C. J. MCCARTHY
Cormac McCarthy là nhà văn người Mỹ, ông nổi tiếng với phong cách viết bạo liệt và u ám. McCarthy chuyên viết tiểu thuyết và được giới hàn lâm đánh giá cao ở ngay tiểu thuyết đầu tiên, The Orchard Keeper (1965), nhưng ông không thành công với độc giả đại chúng.
Nhà văn Cormac McCarthy năm 1973 - Ảnh: wiki
|
Mãi đến năm 1992, sự ra mắt của tiểu thuyết All the Pretty Horses mới mang về cho ông nhiều giải thưởng từ giới chuyên môn và sự đón nhận của số đông đại chúng. Tác phẩm thành công nhất của ông là tiểu thuyết The Road (2006) đã được chuyển thể thành phim. Năm 2003, McCarthy được nhà phê bình Harold Bloom đánh giá là một trong bốn nhà văn vĩ đại còn sống của nước Mỹ, bên cạnh Don DeLillo, Thomas Pynchon, và Philip Roth. Ngày 13/6/2023, Cormac McCarthy qua đời tại nhà riêng ở Mỹ, hưởng thọ 89 tuổi. Một vụ đuối nước là một trong số truyện ngắn hiếm hoi mà McCarthy từng viết vào thời còn trẻ. Truyện ngắn này ra mắt năm 1960 trong tạp chí The Phoenix. Tuy là tác phẩm ở quãng thời gian sớm sủa trong sự nghiệp viết của McCarthy nhưng truyện ngắn này rất đậm đà phong vị của ông: mơ hồ, tăm tối, u uất, trần trụi, chủ đề xoay quanh sự sống và cái chết. Văn phong đặc trưng polysyndeton (hành động dùng rất ít dấu phẩy và thay vào đó bằng các liên từ) cũng bắt đầu được ông áp dụng ở đây. Nội dung câu chuyện tương đối đơn giản, một cậu bé dường như bị “ra rìa” khi cha mẹ sinh em gái, cậu có một con chó cái và một đàn chó con, một ngày nọ cậu phát hiện xác một chú chó con dưới con lạch gần nhà, nó bị cho vào bao tải cùng với hai viên gạch. Thế rồi một loạt những miêu tả mơ hồ và tăm tối diễn ra, có rất nhiều cách để đọc hiểu và diễn giải câu chuyện này. Sự thật là gì, chúng ta không thể biết chắc, và đó là cái hay của sự mơ hồ trong tác phẩm của Cormac McCarthy. Nguyễn Tuấn Linh dịch và giới thiệu |
Một vụ đuối nước
Ngay khi cánh cửa lưới đóng sầm lại, cậu đi vòng ra phía góc nhà để khuất mắt người ta, rồi chạy đến túp lều chứa củi và đặt nó xuống giữa bản thân mình và ngôi nhà. Đứa bé đã chợp mắt. Cậu không định đi đâu xa. Dưới tán cây dương hòe cậu đứng nhìn quanh quất. Vài con ong bắp cày bay qua bay lại trong bóng râm dưới mái chìa. Đi vòng ra phía sau túp lều và xuyên qua chiếc cổng đang chia đôi cái hàng rào lớn thiếu tay người chăm sóc, cậu bước vào lô đất dẫn đến nếp nhà ngang cũ kĩ. Cậu cẩn thận mở cánh cửa mục nát; các tấm ván vừa cong vênh vừa nhẵn mịn vừa được phủ một lớp nước bóng màu xanh nhạt. Một thanh gỗ ở lớp phía sau đã biến mất và một vệt sáng mỏng xiên xiên chiếu vào. Trên sàn nhà vẫn còn cái áo khoác cũ mà cậu mang xuống đây cho con Suzy, sau đó cậu đi theo nó, ngày đầu tiên mà nó trông có vẻ gầy gò và vẫy đuôi phấn khích, đầu vú của nó không còn xệ xuống tận đất nữa. Cái áo khoác bị bám chằng chéo những sợi lông trắng và mùi sữa chua thoang thoảng của đàn chó con vẫn còn vương vất. Chúng đã được gửi đến nhà chủ mới vào tuần trước. Cậu bước vào nhìn xuống cái hố và khi mắt đã quen với bóng tối bên dưới là cậu có thể thấy lờ mờ hai hình tam giác nho nhỏ màu đỏ nằm đấu đỉnh với nhau. Bên mé gót chân cậu có một con dế đang nằm nghỉ ngơi trên lớp đất mùn, râu nó xoay xoay theo những vòng cung ngẫu nhiên. Cậu thấy nó và thò tay bắt, nhưng nó nhảy lên, va phải mặt ghế và rơi trở xuống sàn. Cậu mau mắn giẫm lên nó, rồi nhặt nó lên. Nó vẫn còn đạp đạp một chân theo nhịp điệu chầm chậm vô thức; một chất lỏng đặc màu trắng rỉ ra từ nó. Cậu thả nó xuống cái hố và khom lưng quan sát. Cậu có thể thấy nó đang nhẹ nhàng lắc lư trong tấm mạng đàn hồi. Con góa phụ áo đen len lỏi tiến về phía nó, rồi khi đến nơi nó bắt đầu lấy chân làm chuyển động dệt tơ quanh con mồi như thể đang thực hiện một nghi thức tử thần nào đó. Chẳng mấy chốc cái chân của con dế thôi đạp. Thế rồi cậu hơi chúi người về phía trước, phóng ra từ lưỡi một giọt nước bọt lớn; nó lướt qua đám lá hình lược bên dưới, chuyển dần từ màu trắng sang xám trong bóng tối càng lúc càng sẫm lại. Con nhện hóa đá. Cậu nhắm mục tiêu cho chuẩn, và cục nước bọt thứ hai bắn trúng phóc, nhấn chìm cả hai đối tượng. Con nhện bỏ nạn nhân của nó lại mà chạy vào những hốc tối của con đường hầm mốc meo làm kéo theo một chuỗi nước dãi mảnh đang treo thành những vòng cung nhầy nhụa giữa các sợi tơ đan của tấm mạng nhện.
Sau đó cậu đi ra ngoài, cẩn thận khép cánh cửa xập xệ vào. Mặt trời đã treo cao trên những cây sồi ở đằng xa ngôi nhà. Vài con giẻ cùi màu lam thấp thoáng giữa tán lá. Cậu chần chừ một thoáng, rồi rẽ vào đường mòn dẫn đến phía góc của lô đất. Tại đây cậu băng qua chỗ đất sụt trong hàng rào bằng cây kim ngân và bắt đầu đi vào khu rừng. Không lâu sau cậu bắt gặp một đường ray xe goòng cũ chạy quanh co trong thanh bình và sáng lốm đốm nhờ ánh nắng đầu ngày chiếu xuyên qua tán cây đẫm sương. Cậu đi theo con đường dốc xuống, lê chân qua đám lá, làm lật ngửa mặt dưới còn ướt đẫm của chúng. Cậu dừng lại một lần, tước một nắm thuốc lá thỏ, nhét vào miệng và lê bước xuống đường, miệng khạc nhổ, đôi vai gầy nhấp nhô trong khoái chí.
Con đường nhấp nhô và khúc khuỷu dốc xuống cho đến khi dẫn ra bìa rừng nơi nó chạy thẳng trước khi mất dấu trong cánh đồng kêu rì rào mà phía bên kia là hàng liễu và cây bông trải dài để đánh dấu hướng đi của con lạch. Cậu vẫn cảm nhận được vết lún dưới chân khi lội qua đồng cỏ cao đến đầu gối hoặc len giữa những bụi mâm xôi mọc thưa thớt. Rồi cậu vén tấm màn liễu, màu chanh tươi và vàng kim hắt lên lúc chúng hứng ánh nắng trên con đường cậu đi. Cậu nghe được tiếng róc rách lờ mờ ngay từ lúc ấy, trước cả khi cậu bước ra khỏi rặng liễu nơi cây cầu bắc ngang, thấp thoáng sau tấm mạng ren màu xanh lục, sóng nước hình rẽ quạt nằm ở phía bên kia nơi mặt trời ló rạng và nhảy múa trên mặt nước lăn tăn như những con ong bạc.
Cậu đi lên cây cầu nhỏ, bước thận trọng. Những tấm ván cong vênh đã bị nứt toác và phong hóa, bạc phếch thành thứ màu xám trông gần như kim loại. Cây cầu bị oằn xuống đầy nguy hiểm ở phần giữa như thể một con la đang chở hàng quá sức. Cậu ngồi xuống những phiến gỗ ấm áp, rồi nằm ép bụng xuống mà nhìn qua khe hở xuống mặt nước bên dưới. Con lạch nước nông và trong vắt. Đáy lạch có màu lốm đốm nâu và vàng như da báo gấm, nơi ấy mặt trời chiếu xuyên qua vòm lá và cành cây bên trên. Đàn cá tuế bơi chênh chếch theo dòng chảy chầm chậm. Qua tấm kính bằng nước cậu quan sát những cái bóng tí hon lướt ngang lưng con báo trong tĩnh lặng và dập dờn như đường bay của loài chim. Cậu tìm được vài viên sỏi trắng nhỏ nằm cạnh khuỷu tay và thả chúng xuống đàn cá tuế; chúng xoay xoay và tỏa sáng chầm chậm lúc rơi xuống đáy kéo theo đám bọt nước li ti xoáy lên thành hình tua rua trước khi nổi hẳn lên và biến mất. Đàn cá tuế lao tới săm soi. Cậu khoanh tay đặt dưới cằm. Mặt trời sưởi ấm và vuốt ve lưng cậu qua chiếc áo sơ mi flannel.
Thế rồi theo dòng chảy hiền hòa trôi đến từ phía dưới cầu một chú chó nhỏ, lăn và xóc dưới đáy con lạch, xoay tròn không trọng lượng trong làn nước chảy chậm. Cậu nhìn với vẻ khó hiểu. Nó từ từ xoay lại để nhìn trân trối vào cậu bằng đôi mắt vô hồn, quay cái bụng trắng bệch về phía ánh nắng đang dịu dàng khuếch tán, chân nó cứng đờ và duỗi thẳng trong tư thế chống cự đến vĩnh hằng. Nó cứ trôi mãi, ẩn mình giây lát trong một dải bóng râm, trồi lên, rồi trượt xuống bên dưới lớp bạc nện của mặt nước và biến mất.
Cậu vội vàng ngồi dậy, lúc lắc đầu và nhìn đăm đăm xuống nước. Đàn cá tuế trôi theo dòng chảy như những viên đạn lơ lửng; một con nhện nước trượt qua.
![]() |
| Minh họa: Ngô Lan Hương |
Chúng màu đen và trắng, chúng màu đen và… trừ một con toàn thân đen tuyền. Cậu băng qua cầu và bắt đầu đuổi theo nó, rồi dừng lại. Lúc quay lại đôi mắt cậu mở to và trắng dã. Cậu quay trở về và bắt đầu đi men con lạch xuôi theo con đường uốn lượn phía trên những gờ đất thấp. Cậu dò xét mặt nước lúc bước đi. Khúc sông nông chảy qua quãng sông đầy cải xoong đang trôi nổi và lập lờ trong dòng nước, dọc theo các mỏm đá nơi cây bông dừa mọc chen chúc. Một con tôm sông nhảy bắn vào bên dưới cái thân cây cong vòng của cây bông. Trong một vũng nước một chiếc giày không biết từ đâu ra đang ngự lên trang trọng.
Tại khúc rẽ của con lạch, ngay phía dưới nơi nó chảy bên dưới cây cầu cọc, dòng nước xoáy nhanh hơn và đáy vực kế đó rất sâu. Do con lạch đổi hướng nên lúc này mặt trời rọi vào mắt khiến cậu không nhìn xuống nước được. Cậu vội đến chỗ cây cọc, băng qua cây cầu bê tông nho nhỏ, và đi tiếp sang phía bên kia, xuyên qua một rặng mía. Lúc đến bên con lạch cậu đứng trên bờ đất cao; bên dưới cậu con nước rung mình trong một dòng chảy xiết, mặt nước uốn lượn và gợn sóng. Bên dưới nữa, trong đáy sâu màu hổ phách của vùng nước, cậu có thể nhìn ra một cái bao tải sẫm màu. Cậu chậm rãi ngồi xuống, tê tái và đau đớn. Lúc cậu vẫn đang nhìn đăm đăm, một cái đầu nhỏ lộ ra qua vết rách trên bao. Nó bị hạ xuống, nhẹ nhàng trong một thoáng, rồi, bị giật lên vì một luồng nước lạ trong dòng chảy, một hình hài nhỏ màu đen và trắng, cuộn tròn như bào thai, nổi lên. Như thể ta được chứng kiến sự chào đời dưới nước của một sinh vật biển lạ thường nào đó vậy. Nó do dự đung đưa trong một thoáng trước khi trượt khỏi tầm mắt ta trong dòng nước đang chảy xiết hơn.
Cậu không nhỏ lệ, chỉ có cảm giác trống rỗng cùng cực - mà ngay cả khi cậu chỉ ngồi yên - cũng phải từ từ nhường chỗ cho cảm giác phẫn nộ đang tăng cao. Sau đó cậu đứng dậy, kéo một cành liễu dài xuống và đập xuôi đập ngược lên đầu gối nhằm bẻ nó làm đôi, nhưng nó rất dai và đàn hồi nên sau một lúc cậu bỏ cuộc. Cậu lại xuyên qua rặng mía để trở lại con đường và đi sang phía bên kia đường nơi có hàng rào. Cậu men theo nó cho đến lúc tìm được một sợi dây lỏng trên hàng rào thép. Cậu kéo nó ra, và với vài lần uốn dây phần đầu mút gỉ sét đã đứt rời. Cậu trở lại chỗ con lạch mang theo sợi dây được uốn cong một đầu nhằm cố gắng câu cái bao tải từ đáy lạch lên. Sợi dây dài quá nên khó điều khiển, dòng nước lại cứ cuốn nó đi; mất gần nửa giờ sau cậu mới móc dây được vào bao. Cậu cuộn sợi dây vào tay, khi cậu kéo dây thì cái bao theo sau, nặng nề và chậm chạp. Cậu kéo nó tới bờ lạch và cẩn trọng nhấc nó lên nền đất. Nó đã rữa và thối. Lúc cậu mở bao chỉ thấy có một con chó con bên trong, con đen tuyền, nằm cuộn tròn giữa hai viên gạch với một con tôm to đã đào lỗ được nửa đường trên chiếc bụng mềm ướt của nó. Cậu móc đầu dây vào con tôm và kéo nó ra, lôi theo sau thứ ống tuýp của bộ lòng xanh xanh đã thối rữa. Cậu lấy mũi giày cố đẩy chúng vào lại bên trong. Cậu lại trở ra đường và dò xét các con mương kế bên cho đến khi tìm được một cái túi giấy, cậu mang nó về và nhón những ngón tay dè dặt cậu kéo cái xác bé nhỏ vào đó. Rồi cậu đẩy nó qua bụi rậm cho đến khi ra đồng, băng qua cánh đồng theo đường chéo, và tiến vào khu rừng chỉ cách đường ray xe goòng chừng vài thước. Cậu bước lên đường ray vừa đi vừa đung đưa chiếc túi nhỏ bẩn thỉu. Bước chân cậu mê man và máy móc, đôi mắt cậu vô hồn.
Lúc cậu về đến nhà con Suzy lon ton băng ngang khoảng sân đón cậu. Cậu tránh mặt nó và vào nhà qua cửa sau, cẩn thận đóng cửa sau lưng. Trong bếp cậu dừng chân nghe ngóng. Ngôi nhà yên ắng; cậu nghe được tiếng tim mình đập dồn. Một thứ nắng không ấm trải kín tấm kính phía trên bồn rửa. Rồi cậu nghe thấy tiếng con bé ho - con bé lúc nào cũng ho - và lắng tai nghe kĩ hơn. Con bé đang ở trong phòng ngủ. Cậu đứng ở cửa nghe ngóng, rồi khẽ khàng mở hé cửa ra. Các rèm cửa đang khép, và khi mặt trời hắt nắng thì chúng ướt đẫm ánh sáng màu cam nhạt và thẩm thấu ra khắp bầu không khí, không khí tràn ngập mùi nước tiểu thoang thoảng của em bé, mùi của chăn nệm, hôi hám và thân mật một cách khoan khoái lạ kì.
Cậu đứng trên ngưỡng cửa trong một phút bất tận. Cái thúc đẩy hành động tiếp theo của cậu là phần đỉnh điểm của hết thảy kế hoạch đã được cậu vạch ra phân nửa mà không chỉ bắt đầu vào lúc đi bộ từ con lạch về mà là vào ngay thời điểm đứa bé ấy chào đời. Có vô số ý nghĩ từng bị bác bỏ, bị sửa đổi, hoặc bị đè nén len lỏi đâu đây trong nội tâm sâu kín của tâm trí cậu đang vùng vẫy và hợp lại. Cậu nhấc chiếc bao tải hôi thối lên và ngắm nghía. Nó ướt sũng và qua vết rách bờm xờm dưới đáy bao, những sợi lông đen nho nhỏ thò ra như chân nhện. Sau đó, suy nghĩ hồi lâu, cậu không có vẻ gì là đã băng ngang phòng đến bên chiếc giường cũi kê trong góc, vén tấm chăn mềm mại màu lam lên, và bên cạnh hình hài đang say ngủ, nhỏ nhắn và nhăn nhúm, cậu đặt con chó con xuống rồi đắp chăn lên cả hai. Cậu mơ hồ nhớ mình đã nhìn thấy chất dịch dạ dày xanh nhờ nhờ rỉ ra vải trải giường lúc tấm chăn rơi xuống.
Lúc này cậu đang đợi ông ấy về nhà; bây giờ đã gần đến giờ ăn tối. Cậu đang ngồi trên giường của mình, tâm trí cậu là một bức tường không chiều kích mà trên đó chỉ có một thứ hoa văn xám xịt, xoắn vặn như một dấu vân tay khổng lồ, chậm chạp dao động. Mẹ cậu lặng lẽ vào phòng một lần, nhưng đứa bé không tỉnh dậy. Cậu đang đợi ông ấy về nhà.
C.M
(TCSH422/04-2024)
Tải mã QRCode
RAPHAEN XÔLE (Cu Ba)
Khi con người mở mắt ra (nỗi sợ hãi đã buộc chúng khép lại), thì việc đầu tiên mà anh ta trông thấy là cái hố có đường kính hai mét và một vòng tròn nhỏ màu xanh nằm cao chừng mười mét ở phía trên.
ALICE MUNRO
LGT: Alice Munro sinh ngày 10 tháng bảy năm 1931 ở Wingham, Ontario, Canada, với tên khai sinh là Alice Ann Laidlaw. Cha của bà là chủ nông trại, mẹ là cô giáo.
LGT: Romain Gary tên thật là Romain Kacew, sinh năm 1914 tại Moskva và được nuôi dưỡng bởi một người mẹ đã đặt rất nhiều kỳ vọng nơi con trai mình. Năm 14 tuổi, ông theo mẹ đến Pháp và định cư tại Nice.
IURI BONDAREP
Lần đầu tiên, chúng tôi nhìn thấy cô ta ở cạnh bàn bóng bàn ở sân hành lang nhà an dưỡng. Cô mặc chiếc áo len dài tay màu xanh, chiếc váy thật thẳng nếp, mái tóc màu sáng được cắt ngắn, và cứ mỗi lần vụt rơkét cô lại hất mạnh những sợi tóc vương khỏi trán. Những lúc như vậy, đôi mắt nâu đen của cô lại mỉm cười.
O.HENRY
Rất lâu trước khi bụng dạ lờ đờ của anh nhà quê cảm nhận được hơi xuân thì tay thị dân ấy đã biết rằng bà chúa xanh màu cỏ ấy đã lên ngôi.
LTS: Trong 24 bài trong tập Cỏ dại của nhà văn Lỗ Tấn do GS. Trần Đình Sử dịch, Sông Hương số tháng 10 năm 2011 đã giới thiệu đến bạn đọc 3 bài “Sau khi chết”, “Sự giã từ của cái bóng” và “Sự run rẩy trên đường đồi bại”. Kỳ này Sông Hương xin giới thiệu tiếp với bạn đọc 4 bài chọn lọc từ Cỏ dại.
VILIAM KHÂYNÊXEN (Đan Mạch)
Khi Lêô tỉnh giấc, trong tai anh vẫn còn vang lên những lời của ông giáo sĩ giảng đạo.
LGT: Nhà văn, nhà nghiên cứu sử học và văn hóa Mỹ Jon Holmes sinh ra tại tiểu bang Texas, Hoa Kỳ. Sau khi tốt nghiệp trường cao đẳng công nghệ Texas nơi ông từng tham gia phong trào nhân quyền và phản chiến, Jon Holmes chuyển đến New York làm việc cho một tạp chí nhiếp ảnh và phụ trách một chương trình sưu tầm các tác phẩm nghệ thuật của các nghệ sĩ hiện đại cho một đại công ty ở Bos- ton.
KNUT HAMSUN (*)
Do tôi viết. Viết vào ngày hôm nay cho trái tim vơi nhẹ đi. Tôi đã mất chỗ làm ở tiệm cà phê cùng những ngày sung sướng của tôi. Tất thảy mọi thứ, tôi đã mất hết. Và tiệm cà phê ấy là tiệm cà phê Mắcximilăng.
HENRY JAMES
(Tiếp theo Sông Hương số 290 tháng 4/2013)
Một buổi sáng (tôi cho là ở gần La Spezia) Harold đang vẽ bên gốc cây, không xa quán trọ, tôi ngồi cạnh, lớn tiếng đọc Shelley(18) - người có thể chứng tỏ được trìu mến hơn bất cứ ai.
ELENA PUCILLO TRUONG
Nỗi khắc khoải đã kéo dài từ bao lâu?
Có lẽ một năm. Quá nhiều. Lấy cớ đi vào toilette, hai tay tôi nắm chặt chiếc bồn rửa mặt trong nhà hàng như muốn bẻ làm đôi. Bao nhiêu bức bối đang dồn vào trong... bao nhiêu đau đớn... đau đến nỗi tôi không dám ngẩng mặt nhìn bóng mình trong gương.
Henry James (1843 - 1916), nhà văn Mỹ viết tiểu thuyết, truyện ngắn, phê bình văn học; đặc biệt yêu văn học và nghệ thuật Pháp. Ông định cư ở Londres, Anh từ 1876. Tác phẩm: 112 truyện ngắn (1864 - 1910), Toàn tập (1990 - 2009), nội dung thể hiện ở nhiều chủ đề như: ý thức, tâm lý, mơ mộng, tình cảm, vẻ đẹp, chân lý nghệ thuật.
FRANÇOIS CHENG
(Trích từ tác phẩm Khi những linh hồn lang thang trở về)
Dưới gầm trời này, dưới cái gầm trời rất thấp này, tất cả đều có thăng có trầm, tất cả đều bị biến đổi. Tác phẩm về Những đột biến đã chỉ rõ điều đó, tổ tiên chúng ta đã nói: “Cứ năm năm thì có chuyển biến nhỏ, cứ năm trăm năm thì có đại đột biến”.
L.T.S: Sherwood Anderson (1876 - 1941) là nhà văn lớn của Mỹ. Ông có nhiều tư tưởng tiến bộ, và thường tỏ thiện cảm với những lực lượng vô sản cách mạng Mỹ, đặc biệt là trong những năm 1931 - 1935. Truyện ngắn "Những ngọn đèn chưa thắp" (Unlighted Lamps) của ông dưới đây được liệt vào một trong những chuyện ngắn xuất sắc trong nền văn học Mỹ từ trước đến nay. Câu chuyện về bi kịch nội tâm của những con người không phá vỡ nổi bức tường ngăn cách giữa những tình thân và cho đến khi nhắm mắt vẫn chưa kịp thắp lên ngọn lửa thông cảm.
Elena Pucillo Truong là người Ý, Tiến sĩ Ngôn ngữ và Văn học nước ngoài (Đại học Milano Italia). Cô dạy tiếng Pháp và Văn minh Pháp tại Milano từ năm 1982 và gần đây có dạy tiếng Ý tại Nhạc Viện, tại phòng lãnh sự danh dự Ý và tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn TP HCM.
LGT: Etgar Keret sinh ngày 20/8/1967 tại Ramat Gan, Israel. Nhà văn nổi tiếng với truyện ngắn và kịch bản phim, có ảnh hưởng lớn tới lớp nhà văn trẻ hiện nay ở Israel.
L.T.S: Narayan là nhà văn miền Nam Ấn Độ, sáng tác bằng tiếng Anh. Sinh 10/10 năm 1906 tại làng Madras (mất 13/5/2001), từng sống ở thành phố Mysore cổ kính của quê hương ông.
Ferit Edgu sinh năm 1936, từng sống sáu năm ở Paris học chuyên ngành gốm. Trong nhiều năm ông là người viết kịch bản quảng cáo và rồi điều hành một nhà xuất bản. Sự vô lý của cuộc đời, những ám ảnh dục tính, sự sa đọa và sự bất hòa của người trí thức là những chủ đề của ông.
HEINRICH BÖLL (CHLB Đức)
(Heinrich Böll sinh 1917, mất 7-85 - giải thưởng Nôbel văn học 1972)
Ngoài các tác phẩm lớn về Việt Nam như Vạn Xuân, Lãn Ông, mấy năm gần đây, nữ văn sĩ Pháp Yveline Feray đã cho ra đời những tập truyện thần thoại và dân gian của các nước châu Á như Việt Nam, Trung Hoa, Campuchia, Tây Tạng. Vào cuối năm 2010, bà đã cho xuất bản tập “Chuyện kể của bà ngoại Ấn Độ”.