Một vụ đuối nước

08:24 24/05/2024

C. J. MCCARTHY

Cormac McCarthy là nhà văn người Mỹ, ông nổi tiếng với phong cách viết bạo liệt và u ám. McCarthy chuyên viết tiểu thuyết và được giới hàn lâm đánh giá cao ở ngay tiểu thuyết đầu tiên, The Orchard Keeper (1965), nhưng ông không thành công với độc giả đại chúng.

Nhà văn Cormac McCarthy năm 1973 - Ảnh: wiki

Mãi đến năm 1992, sự ra mắt của tiểu thuyết All the Pretty Horses mới mang về cho ông nhiều giải thưởng từ giới chuyên môn và sự đón nhận của số đông đi chúng. Tác phẩm thành công nhất của ông là tiểu thuyết The Road (2006) đã được chuyển thể thành phim. Năm 2003, McCarthy được nhà phê bình Harold Bloom đánh giá là một trong bốn nhà văn vĩ đại còn sống của nước Mỹ, bên cạnh Don DeLillo, Thomas Pynchon, và Philip Roth. Ngày 13/6/2023, Cormac McCarthy qua đời tại nhà riêng ở Mỹ, hưởng thọ 89 tuổi.

Một vụ đuối nước là một trong số truyện ngắn hiếm hoi mà McCarthy từng viết vào thời còn trẻ. Truyện ngắn này ra mắt năm 1960 trong tạp chí The Phoenix. Tuy là tác phẩm ở quãng thời gian sớm sủa trong sự nghiệp viết của McCarthy nhưng truyện ngắn này rất đậm đà phong vị của ông: mơ hồ, tăm tối, u uất, trần trụi, chủ đề xoay quanh sự sống và cái chết. Văn phong đặc trưng polysyndeton (hành động dùng rất ít dấu phẩy và thay vào đó bằng các liên từ) cũng bắt đầu được ông áp dụng ở đây.

Ni dung câu chuyện tương đối đơn giản, một cậu bé dường như bị “ra rìa” khi cha mẹ sinh em gái, cậu có một con chó cái và một đàn chó con, một ngày nọ cậu phát hiện xác một chú chó con dưới con lạch gần nhà, nó bị cho vào bao tải cùng với hai viên gạch. Thế rồi một loạt những miêu tả mơ hồ và tăm tối diễn ra, có rất nhiều cách để đọc hiểu và diễn giải câu chuyện này. Sự thật là gì, chúng ta không thể biết chắc, và đó là cái hay của sự mơ hồ trong tác phẩm của Cormac McCarthy.

Nguyễn Tuấn Linh dịch và giới thiệu


Một vụ đuối nước

 

Ngay khi cánh cửa lưới đóng sầm lại, cậu đi vòng ra phía góc nhà để khuất mắt người ta, rồi chạy đến túp lều chứa củi và đặt nó xuống giữa bản thân mình và ngôi nhà. Đứa bé đã chợp mắt. Cậu không định đi đâu xa. Dưới tán cây dương hòe cậu đứng nhìn quanh quất. Vài con ong bắp cày bay qua bay lại trong bóng râm dưới mái chìa. Đi vòng ra phía sau túp lều và xuyên qua chiếc cổng đang chia đôi cái hàng rào lớn thiếu tay người chăm sóc, cậu bước vào lô đất dẫn đến nếp nhà ngang cũ kĩ. Cậu cẩn thận mở cánh cửa mục nát; các tấm ván vừa cong vênh vừa nhẵn mịn vừa được phủ một lớp nước bóng màu xanh nhạt. Một thanh gỗ ở lớp phía sau đã biến mất và một vệt sáng mỏng xiên xiên chiếu vào. Trên sàn nhà vẫn còn cái áo khoác cũ mà cậu mang xuống đây cho con Suzy, sau đó cậu đi theo nó, ngày đầu tiên mà nó trông có vẻ gầy gò và vẫy đuôi phấn khích, đầu vú của nó không còn xệ xuống tận đất nữa. Cái áo khoác bị bám chằng chéo những sợi lông trắng và mùi sữa chua thoang thoảng của đàn chó con vẫn còn vương vất. Chúng đã được gửi đến nhà chủ mới vào tuần trước. Cậu bước vào nhìn xuống cái hố và khi mắt đã quen với bóng tối bên dưới là cậu có thể thấy lờ mờ hai hình tam giác nho nhỏ màu đỏ nằm đấu đỉnh với nhau. Bên mé gót chân cậu có một con dế đang nằm nghỉ ngơi trên lớp đất mùn, râu nó xoay xoay theo những vòng cung ngẫu nhiên. Cậu thấy nó và thò tay bắt, nhưng nó nhảy lên, va phải mặt ghế và rơi trở xuống sàn. Cậu mau mắn giẫm lên nó, rồi nhặt nó lên. Nó vẫn còn đạp đạp một chân theo nhịp điệu chầm chậm vô thức; một chất lỏng đặc màu trắng rỉ ra từ nó. Cậu thả nó xuống cái hố và khom lưng quan sát. Cậu có thể thấy nó đang nhẹ nhàng lắc lư trong tấm mạng đàn hồi. Con góa phụ áo đen len lỏi tiến về phía nó, rồi khi đến nơi nó bắt đầu lấy chân làm chuyển động dệt tơ quanh con mồi như thể đang thực hiện một nghi thức tử thần nào đó. Chẳng mấy chốc cái chân của con dế thôi đạp. Thế rồi cậu hơi chúi người về phía trước, phóng ra từ lưỡi một giọt nước bọt lớn; nó lướt qua đám lá hình lược bên dưới, chuyển dần từ màu trắng sang xám trong bóng tối càng lúc càng sẫm lại. Con nhện hóa đá. Cậu nhắm mục tiêu cho chuẩn, và cục nước bọt thứ hai bắn trúng phóc, nhấn chìm cả hai đối tượng. Con nhện bỏ nạn nhân của nó lại mà chạy vào những hốc tối của con đường hầm mốc meo làm kéo theo một chuỗi nước dãi mảnh đang treo thành những vòng cung nhầy nhụa giữa các sợi tơ đan của tấm mạng nhện.

Sau đó cậu đi ra ngoài, cẩn thận khép cánh cửa xập xệ vào. Mặt trời đã treo cao trên những cây sồi ở đằng xa ngôi nhà. Vài con giẻ cùi màu lam thấp thoáng giữa tán lá. Cậu chần chừ một thoáng, rồi rẽ vào đường mòn dẫn đến phía góc của lô đất. Tại đây cậu băng qua chỗ đất sụt trong hàng rào bằng cây kim ngân và bắt đầu đi vào khu rừng. Không lâu sau cậu bắt gặp một đường ray xe goòng cũ chạy quanh co trong thanh bình và sáng lốm đốm nhờ ánh nắng đầu ngày chiếu xuyên qua tán cây đẫm sương. Cậu đi theo con đường dốc xuống, lê chân qua đám lá, làm lật ngửa mặt dưới còn ướt đẫm của chúng. Cậu dừng lại một lần, tước một nắm thuốc lá thỏ, nhét vào miệng và lê bước xuống đường, miệng khạc nhổ, đôi vai gầy nhấp nhô trong khoái chí.

Con đường nhấp nhô và khúc khuỷu dốc xuống cho đến khi dẫn ra bìa rừng nơi nó chạy thẳng trước khi mất dấu trong cánh đồng kêu rì rào mà phía bên kia là hàng liễu và cây bông trải dài để đánh dấu hướng đi của con lạch. Cậu vẫn cảm nhận được vết lún dưới chân khi lội qua đồng cỏ cao đến đầu gối hoặc len giữa những bụi mâm xôi mọc thưa thớt. Rồi cậu vén tấm màn liễu, màu chanh tươi và vàng kim hắt lên lúc chúng hứng ánh nắng trên con đường cậu đi. Cậu nghe được tiếng róc rách lờ mờ ngay từ lúc ấy, trước cả khi cậu bước ra khỏi rặng liễu nơi cây cầu bắc ngang, thấp thoáng sau tấm mạng ren màu xanh lục, sóng nước hình rẽ quạt nằm ở phía bên kia nơi mặt trời ló rạng và nhảy múa trên mặt nước lăn tăn như những con ong bạc.

Cậu đi lên cây cầu nhỏ, bước thận trọng. Những tấm ván cong vênh đã bị nứt toác và phong hóa, bạc phếch thành thứ màu xám trông gần như kim loại. Cây cầu bị oằn xuống đầy nguy hiểm ở phần giữa như thể một con la đang chở hàng quá sức. Cậu ngồi xuống những phiến gỗ ấm áp, rồi nằm ép bụng xuống mà nhìn qua khe hở xuống mặt nước bên dưới. Con lạch nước nông và trong vắt. Đáy lạch có màu lốm đốm nâu và vàng như da báo gấm, nơi ấy mặt trời chiếu xuyên qua vòm lá và cành cây bên trên. Đàn cá tuế bơi chênh chếch theo dòng chảy chầm chậm. Qua tấm kính bằng nước cậu quan sát những cái bóng tí hon lướt ngang lưng con báo trong tĩnh lặng và dập dờn như đường bay của loài chim. Cậu tìm được vài viên sỏi trắng nhỏ nằm cạnh khuỷu tay và thả chúng xuống đàn cá tuế; chúng xoay xoay và tỏa sáng chầm chậm lúc rơi xuống đáy kéo theo đám bọt nước li ti xoáy lên thành hình tua rua trước khi nổi hẳn lên và biến mất. Đàn cá tuế lao tới săm soi. Cậu khoanh tay đặt dưới cằm. Mặt trời sưởi ấm và vuốt ve lưng cậu qua chiếc áo sơ mi flannel.

Thế rồi theo dòng chảy hiền hòa trôi đến từ phía dưới cầu một chú chó nhỏ, lăn và xóc dưới đáy con lạch, xoay tròn không trọng lượng trong làn nước chảy chậm. Cậu nhìn với vẻ khó hiểu. Nó từ từ xoay lại để nhìn trân trối vào cậu bằng đôi mắt vô hồn, quay cái bụng trắng bệch về phía ánh nắng đang dịu dàng khuếch tán, chân nó cứng đờ và duỗi thẳng trong tư thế chống cự đến vĩnh hằng. Nó cứ trôi mãi, ẩn mình giây lát trong một dải bóng râm, trồi lên, rồi trượt xuống bên dưới lớp bạc nện của mặt nước và biến mất.

Cậu vội vàng ngồi dậy, lúc lắc đầu và nhìn đăm đăm xuống nước. Đàn cá tuế trôi theo dòng chảy như những viên đạn lơ lửng; một con nhện nước trượt qua.

Minh họa: Ngô Lan Hương

 

Chúng màu đen và trắng, chúng màu đen và… trừ một con toàn thân đen tuyền. Cậu băng qua cầu và bắt đầu đuổi theo nó, rồi dừng lại. Lúc quay lại đôi mắt cậu mở to và trắng dã. Cậu quay trở về và bắt đầu đi men con lạch xuôi theo con đường uốn lượn phía trên những gờ đất thấp. Cậu dò xét mặt nước lúc bước đi. Khúc sông nông chảy qua quãng sông đầy cải xoong đang trôi nổi và lập lờ trong dòng nước, dọc theo các mỏm đá nơi cây bông dừa mọc chen chúc. Một con tôm sông nhảy bắn vào bên dưới cái thân cây cong vòng của cây bông. Trong một vũng nước một chiếc giày không biết từ đâu ra đang ngự lên trang trọng.

Tại khúc rẽ của con lạch, ngay phía dưới nơi nó chảy bên dưới cây cầu cọc, dòng nước xoáy nhanh hơn và đáy vực kế đó rất sâu. Do con lạch đổi hướng nên lúc này mặt trời rọi vào mắt khiến cậu không nhìn xuống nước được. Cậu vội đến chỗ cây cọc, băng qua cây cầu bê tông nho nhỏ, và đi tiếp sang phía bên kia, xuyên qua một rặng mía. Lúc đến bên con lạch cậu đứng trên bờ đất cao; bên dưới cậu con nước rung mình trong một dòng chảy xiết, mặt nước uốn lượn và gợn sóng. Bên dưới nữa, trong đáy sâu màu hổ phách của vùng nước, cậu có thể nhìn ra một cái bao tải sẫm màu. Cậu chậm rãi ngồi xuống, tê tái và đau đớn. Lúc cậu vẫn đang nhìn đăm đăm, một cái đầu nhỏ lộ ra qua vết rách trên bao. Nó bị hạ xuống, nhẹ nhàng trong một thoáng, rồi, bị giật lên vì một luồng nước lạ trong dòng chảy, một hình hài nhỏ màu đen và trắng, cuộn tròn như bào thai, nổi lên. Như thể ta được chứng kiến sự chào đời dưới nước của một sinh vật biển lạ thường nào đó vậy. Nó do dự đung đưa trong một thoáng trước khi trượt khỏi tầm mắt ta trong dòng nước đang chảy xiết hơn.

Cậu không nhỏ lệ, chỉ có cảm giác trống rỗng cùng cực - mà ngay cả khi cậu chỉ ngồi yên - cũng phải từ từ nhường chỗ cho cảm giác phẫn nộ đang tăng cao. Sau đó cậu đứng dậy, kéo một cành liễu dài xuống và đập xuôi đập ngược lên đầu gối nhằm bẻ nó làm đôi, nhưng nó rất dai và đàn hồi nên sau một lúc cậu bỏ cuộc. Cậu lại xuyên qua rặng mía để trở lại con đường và đi sang phía bên kia đường nơi có hàng rào. Cậu men theo nó cho đến lúc tìm được một sợi dây lỏng trên hàng rào thép. Cậu kéo nó ra, và với vài lần uốn dây phần đầu mút gỉ sét đã đứt rời. Cậu trở lại chỗ con lạch mang theo sợi dây được uốn cong một đầu nhằm cố gắng câu cái bao tải từ đáy lạch lên. Sợi dây dài quá nên khó điều khiển, dòng nước lại cứ cuốn nó đi; mất gần nửa giờ sau cậu mới móc dây được vào bao. Cậu cuộn sợi dây vào tay, khi cậu kéo dây thì cái bao theo sau, nặng nề và chậm chạp. Cậu kéo nó tới bờ lạch và cẩn trọng nhấc nó lên nền đất. Nó đã rữa và thối. Lúc cậu mở bao chỉ thấy có một con chó con bên trong, con đen tuyền, nằm cuộn tròn giữa hai viên gạch với một con tôm to đã đào lỗ được nửa đường trên chiếc bụng mềm ướt của nó. Cậu móc đầu dây vào con tôm và kéo nó ra, lôi theo sau thứ ống tuýp của bộ lòng xanh xanh đã thối rữa. Cậu lấy mũi giày cố đẩy chúng vào lại bên trong. Cậu lại trở ra đường và dò xét các con mương kế bên cho đến khi tìm được một cái túi giấy, cậu mang nó về và nhón những ngón tay dè dặt cậu kéo cái xác bé nhỏ vào đó. Rồi cậu đẩy nó qua bụi rậm cho đến khi ra đồng, băng qua cánh đồng theo đường chéo, và tiến vào khu rừng chỉ cách đường ray xe goòng chừng vài thước. Cậu bước lên đường ray vừa đi vừa đung đưa chiếc túi nhỏ bẩn thỉu. Bước chân cậu mê man và máy móc, đôi mắt cậu vô hồn.

Lúc cậu về đến nhà con Suzy lon ton băng ngang khoảng sân đón cậu. Cậu tránh mặt nó và vào nhà qua cửa sau, cẩn thận đóng cửa sau lưng. Trong bếp cậu dừng chân nghe ngóng. Ngôi nhà yên ắng; cậu nghe được tiếng tim mình đập dồn. Một thứ nắng không ấm trải kín tấm kính phía trên bồn rửa. Rồi cậu nghe thấy tiếng con bé ho - con bé lúc nào cũng ho - và lắng tai nghe kĩ hơn. Con bé đang ở trong phòng ngủ. Cậu đứng ở cửa nghe ngóng, rồi khẽ khàng mở hé cửa ra. Các rèm cửa đang khép, và khi mặt trời hắt nắng thì chúng ướt đẫm ánh sáng màu cam nhạt và thẩm thấu ra khắp bầu không khí, không khí tràn ngập mùi nước tiểu thoang thoảng của em bé, mùi của chăn nệm, hôi hám và thân mật một cách khoan khoái lạ kì.

Cậu đứng trên ngưỡng cửa trong một phút bất tận. Cái thúc đẩy hành động tiếp theo của cậu là phần đỉnh điểm của hết thảy kế hoạch đã được cậu vạch ra phân nửa mà không chỉ bắt đầu vào lúc đi bộ từ con lạch về mà là vào ngay thời điểm đứa bé ấy chào đời. Có vô số ý nghĩ từng bị bác bỏ, bị sửa đổi, hoặc bị đè nén len lỏi đâu đây trong nội tâm sâu kín của tâm trí cậu đang vùng vẫy và hợp lại. Cậu nhấc chiếc bao tải hôi thối lên và ngắm nghía. Nó ướt sũng và qua vết rách bờm xờm dưới đáy bao, những sợi lông đen nho nhỏ thò ra như chân nhện. Sau đó, suy nghĩ hồi lâu, cậu không có vẻ gì là đã băng ngang phòng đến bên chiếc giường cũi kê trong góc, vén tấm chăn mềm mại màu lam lên, và bên cạnh hình hài đang say ngủ, nhỏ nhắn và nhăn nhúm, cậu đặt con chó con xuống rồi đắp chăn lên cả hai. Cậu mơ hồ nhớ mình đã nhìn thấy chất dịch dạ dày xanh nhờ nhờ rỉ ra vải trải giường lúc tấm chăn rơi xuống.

Lúc này cậu đang đợi ông ấy về nhà; bây giờ đã gần đến giờ ăn tối. Cậu đang ngồi trên giường của mình, tâm trí cậu là một bức tường không chiều kích mà trên đó chỉ có một thứ hoa văn xám xịt, xoắn vặn như một dấu vân tay khổng lồ, chậm chạp dao động. Mẹ cậu lặng lẽ vào phòng một lần, nhưng đứa bé không tỉnh dậy. Cậu đang đợi ông ấy về nhà.

C.M
(TCSH422/04-2024)

 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • LTS: Mario Bendetti sinh tại Paso de los Toros (Tacuarembó ) ngày 14 tháng 9 năm 1920. Ông theo học tại trường tiểu học tiếng Đức ở Montevideo và trường trung học Miranda, đã từng làm nhiều nghề như nhân viên bán hàng, tốc kí, kế toán, viên chức nhà nước và phóng viên. Từ năm 1938 đến 1941 ông sống chủ yếu ở Buenos Aires . Năm 1945, khi trở về Montevideo, ông viết bài cho tuần báo nổi tiếng Marcha, qua đó trở thành phóng viên bên cạnh Carlos Quijano và rồi trở thành một thành viên trong ê-kíp của ông này cho tới tận năm 1974 khi tuần báo ngừng xuất bản.Năm 1973, vì lí do chính trị, ông phải rời bỏ tổ quốc,bắt đầu cuộc sống lưu vong kéo dài mười hai năm ở những quốc gia: Ác-hen-ti- na và Tây Ban Nha. Quãng thời gian này đã để lại những dấu ấn vô cùng sâu sắc trong cuộc đời ông cũng như trong văn nghiệp.

  • YUKIO MISHIMA (Nhật Bản)YUKIO MISHIMA tên thật là HIRAOKA KIMITAKE (1925-1970). Sinh tại Tokyo.Tốt nghiệp Đại học Tổng hợp Tokyo . Nhà văn, kịch tác gia, đạo diễn sân khấu và điện ảnh, diễn viên.Năm 16 tuổi đã xuất bản truyện vừa lãng mạn Khu rừng nở hoa. Tiểu thuyết Lời thú tội của chiếc mặt nạ ra năm 1949 đã khẳng định tên tuổi của nhà văn trẻ tài năng và trở thành tác phẩm được đánh giá là kinh điển của nền văn học Nhật Bản.

  • KOMASHU SAKIO (Nhật Bản)Sinh 28/1/1931 tại Osaka (Nhật Bản). Nhà văn chuyên viết truyện khoa học giả tưởng nổi tiếng của Nhật Bản.Tốt nghiệp Đại học Tổng hợp Kyoto , chuyên ngành Văn học Italia.Từ năm 1957 là phóng viên Đài Phát thanh Osaka và viết cho một số các báo. Năm 1961 chiến thắng trong cuộc thi truyện ngắn giả tưởng xuất sắc do tạp chí "SF Magasines" tổ chức.Tác phẩm của Komatsu đã được dịch ra rất nhiều thứ tiếng trên thế giới.

  • S. MROZEK (Ba Lan)Có lần tôi bắt gặp một con chó ác bụng đang rượt đuổi một con mèo. Bởi tôi là người yêu động vật nên tôi bèn vớ ngay một cục đá to sụ quẳng vào con chó khiến nó ngã lăn quay, nằm đứ đừ một hồi lâu. Chú mèo nhỏ không nhà, con vật bé xíu nom mệt phờ râu. Không chút do dự - tôi cho nó nương nhờ. Đây quả là một con mèo đẹp mã, lông mịn màng, mắt long lanh. Tôi đem nhốt nó vào trong nhà, đoạn bỏ đi chơi bời trác táng.

  • KITA MORIO (Nhật Bản)Kita Morio (sinh năm 1927) là nhà văn thuộc thế hệ hậu chiến của Nhật Bản. Tốt nghiệp Đại học Y. Năm 1960 được trao giải thưởng mang tên Akutagawa với truyện ngắn Trong bóng tối đêm, cốt truyện xảy ra trong một bệnh viện tâm thần ở Đức thời kì Chiến Tranh Thế Giới thứ II. Nổi tiếng với các tác phẩm giả tưởng khoa học và chống chiến tranh.

  • SINCLAIR LEWISLGT: SINCLAIR LEWIS (1885 - 1951, giải thưởng Nobel 1930)Ông là tiểu thuyết gia, người viết truyện ngắn có tiếng và nhà viết phê bình có uy tín ở Mỹ.

  • BRUNO LESSINGLGT: Bruno Lessing (1870-1940) sinh tại New York, Mỹ. Tên thật của ông là Rudolp Block nhưng ông nổi tiếng với tư cách là nhà văn chuyên viết truyện ngắn dưới bút danh Bruno Lessing. Ông là phóng viên và sau đó là biên tập viên cho nhiều tờ báo. Mô tả của Lessing về cuộc sống của người Do Thái ở New York được đánh giá cao. Truyện dưới đây được dẫn dắt một cách hấp dẫn, lý thú, làm nổi bật mối quan hệ giữa hai thế hệ: cha và con, vấn đề nhập cư, đồng hóa hay giữ bản sắc văn hóa với một giọng điệu dí dỏm.

  • JUAN JOSÉ ARREOLA (Sinh 1918, Nhà văn Mêhicô)LGT: Arreola là một nhà cách tân lớn về truyện kể. Là một người tự học tài năng, ông sở đắc một nền văn hoá rộng lớn, cũng như trải qua nhiều nghề khác nhau để kiếm sống. Arreola chủ yếu sáng tác những truyện kể ngắn, cô đúc, mỉa mai, hay bí ẩn, ưa thích cái nghịch lý và ông là một trong những bậc thầy của hình thức truyện ngắn này. Ba tuyển tập truyện ngắn của ông là Varia Invencion (1049), Confabulario (1952), Confabulario Définitivo (1087).

  • KAWABATA YASUNARI LGT: KAWABATA YASUNARI (1899 - 1972) là nhà văn đầu tiên của Nhật Bản đoạt giải thưởng Nobel văn chương (1968). Ông nổi tiếng thế giới với những tiểu thuyết như: Xứ Tuyết (1935 - 1947), Ngàn cánh hạc (1949), Tiếng rền của núi (1950), Người đẹp say ngủ (1961), Cố đô (1962)...

  • MATVEEVA ANNALGT: MATVEEVA ANNA (Sinh 1975) là một nhà văn nữ trẻ của văn học Nga đương đại tài năng đầy hứa hẹn. Đã xuất bản một số tập truyện ngắn. Truyện ngắn của cô đã được đăng trong các tạp chí lớn của Nga như Thế giới mới, Tháng Mười. Văn xuôi của cô hóm hỉnh, thể hiện sự tò mò sắc sảo trước cuộc sống và con người. Tác phẩm của cô được xem như thể hiện một số sắc thái và đặc điểm của văn xuôi hậu hiện đại Nga hiện nay. Xin trân trọng giới thiệu truyện ngắn “Con chó” dưới đây của nữ văn sĩ qua bản dịch của nữ dịch giả Đào Tuấn Ảnh.

  • YVELINE FÉRAYLTS: Monsieur le paresseux là cuốn tiểu thuyết lịch sử dày gần 300 trang của nữ văn sỹ Pháp Yveline Féray viết về Đại danh y Việt Nam Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác, do Nhà xuất bản Robert Laffont ở Paris ấn hành năm 2000. Trước đó, năm 1989 nữ văn sỹ này đã cho xuất bản ở Pháp cuốn tiểu thuyết dày 1000 trang Dix mille printemps, viết về Nguyễn Trãi - nhà chính trị, quân sự lỗi lạc; nhà thơ lớn của Việt Nam ở thế kỷ XV.

  • MARSEL SALIMOV (LB NGA)Đất nước ta quá giàu! Vì thế tôi nảy ra ý định muốn cuỗm một thứ gì đó. Những tên kẻ cắp ngày nay chả giống như trước đây. Chúng không thèm để mắt đến những thứ lặt vặt. Cả một đoàn tàu bỗng dưng biến mất tăm! Những nhà máy không thể di dời được, thế nhưng người ta lại nghĩ ra kế chiếm đoạt chúng. Nghe đồn nay mai người ta sẽ bắt đầu chia chác cả đất lẫn nước!

  • AKILE CAMPANILE(Nhà văn Italia)LTS: Số Tết này, TCSH chọn một truyện ngắn hài hước của một nhà văn Ý, có nhan đề “Ngón nghề kinh doanh”, qua bản dịch của dịch giả nổi tiếng Lê Sơn, để bạn đọc có dịp thư giãn trong dịp đầu Xuân.

  • HERMANN HESSE Tương truyền thi nhân người Tàu tên Han Fook thuở thiếu thời chỉ thao thức với một khát khao kỳ diệu là muốn học hết mọi điều và tự rèn luyện mình đến hoàn hảo trong tất cả các môn liên quan đến nghệ thuật thi ca.

  • OLGA TOKARCZUK (Nữ nhà văn Ba Lan)LGT: Nữ văn sĩ Ba Lan Olga Tokarczuk sinh năm 1962 tại Sulechow, Ba Lan. Bà là nhà văn “hậu hiện đại” và “nữ quyền”. Năm 1979  những truyện ngắn đầu tay của bà được đăng tải trên Tạp chí Thanh niên, năm 1989 những bài thơ đầu tay được in trong các tạp chí “Rađa” và “Đời sống văn học”.

  • NADINE GORDIMER ( Phi), Giải Nobel 1991LGT: Nữ văn sĩ Nadine Gordimer sinh năm 1923 tại Phi. Bà cho in truyện ngắn đầu tay năm 15 tuổi và tiếp tục nghề văn khi còn là sinh viên Đại học Wirwatersrand. Có thời kỳ sách của bà bị chế độ phân biệt chủng tộc Phi cấm đoán. N.Gordimer được trao tặng nhiều giải thưởng văn học, trong đó có giải Nobel văn chương năm 1991.

  • OLGA TOKARCZUKLGT: Trong số tháng 3 – 2007 (217), Sông Hương đã giới thiệu tới bạn đọc truyện ngắn “Người đàn bà xấu nhất hành tinh” của OLGA TOKARCZUK, một nữ văn sĩ thuộc dòng văn học nữ “hậu hiện đại Ba Lan”. Số báo này, Sông Hương xin giới thiệu tiếp truyện ngắn “Vũ nữ”. Đây là một truyện ngắn độc đáo dựa trên một leimotic “cuộc đối thoại vô hình” giữa người con gái và người cha, láy đi láy lại đến 6 lần, thể hiện cuộc chiến đấu âm thầm dữ dội, tự khẳng định mình trong nghệ thuật, chống lại sức mạnh ám ảnh của mặc cảm “bất tài”.

  • BERNARD MALAMUDLGT: Bernard Malamud sinh năm 1914 tại Brooklyn, New York, lớn lên trong thời kỳ Đại Khủng hoảng Kinh tế, là người Nga gốc Do Thái trong một gia đình bán tạp hoá. Ông đã xuất bản nhiều tiểu thuyết, truyện ngắn và được nhận nhiều giải thưởng văn học.

  • RADOI RALIN (Bungari)LGT: Đây là một truyện có ý vị sâu xa với các môtíp sự cám dỗ của quyền lực, “sự đồng loã ngây thơ” với tội ác, sự tự nhận thức và tự trừng phạt. Nhưng trên hết là sự vạch trần và tố cáo sự bịp bợm quỷ kế của giới quyền lực. Đây là một truyện ngụ ngôn mới đặc sắc. Xin trân trọng giới thiệu với bạn đọc.

  • ZACE HAMMERTON (Anh quốc)LGT: Truyện dựng chân dung của một kẻ “Sính khiếu nại” “một cách hài hước, bố của John Peters có “Thú đam mê sưu tập tem”. Cách dẫn chuyện tài tình ở cái chi tiết sự ham mê của anh với một loại tem đặc biệt không đục lỗ chiếu ứng với cái kết bất ngờ của truyện “Có của rơi vào tay mà để vuột mất”. Mời bạn đọc thưởng thức.