Một vụ đuối nước

08:24 24/05/2024

C. J. MCCARTHY

Cormac McCarthy là nhà văn người Mỹ, ông nổi tiếng với phong cách viết bạo liệt và u ám. McCarthy chuyên viết tiểu thuyết và được giới hàn lâm đánh giá cao ở ngay tiểu thuyết đầu tiên, The Orchard Keeper (1965), nhưng ông không thành công với độc giả đại chúng.

Nhà văn Cormac McCarthy năm 1973 - Ảnh: wiki

Mãi đến năm 1992, sự ra mắt của tiểu thuyết All the Pretty Horses mới mang về cho ông nhiều giải thưởng từ giới chuyên môn và sự đón nhận của số đông đi chúng. Tác phẩm thành công nhất của ông là tiểu thuyết The Road (2006) đã được chuyển thể thành phim. Năm 2003, McCarthy được nhà phê bình Harold Bloom đánh giá là một trong bốn nhà văn vĩ đại còn sống của nước Mỹ, bên cạnh Don DeLillo, Thomas Pynchon, và Philip Roth. Ngày 13/6/2023, Cormac McCarthy qua đời tại nhà riêng ở Mỹ, hưởng thọ 89 tuổi.

Một vụ đuối nước là một trong số truyện ngắn hiếm hoi mà McCarthy từng viết vào thời còn trẻ. Truyện ngắn này ra mắt năm 1960 trong tạp chí The Phoenix. Tuy là tác phẩm ở quãng thời gian sớm sủa trong sự nghiệp viết của McCarthy nhưng truyện ngắn này rất đậm đà phong vị của ông: mơ hồ, tăm tối, u uất, trần trụi, chủ đề xoay quanh sự sống và cái chết. Văn phong đặc trưng polysyndeton (hành động dùng rất ít dấu phẩy và thay vào đó bằng các liên từ) cũng bắt đầu được ông áp dụng ở đây.

Ni dung câu chuyện tương đối đơn giản, một cậu bé dường như bị “ra rìa” khi cha mẹ sinh em gái, cậu có một con chó cái và một đàn chó con, một ngày nọ cậu phát hiện xác một chú chó con dưới con lạch gần nhà, nó bị cho vào bao tải cùng với hai viên gạch. Thế rồi một loạt những miêu tả mơ hồ và tăm tối diễn ra, có rất nhiều cách để đọc hiểu và diễn giải câu chuyện này. Sự thật là gì, chúng ta không thể biết chắc, và đó là cái hay của sự mơ hồ trong tác phẩm của Cormac McCarthy.

Nguyễn Tuấn Linh dịch và giới thiệu


Một vụ đuối nước

 

Ngay khi cánh cửa lưới đóng sầm lại, cậu đi vòng ra phía góc nhà để khuất mắt người ta, rồi chạy đến túp lều chứa củi và đặt nó xuống giữa bản thân mình và ngôi nhà. Đứa bé đã chợp mắt. Cậu không định đi đâu xa. Dưới tán cây dương hòe cậu đứng nhìn quanh quất. Vài con ong bắp cày bay qua bay lại trong bóng râm dưới mái chìa. Đi vòng ra phía sau túp lều và xuyên qua chiếc cổng đang chia đôi cái hàng rào lớn thiếu tay người chăm sóc, cậu bước vào lô đất dẫn đến nếp nhà ngang cũ kĩ. Cậu cẩn thận mở cánh cửa mục nát; các tấm ván vừa cong vênh vừa nhẵn mịn vừa được phủ một lớp nước bóng màu xanh nhạt. Một thanh gỗ ở lớp phía sau đã biến mất và một vệt sáng mỏng xiên xiên chiếu vào. Trên sàn nhà vẫn còn cái áo khoác cũ mà cậu mang xuống đây cho con Suzy, sau đó cậu đi theo nó, ngày đầu tiên mà nó trông có vẻ gầy gò và vẫy đuôi phấn khích, đầu vú của nó không còn xệ xuống tận đất nữa. Cái áo khoác bị bám chằng chéo những sợi lông trắng và mùi sữa chua thoang thoảng của đàn chó con vẫn còn vương vất. Chúng đã được gửi đến nhà chủ mới vào tuần trước. Cậu bước vào nhìn xuống cái hố và khi mắt đã quen với bóng tối bên dưới là cậu có thể thấy lờ mờ hai hình tam giác nho nhỏ màu đỏ nằm đấu đỉnh với nhau. Bên mé gót chân cậu có một con dế đang nằm nghỉ ngơi trên lớp đất mùn, râu nó xoay xoay theo những vòng cung ngẫu nhiên. Cậu thấy nó và thò tay bắt, nhưng nó nhảy lên, va phải mặt ghế và rơi trở xuống sàn. Cậu mau mắn giẫm lên nó, rồi nhặt nó lên. Nó vẫn còn đạp đạp một chân theo nhịp điệu chầm chậm vô thức; một chất lỏng đặc màu trắng rỉ ra từ nó. Cậu thả nó xuống cái hố và khom lưng quan sát. Cậu có thể thấy nó đang nhẹ nhàng lắc lư trong tấm mạng đàn hồi. Con góa phụ áo đen len lỏi tiến về phía nó, rồi khi đến nơi nó bắt đầu lấy chân làm chuyển động dệt tơ quanh con mồi như thể đang thực hiện một nghi thức tử thần nào đó. Chẳng mấy chốc cái chân của con dế thôi đạp. Thế rồi cậu hơi chúi người về phía trước, phóng ra từ lưỡi một giọt nước bọt lớn; nó lướt qua đám lá hình lược bên dưới, chuyển dần từ màu trắng sang xám trong bóng tối càng lúc càng sẫm lại. Con nhện hóa đá. Cậu nhắm mục tiêu cho chuẩn, và cục nước bọt thứ hai bắn trúng phóc, nhấn chìm cả hai đối tượng. Con nhện bỏ nạn nhân của nó lại mà chạy vào những hốc tối của con đường hầm mốc meo làm kéo theo một chuỗi nước dãi mảnh đang treo thành những vòng cung nhầy nhụa giữa các sợi tơ đan của tấm mạng nhện.

Sau đó cậu đi ra ngoài, cẩn thận khép cánh cửa xập xệ vào. Mặt trời đã treo cao trên những cây sồi ở đằng xa ngôi nhà. Vài con giẻ cùi màu lam thấp thoáng giữa tán lá. Cậu chần chừ một thoáng, rồi rẽ vào đường mòn dẫn đến phía góc của lô đất. Tại đây cậu băng qua chỗ đất sụt trong hàng rào bằng cây kim ngân và bắt đầu đi vào khu rừng. Không lâu sau cậu bắt gặp một đường ray xe goòng cũ chạy quanh co trong thanh bình và sáng lốm đốm nhờ ánh nắng đầu ngày chiếu xuyên qua tán cây đẫm sương. Cậu đi theo con đường dốc xuống, lê chân qua đám lá, làm lật ngửa mặt dưới còn ướt đẫm của chúng. Cậu dừng lại một lần, tước một nắm thuốc lá thỏ, nhét vào miệng và lê bước xuống đường, miệng khạc nhổ, đôi vai gầy nhấp nhô trong khoái chí.

Con đường nhấp nhô và khúc khuỷu dốc xuống cho đến khi dẫn ra bìa rừng nơi nó chạy thẳng trước khi mất dấu trong cánh đồng kêu rì rào mà phía bên kia là hàng liễu và cây bông trải dài để đánh dấu hướng đi của con lạch. Cậu vẫn cảm nhận được vết lún dưới chân khi lội qua đồng cỏ cao đến đầu gối hoặc len giữa những bụi mâm xôi mọc thưa thớt. Rồi cậu vén tấm màn liễu, màu chanh tươi và vàng kim hắt lên lúc chúng hứng ánh nắng trên con đường cậu đi. Cậu nghe được tiếng róc rách lờ mờ ngay từ lúc ấy, trước cả khi cậu bước ra khỏi rặng liễu nơi cây cầu bắc ngang, thấp thoáng sau tấm mạng ren màu xanh lục, sóng nước hình rẽ quạt nằm ở phía bên kia nơi mặt trời ló rạng và nhảy múa trên mặt nước lăn tăn như những con ong bạc.

Cậu đi lên cây cầu nhỏ, bước thận trọng. Những tấm ván cong vênh đã bị nứt toác và phong hóa, bạc phếch thành thứ màu xám trông gần như kim loại. Cây cầu bị oằn xuống đầy nguy hiểm ở phần giữa như thể một con la đang chở hàng quá sức. Cậu ngồi xuống những phiến gỗ ấm áp, rồi nằm ép bụng xuống mà nhìn qua khe hở xuống mặt nước bên dưới. Con lạch nước nông và trong vắt. Đáy lạch có màu lốm đốm nâu và vàng như da báo gấm, nơi ấy mặt trời chiếu xuyên qua vòm lá và cành cây bên trên. Đàn cá tuế bơi chênh chếch theo dòng chảy chầm chậm. Qua tấm kính bằng nước cậu quan sát những cái bóng tí hon lướt ngang lưng con báo trong tĩnh lặng và dập dờn như đường bay của loài chim. Cậu tìm được vài viên sỏi trắng nhỏ nằm cạnh khuỷu tay và thả chúng xuống đàn cá tuế; chúng xoay xoay và tỏa sáng chầm chậm lúc rơi xuống đáy kéo theo đám bọt nước li ti xoáy lên thành hình tua rua trước khi nổi hẳn lên và biến mất. Đàn cá tuế lao tới săm soi. Cậu khoanh tay đặt dưới cằm. Mặt trời sưởi ấm và vuốt ve lưng cậu qua chiếc áo sơ mi flannel.

Thế rồi theo dòng chảy hiền hòa trôi đến từ phía dưới cầu một chú chó nhỏ, lăn và xóc dưới đáy con lạch, xoay tròn không trọng lượng trong làn nước chảy chậm. Cậu nhìn với vẻ khó hiểu. Nó từ từ xoay lại để nhìn trân trối vào cậu bằng đôi mắt vô hồn, quay cái bụng trắng bệch về phía ánh nắng đang dịu dàng khuếch tán, chân nó cứng đờ và duỗi thẳng trong tư thế chống cự đến vĩnh hằng. Nó cứ trôi mãi, ẩn mình giây lát trong một dải bóng râm, trồi lên, rồi trượt xuống bên dưới lớp bạc nện của mặt nước và biến mất.

Cậu vội vàng ngồi dậy, lúc lắc đầu và nhìn đăm đăm xuống nước. Đàn cá tuế trôi theo dòng chảy như những viên đạn lơ lửng; một con nhện nước trượt qua.

Minh họa: Ngô Lan Hương

 

Chúng màu đen và trắng, chúng màu đen và… trừ một con toàn thân đen tuyền. Cậu băng qua cầu và bắt đầu đuổi theo nó, rồi dừng lại. Lúc quay lại đôi mắt cậu mở to và trắng dã. Cậu quay trở về và bắt đầu đi men con lạch xuôi theo con đường uốn lượn phía trên những gờ đất thấp. Cậu dò xét mặt nước lúc bước đi. Khúc sông nông chảy qua quãng sông đầy cải xoong đang trôi nổi và lập lờ trong dòng nước, dọc theo các mỏm đá nơi cây bông dừa mọc chen chúc. Một con tôm sông nhảy bắn vào bên dưới cái thân cây cong vòng của cây bông. Trong một vũng nước một chiếc giày không biết từ đâu ra đang ngự lên trang trọng.

Tại khúc rẽ của con lạch, ngay phía dưới nơi nó chảy bên dưới cây cầu cọc, dòng nước xoáy nhanh hơn và đáy vực kế đó rất sâu. Do con lạch đổi hướng nên lúc này mặt trời rọi vào mắt khiến cậu không nhìn xuống nước được. Cậu vội đến chỗ cây cọc, băng qua cây cầu bê tông nho nhỏ, và đi tiếp sang phía bên kia, xuyên qua một rặng mía. Lúc đến bên con lạch cậu đứng trên bờ đất cao; bên dưới cậu con nước rung mình trong một dòng chảy xiết, mặt nước uốn lượn và gợn sóng. Bên dưới nữa, trong đáy sâu màu hổ phách của vùng nước, cậu có thể nhìn ra một cái bao tải sẫm màu. Cậu chậm rãi ngồi xuống, tê tái và đau đớn. Lúc cậu vẫn đang nhìn đăm đăm, một cái đầu nhỏ lộ ra qua vết rách trên bao. Nó bị hạ xuống, nhẹ nhàng trong một thoáng, rồi, bị giật lên vì một luồng nước lạ trong dòng chảy, một hình hài nhỏ màu đen và trắng, cuộn tròn như bào thai, nổi lên. Như thể ta được chứng kiến sự chào đời dưới nước của một sinh vật biển lạ thường nào đó vậy. Nó do dự đung đưa trong một thoáng trước khi trượt khỏi tầm mắt ta trong dòng nước đang chảy xiết hơn.

Cậu không nhỏ lệ, chỉ có cảm giác trống rỗng cùng cực - mà ngay cả khi cậu chỉ ngồi yên - cũng phải từ từ nhường chỗ cho cảm giác phẫn nộ đang tăng cao. Sau đó cậu đứng dậy, kéo một cành liễu dài xuống và đập xuôi đập ngược lên đầu gối nhằm bẻ nó làm đôi, nhưng nó rất dai và đàn hồi nên sau một lúc cậu bỏ cuộc. Cậu lại xuyên qua rặng mía để trở lại con đường và đi sang phía bên kia đường nơi có hàng rào. Cậu men theo nó cho đến lúc tìm được một sợi dây lỏng trên hàng rào thép. Cậu kéo nó ra, và với vài lần uốn dây phần đầu mút gỉ sét đã đứt rời. Cậu trở lại chỗ con lạch mang theo sợi dây được uốn cong một đầu nhằm cố gắng câu cái bao tải từ đáy lạch lên. Sợi dây dài quá nên khó điều khiển, dòng nước lại cứ cuốn nó đi; mất gần nửa giờ sau cậu mới móc dây được vào bao. Cậu cuộn sợi dây vào tay, khi cậu kéo dây thì cái bao theo sau, nặng nề và chậm chạp. Cậu kéo nó tới bờ lạch và cẩn trọng nhấc nó lên nền đất. Nó đã rữa và thối. Lúc cậu mở bao chỉ thấy có một con chó con bên trong, con đen tuyền, nằm cuộn tròn giữa hai viên gạch với một con tôm to đã đào lỗ được nửa đường trên chiếc bụng mềm ướt của nó. Cậu móc đầu dây vào con tôm và kéo nó ra, lôi theo sau thứ ống tuýp của bộ lòng xanh xanh đã thối rữa. Cậu lấy mũi giày cố đẩy chúng vào lại bên trong. Cậu lại trở ra đường và dò xét các con mương kế bên cho đến khi tìm được một cái túi giấy, cậu mang nó về và nhón những ngón tay dè dặt cậu kéo cái xác bé nhỏ vào đó. Rồi cậu đẩy nó qua bụi rậm cho đến khi ra đồng, băng qua cánh đồng theo đường chéo, và tiến vào khu rừng chỉ cách đường ray xe goòng chừng vài thước. Cậu bước lên đường ray vừa đi vừa đung đưa chiếc túi nhỏ bẩn thỉu. Bước chân cậu mê man và máy móc, đôi mắt cậu vô hồn.

Lúc cậu về đến nhà con Suzy lon ton băng ngang khoảng sân đón cậu. Cậu tránh mặt nó và vào nhà qua cửa sau, cẩn thận đóng cửa sau lưng. Trong bếp cậu dừng chân nghe ngóng. Ngôi nhà yên ắng; cậu nghe được tiếng tim mình đập dồn. Một thứ nắng không ấm trải kín tấm kính phía trên bồn rửa. Rồi cậu nghe thấy tiếng con bé ho - con bé lúc nào cũng ho - và lắng tai nghe kĩ hơn. Con bé đang ở trong phòng ngủ. Cậu đứng ở cửa nghe ngóng, rồi khẽ khàng mở hé cửa ra. Các rèm cửa đang khép, và khi mặt trời hắt nắng thì chúng ướt đẫm ánh sáng màu cam nhạt và thẩm thấu ra khắp bầu không khí, không khí tràn ngập mùi nước tiểu thoang thoảng của em bé, mùi của chăn nệm, hôi hám và thân mật một cách khoan khoái lạ kì.

Cậu đứng trên ngưỡng cửa trong một phút bất tận. Cái thúc đẩy hành động tiếp theo của cậu là phần đỉnh điểm của hết thảy kế hoạch đã được cậu vạch ra phân nửa mà không chỉ bắt đầu vào lúc đi bộ từ con lạch về mà là vào ngay thời điểm đứa bé ấy chào đời. Có vô số ý nghĩ từng bị bác bỏ, bị sửa đổi, hoặc bị đè nén len lỏi đâu đây trong nội tâm sâu kín của tâm trí cậu đang vùng vẫy và hợp lại. Cậu nhấc chiếc bao tải hôi thối lên và ngắm nghía. Nó ướt sũng và qua vết rách bờm xờm dưới đáy bao, những sợi lông đen nho nhỏ thò ra như chân nhện. Sau đó, suy nghĩ hồi lâu, cậu không có vẻ gì là đã băng ngang phòng đến bên chiếc giường cũi kê trong góc, vén tấm chăn mềm mại màu lam lên, và bên cạnh hình hài đang say ngủ, nhỏ nhắn và nhăn nhúm, cậu đặt con chó con xuống rồi đắp chăn lên cả hai. Cậu mơ hồ nhớ mình đã nhìn thấy chất dịch dạ dày xanh nhờ nhờ rỉ ra vải trải giường lúc tấm chăn rơi xuống.

Lúc này cậu đang đợi ông ấy về nhà; bây giờ đã gần đến giờ ăn tối. Cậu đang ngồi trên giường của mình, tâm trí cậu là một bức tường không chiều kích mà trên đó chỉ có một thứ hoa văn xám xịt, xoắn vặn như một dấu vân tay khổng lồ, chậm chạp dao động. Mẹ cậu lặng lẽ vào phòng một lần, nhưng đứa bé không tỉnh dậy. Cậu đang đợi ông ấy về nhà.

C.M
(TCSH422/04-2024)

 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • NAGUIB MAHFOUZ  

    Naguib Mahfouz là nhà văn lớn của văn học Arab. Ông sinh năm 1911 tại Cairo (Aicập) và mất năm 2006 cũng tại thành phố này. Mahfouz đã viết tới 34 cuốn tiểu thuyết và hơn 350 truyện ngắn. Cuốn tiểu thuyết lớn nhất của ông là Bộ ba tiểu thuyết (The trilogy) (1956 - 1957).
    Mahfouz được trao giải Nobel văn chương năm 1988.

  • Pete Hamill sinh ngày 24 tháng 6 năm 1935, tại Brooklyn, New York, Hoa Kỳ. Ông là nhà văn, nhà báo. Ông đi nhiều và viết về nhiều đề tài. Ông từng phụ trách chuyên mục và biên tập cho báo New York Post và The New York Daily News.

  • Truyện này được dịch theo bản tiếng Pháp nên chọn nhan đề như trên (Je ne voulais que téléphoner, trong cuốn Douze Contes vagabonds, Nxb. Grasset, 1995) dù nó có vẻ chưa sát với nguyên bản tiếng Tây Ban Nha của tác giả (Sole Vina a Hablar por Teléfono) - Tôi chỉ đến để gọi điện thoại thôi.

  • Eugene Marcel Prevost, nhà văn và là kịch tác gia người Pháp, sinh ngày 1/5/1862 tại Paris, mất ngày 8/4/1941 tại Vianne, thuộc khu hành chính Lot- et-Garonne. Năm 1909, ông được mời vào Hàn lâm viện Pháp. 

  • AMBROSE BIERCE   

    Năm 1861, chàng trai Barr Lassiter sống cùng cha mẹ và người chị ở gần Carthage, Tennesse.

  • Nassar Ibrahim là nhà văn, nhà báo người Palestine. Ông còn là nhà hoạt động xã hội, nguyên Tổng Biên tập báo El Hadaf tại Palestine. Truyện ngắn dưới đây được in lần đầu bằng tiếng Ả Rập trong tạp chí Masharef 28, số mùa thu 2005, được Taline Voskeritchian dịch sang tiếng Anh, in trong tạp chí Wordswithoutborders số tháng 11/2006.

  • THOMAS VINT

    L.T.S: Thomas Vint người Estonia, năm nay 49 tuổi. Hiện ông viết văn và sống ở Estonia (Liên Xô). Ngoài khả năng viết văn xuôi, ông còn thích vẽ. Ông đã từng triển lãm tranh ở Pháp vào năm 1988. Ông cũng đã tự minh họa cho tập truyện ngắn đầu tiên của mình.

  • JOSHUA BROWN (Mỹ)  

    “Con sẽ làm vua!” một chú lợn con nói với bố mẹ.
    Lợn Mẹ mỉm cười nhìn con. “Làm sao con có thể thành vua được khi con chỉ là một chú lợn con?”

  • RAY BRADBURY

    Theo Ray Bradbury, truyện khoa học giả tưởng khác với sự tưởng tượng thuần túy ở chỗ nó là "một dự phóng hợp lý của thực tại". Vì vậy cuộc đi dạo ngắn ngủi này nói lên những gì ông suy nghĩ - hay lo sợ - có thể dễ dàng trở thành một bức tranh thật.

  • Thomas Burke (1886 - 1945) sinh tại Clapham, ngoại ô thành phố Luân Đôn, nước Anh. Cha chết khi còn rất nhỏ, ông sống với người chú, sau được gởi vào một cô nhi viện.

  • JORGE LUIS BORGES

    Jorge Luis Borges (tên đầy đủ là Jorge Francisco Isidoro Luis Borges Acevedo) sinh ngày 24 tháng 8 năm 1899 tại Buenos Aires, Argentina.

  • CLAUDE FARRÈRE

    Những kẻ văn minh là tên cuốn tiểu thuyết nổi tiếng của nhà văn Pháp Claude Farrère (1876 - 1957) đã nhiều năm sang Việt Nam mô tả vạch trần và lên án sâu sắc chế độ thực dân Pháp ở Việt Nam và Đông Dương trong hơn 80 năm đô hộ.

  • HERMANN HESSE
    (Nhà văn Đức, Nobel văn học năm 1946)    

    Trước đây, một chàng trai trẻ có tên là Ziegler đã sống ở ngõ Brauer. Anh là một trong những người thường xuyên ngày nào cũng gặp chúng tôi ở trên đường phố và chưa bao giờ chúng tôi có thể ghi nhớ chính xác khuôn mặt của những người ấy, vì tất cả bọn họ cùng có khuôn mặt giống nhau: một khuôn mặt bình thường ở giữa đám đông.

  • Nhà văn Nenden Lilis A. sinh tại Malangbong-Garut (Tây Java) năm 1971, là giảng viên khoa Giáo dục và Văn chương tại Indonesian Education University ở Bandung.
    Truyện ngắn và thơ của bà đã in trên nhiều ấn phẩm trong nước. Bà cũng thường được mời nói chuyện tại các hội nghị văn học cả ở trong nước và nước ngoài (như Malaysia, Hà Lan và Pháp). Thơ của bà đã được dịch sang tiếng Anh, Hà Lan và Đức.
    Truyện ngắn dưới đây được John H. McGlynn dịch từ tiếng Indonesia sang tiếng Anh.

  • ALEKSANDAR HEMON

    Đám đông xôn xao trong bầu bụi chiều nâu xỉn; họ đợi đã quá lâu rồi. Cuối cùng, Quan tổng trấn bước xuống bậc thang áp chót, dạng chân và chống nạnh ra vẻ quyền chức thường thấy. 

  • Lời dẫn: Cách đây 475 năm, vào ngày 22 tháng 2, tại thành phố Xenvia đã qua đời một người Italia tên Amêrigô, một người đã từng giong buồm liền 7 năm trời trên những vịnh ở phía Bắc và Tây châu Nam Mỹ.

  • LTS: Issac Bashevis Singer sinh tại Ba Lan. Ông là một nhà văn lớn của Do Thái. Hầu hết truyện của ông đều viết bằng tiếng Hébreu và Yiddish, tức tiếng Do Thái cổ. Với lối văn trong sáng, giản dị, có tính cách tự sự, ông thường viết về cuộc sống của những người dân Do Thái cùng khổ. Ông được tặng giải Nobel văn chương năm 1978.

  • LTS: Giải thưởng danh giá Goncourt của văn chương Pháp năm 2015 với tác giả là nhà văn Mathias Enard do Nxb. Actes Sud (Pháp) xuất bản.