt vô hồn, quay cái bụng trắng bệch về phía ánh nắng đang dịu dàng khuếch tán, chân nó cứng đờ và duỗi thẳng trong tư thế chống cự đến vĩnh hằng. Nó cứ trôi mãi, ẩn mình giây lát trong một dải bóng râm, trồi lên, rồi trượt xuống bên dưới lớp bạc nện của mặt nước và biến mất.
Cậu vội vàng ngồi dậy, lúc lắc đầu và nhìn đăm đăm xuống nước. Đàn cá tuế trôi theo dòng chảy như những viên đạn lơ lửng; một con nhện nước trượt qua.
![]() |
| Minh họa: Ngô Lan Hương |
Chúng màu đen và trắng, chúng màu đen và… trừ một con toàn thân đen tuyền. Cậu băng qua cầu và bắt đầu đuổi theo nó, rồi dừng lại. Lúc quay lại đôi mắt cậu mở to và trắng dã. Cậu quay trở về và bắt đầu đi men con lạch xuôi theo con đường uốn lượn phía trên những gờ đất thấp. Cậu dò xét mặt nước lúc bước đi. Khúc sông nông chảy qua quãng sông đầy cải xoong đang trôi nổi và lập lờ trong dòng nước, dọc theo các mỏm đá nơi cây bông dừa mọc chen chúc. Một con tôm sông nhảy bắn vào bên dưới cái thân cây cong vòng của cây bông. Trong một vũng nước một chiếc giày không biết từ đâu ra đang ngự lên trang trọng.
Tại khúc rẽ của con lạch, ngay phía dưới nơi nó chảy bên dưới cây cầu cọc, dòng nước xoáy nhanh hơn và đáy vực kế đó rất sâu. Do con lạch đổi hướng nên lúc này mặt trời rọi vào mắt khiến cậu không nhìn xuống nước được. Cậu vội đến chỗ cây cọc, băng qua cây cầu bê tông nho nhỏ, và đi tiếp sang phía bên kia, xuyên qua một rặng mía. Lúc đến bên con lạch cậu đứng trên bờ đất cao; bên dưới cậu con nước rung mình trong một dòng chảy xiết, mặt nước uốn lượn và gợn sóng. Bên dưới nữa, trong đáy sâu màu hổ phách của vùng nước, cậu có thể nhìn ra một cái bao tải sẫm màu. Cậu chậm rãi ngồi xuống, tê tái và đau đớn. Lúc cậu vẫn đang nhìn đăm đăm, một cái đầu nhỏ lộ ra qua vết rách trên bao. Nó bị hạ xuống, nhẹ nhàng trong một thoáng, rồi, bị giật lên vì một luồng nước lạ trong dòng chảy, một hình hài nhỏ màu đen và trắng, cuộn tròn như bào thai, nổi lên. Như thể ta được chứng kiến sự chào đời dưới nước của một sinh vật biển lạ thường nào đó vậy. Nó do dự đung đưa trong một thoáng trước khi trượt khỏi tầm mắt ta trong dòng nước đang chảy xiết hơn.
Cậu không nhỏ lệ, chỉ có cảm giác trống rỗng cùng cực - mà ngay cả khi cậu chỉ ngồi yên - cũng phải từ từ nhường chỗ cho cảm giác phẫn nộ đang tăng cao. Sau đó cậu đứng dậy, kéo một cành liễu dài xuống và đập xuôi đập ngược lên đầu gối nhằm bẻ nó làm đôi, nhưng nó rất dai và đàn hồi nên sau một lúc cậu bỏ cuộc. Cậu lại xuyên qua rặng mía để trở lại con đường và đi sang phía bên kia đường nơi có hàng rào. Cậu men theo nó cho đến lúc tìm được một sợi dây lỏng trên hàng rào thép. Cậu kéo nó ra, và với vài lần uốn dây phần đầu mút gỉ sét đã đứt rời. Cậu trở lại chỗ con lạch mang theo sợi dây được uốn cong một đầu nhằm cố gắng câu cái bao tải từ đáy lạch lên. Sợi dây dài quá nên khó điều khiển, dòng nước lại cứ cuốn nó đi; mất gần nửa giờ sau cậu mới móc dây được vào bao. Cậu cuộn sợi dây vào tay, khi cậu kéo dây thì cái bao theo sau, nặng nề và chậm chạp. Cậu kéo nó tới bờ lạch và cẩn trọng nhấc nó lên nền đất. Nó đã rữa và thối. Lúc cậu mở bao chỉ thấy có một con chó con bên trong, con đen tuyền, nằm cuộn tròn giữa hai viên gạch với một con tôm to đã đào lỗ được nửa đường trên chiếc bụng mềm ướt của nó. Cậu móc đầu dây vào con tôm và kéo nó ra, lôi theo sau thứ ống tuýp của bộ lòng xanh xanh đã thối rữa. Cậu lấy mũi giày cố đẩy chúng vào lại bên trong. Cậu lại trở ra đường và dò xét các con mương kế bên cho đến khi tìm được một cái túi giấy, cậu mang nó về và nhón những ngón tay dè dặt cậu kéo cái xác bé nhỏ vào đó. Rồi cậu đẩy nó qua bụi rậm cho đến khi ra đồng, băng qua cánh đồng theo đường chéo, và tiến vào khu rừng chỉ cách đường ray xe goòng chừng vài thước. Cậu bước lên đường ray vừa đi vừa đung đưa chiếc túi nhỏ bẩn thỉu. Bước chân cậu mê man và máy móc, đôi mắt cậu vô hồn.
Lúc cậu về đến nhà con Suzy lon ton băng ngang khoảng sân đón cậu. Cậu tránh mặt nó và vào nhà qua cửa sau, cẩn thận đóng cửa sau lưng. Trong bếp cậu dừng chân nghe ngóng. Ngôi nhà yên ắng; cậu nghe được tiếng tim mình đập dồn. Một thứ nắng không ấm trải kín tấm kính phía trên bồn rửa. Rồi cậu nghe thấy tiếng con bé ho - con bé lúc nào cũng ho - và lắng tai nghe kĩ hơn. Con bé đang ở trong phòng ngủ. Cậu đứng ở cửa nghe ngóng, rồi khẽ khàng mở hé cửa ra. Các rèm cửa đang khép, và khi mặt trời hắt nắng thì chúng ướt đẫm ánh sáng màu cam nhạt và thẩm thấu ra khắp bầu không khí, không khí tràn ngập mùi nước tiểu thoang thoảng của em bé, mùi của chăn nệm, hôi hám và thân mật một cách khoan khoái lạ kì.
Cậu đứng trên ngưỡng cửa trong một phút bất tận. Cái thúc đẩy hành động tiếp theo của cậu là phần đỉnh điểm của hết thảy kế hoạch đã được cậu vạch ra phân nửa mà không chỉ bắt đầu vào lúc đi bộ từ con lạch về mà là vào ngay thời điểm đứa bé ấy chào đời. Có vô số ý nghĩ từng bị bác bỏ, bị sửa đổi, hoặc bị đè nén len lỏi đâu đây trong nội tâm sâu kín của tâm trí cậu đang vùng vẫy và hợp lại. Cậu nhấc chiếc bao tải hôi thối lên và ngắm nghía. Nó ướt sũng và qua vết rách bờm xờm dưới đáy bao, những sợi lông đen nho nhỏ thò ra như chân nhện. Sau đó, suy nghĩ hồi lâu, cậu không có vẻ gì là đã băng ngang phòng đến bên chiếc giường cũi kê trong góc, vén tấm chăn mềm mại màu lam lên, và bên cạnh hình hài đang say ngủ, nhỏ nhắn và nhăn nhúm, cậu đặt con chó con xuống rồi đắp chăn lên cả hai. Cậu mơ hồ nhớ mình đã nhìn thấy chất dịch dạ dày xanh nhờ nhờ rỉ ra vải trải giường lúc tấm chăn rơi xuống.
Lúc này cậu đang đợi ông ấy về nhà; bây giờ đã gần đến giờ ăn tối. Cậu đang ngồi trên giường của mình, tâm trí cậu là một bức tường không chiều kích mà trên đó chỉ có một thứ hoa văn xám xịt, xoắn vặn như một dấu vân tay khổng lồ, chậm chạp dao động. Mẹ cậu lặng lẽ vào phòng một lần, nhưng đứa bé không tỉnh dậy. Cậu đang đợi ông ấy về nhà.
C.M
(TCSH422/04-2024)
Tải mã QRCode
AKUTAHAVA RIUNÔXKÊ (Nhật Bản)
Hôm ấy một mình Đức Phật đi dạo ven bờ đầm trên Niết bàn.
Cả đầm toàn là sen trắng trong như ngọc, và nhị sen vàng tỏa ra xung quanh một mùi thơm ngọt, ngạt ngào.
L.T.S: LANGSTON HUGHES (1902 - 1967), nhà văn, nhà thơ, nhà viết kịch và dịch giả người Mỹ da đen, sinh ở Joplin, bang Missouri. Ông đã xuất bản 35 tác phẩm. Thơ của ông đã được dịch sang tiếng Việt. Những tác phẩm của ông phần lớn tập trung chủ đề đấu tranh cho quyền bình đẳng giữa người da đen và da trắng tại nước Mỹ. Truyện sau đây dịch trong tập truyện "The ways of white Folks".
Hình ảnh rồng Việt Nam từ xa xưa đã sớm đi vào nghệ thuật với nhiều loại hình khác nhau. Trong lịch sử nghệ thuật điêu khắc, nhiều công trình điêu khắc lấy con rồng làm đề tài đã trở thành những tác phẩm có giá trị văn hóa, trong đó không ít công trình điêu khắc đá được xem như là những tác phẩm mang dấu ấn phong cách nghệ thuật của một thời kỳ.
Nhà văn Phillip Van Doren Stern sinh ra tại Wyalusing, bang Pennsylvania và lớn lên tại Brooklyn, New York. The Greatest Gift là truyện ngắn nổi tiếng nhất của ông. Phillip Van Doren Stern đã từng gửi câu truyện này đi nhiều báo và tạp chí nhưng không nơi nào nhận đăng. Cuối cùng ông cho in truyện lên 200 tấm thiệp năm mới và phát cho bạn bè.
LTS: Butribabu tên thật là Sivarazu Vencata Xubarao (1916 - 1967) là một nhà văn lớn của Ấn Độ, tác giả của tiểu thuyết nổi tiếng “Còn lại gì?” và 10 tập truyện ngắn trong đó tập đầu tay “Năm truyện ngắn” xuất bản năm 1933. Ông sáng tác bằng tiếng Telugu truyện ngắn “Khasima Bi” in trong tập “Tuyển tập sáng tác của các nhà văn Nam Á” của nhà xuất bản “Văn học”, Mat-xcơva, 1980.
LGT: R. Grossmith sinh năm 1954 ở Dagenham thuộc London, nhận bằng tiến sĩ với luận án về Nghệ thuật tiểu thuyết của Vladimir Nabokov và hiện sống ở Glasgow, nơi ông làm việc biên soạn tự điển.
L.T.S: Nikom Rayawa là nhà văn trẻ sinh ở một làng phía Bắc thủ đô Băng Cốc. Nikom Rayawa thuộc phái văn học "Trăng lưỡi liềm" có xu hướng nhân bản và tự do.
Lỗ Tấn là nhà văn hiện đại Trung Quốc rất đỗi quen thuộc với bạn đọc Việt Nam. Ông quê ở Thiệu Hưng, Triết Giang, sinh ngày 25 tháng 9 năm 1881, mất ngày 19 tháng 10 năm 1936. Năm nay là năm kỉ niệm 130 năm ngày sinh và 75 năm ngày mất của ông.
William Butler Yeats (1865 - 1939) là nhà thơ và kịch tác gia lớn của Ailen, sinh ở Dublin. Cùng với T.Eliot, Yeats đã cách tân nền thơ Anh và Ailen. Được giải thưởng Nôbel năm 1923. Sáng lập Hội Văn học Ailen và Nhà hát Quốc gia Ailen.
LGT: O. Henry là bút danh của William Sydney Porter. Ông sinh năm 1862 và mất năm 1910, cùng năm qua đời của Mark Twain.
LGT: James Ross là nhà văn đương đại của Anh. Ông là một trong số những thành viên của trường phái Không Tưởng. James sống trong một căn nhà cũ, viết bên một chiếc bàn cũ bằng một chiếc máy tính xách tay giá rẻ, theo như lời ông nói. James Ross bắt đầu cầm bút từ năm 1996, cho đến nay đã viết hàng loạt truyện ngắn mang phong cách riêng, đậm chất huyền ảo và giả tưởng.
Mia Couto sinh ngày 5 tháng 7.1955 tại Beira, Mozambique. Ông là nhà văn Mozambique nổi tiếng. Các tác phẩm của ông viết bằng tiếng Bồ Đào Nha, đã được dịch rộng rãi ra nhiều thứ tiếng và được in ở trên 22 quốc gia. Truyện ngắn dưới đây được David Brookshaw dịch từ tiếng Bồ Đào Nha sang tiếng Anh. Bản tiếng Việt theo David Brookshaw.
LGT: Ngày nay, khi văn học dần rời xa đại tự sự mà thay vào đó là sự lên ngôi của tiểu tự sự thì truyện cực ngắn là một trong những thể loại được người sáng tạo và người đồng sáng tạo quan tâm. Tuy nhiên cho đến nay thì dường như vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất cho cái gọi là “truyện cực ngắn”. Truyện cực ngắn còn được biết đến dưới nhiều dạng thức định danh như “truyện chớp” (flash fiction), “truyện bất ngờ” (sudden fiction), “vi truyện” (micro fiction)...
L.T.S: Kurt Kusenberg (1904-1983), sinh ở Göteborg, Thụy Điển, mất tại Đức. Giám đốc văn học suốt ba mươi năm tại một nhà xuất bản trong nước và chủ biên một loại sách viết riêng về các triết gia, bác học và nhà văn. Tác giả của nhiều truyện kể mang màu sắc kỳ dị.
L.T.S: Miguel Rojas Mix, sinh năm 1934 tại thủ đô Chi-lê. Giám đốc viện Nghệ thuật châu Mỹ La tinh thủ đô San Chiago. Bỏ Chi lê sang Pháp dạy học ở Đại học Paris VIII. Viết tiểu luận, truyện ngắn, sách thiếu nhi. “Bàn tay Chúa” là truyện ngắn ác liệt tố giác chính quyền Pi-nô-chê khát máu tại Chi-lê chỉ có thể gây ra khổ đau, chết chóc, ly hương và quật khởi cho nhân dân xứ này. Truyện mang ý hướng ngụ ngôn, gợi ý, gợi hình, vừa có nét thần kỳ mà vẫn không xa hiện thực.
LTS: Valentin Rasputin sinh năm 1937 tại một ngôi làng ở Siberia, Ust-Uda. Tốt nghiệp xong đại học Irkutsk, ông làm việc cho các tờ báo ở Irkutsk và ở Krasnoyarsk trong nhiều năm. Truyện ngắn đầu tiên của ông xuất hiện năm 1961. Truyện “Tiền bạc cho Ma-ria” đem lại danh tiếng cho ông. Với những truyện xuất hiện sau đó như “Kỳ hạn cuối cùng”, “Hãy sống và nhớ đến tôi”, “Vĩnh biệt Ma-chi-ô-ra”, ông được khẳng định như một trong những nhà văn Xô-viết lớn nhất. Truyện ngắn dưới đây xuất hiện trong một tập truyện mới của ông, tập truyện có đề là “Cuộc sống và tình yêu”.
LGT: Hồ Thích là nhà văn, học giả lớn của Trung Quốc. Truyện cực ngắn này đã rạch đôi hai nền văn minh với hai lối sống, hai cách tư duy. Với nền văn minh nông nghiệp, xã hội tiểu nông, mọi thứ chỉ cần tương đối. Đem lối sống, cách tư duy ấy sang nền văn minh đại công nghiệp thì trật khớp hết, và… chết.
PHRÊ-ĐRÍCH SI-LAN-ĐE- Tất cả đứng dậy, - viên mõ tòa nói với giọng đều đều.Ông chánh án bước vào, kéo ghế lại gần rồi ngồi xuống.- Tất cả ngồi xuống, - viên mõ tòa làm xong phận sự, chẳng còn buồn để ý đến những gì diễn ra trước mắt.
A-ri-en Đot-phơ-man sinh năm 1942 tại Chi-lê. Giáo sư dạy thuyết giảng tại Đại học Văn thuộc Viện Đại học Chi-lê, ông phải rời bỏ Chi-lê vào năm 1973, viết truyện ngắn, tiểu luận và thơ.Truyện ngắn Viên thuốc bọc đường viết theo kỹ thuật chen lồng đối thoại và chen lồng hiện tại và tương lai.Nội dung truyện vạch trần sự vật lộn miếng ăn tại Hoa Kỳ khiến cho lắm kẻ tha phương lao vào một số nghề nghiệp nguy hiểm, khốn nạn.
An-ghiêc-đax Pô-xi-ux, sinh năm 1930, tại làng Ketubai - ông tốt nghiệp Khoa Ngữ văn Litva ở Học viện Giáo dục Klaipeda - Ông viết văn vào năm 1953, tác giả của nhiều truyện ký, đồng thời ông còn là nhà văn viết nhiều cho tuổi thơ.