NGUYỄN KHOA ĐIỀM
Trên thềm đá Hải Vân Quan
Tháng ba
Người lính già trở về
Dựa lưng bậc thềm đá cổ
Ngắm mây vùn vụt qua đèo
Hải Vân Quan,
Đệ nhất hùng quan
Vang dội tầng tầng đá núi
Cuồn cuộn dòng lịch sử
Trong tiếng còi xe của những cặp đôi rất trẻ
Còn nghe rậm rịch tiếng người đi mở cõi
Xủng xoảng pháo xe những mùa trận mạc
Bao người lính thú xa nhà
Súng rền hai đầu đất nước
Gươm mài sáng lóa bên sông...
Ở đây
Bắc nhớ Nam, Nam nhớ Bắc
Vẫn mong, vẫn mong một ngày hòa bình, thống nhất!
Đất nước đến Hải Vân Quan
Cuộn mình thành chữ S
Câu Quan họ qua đây hóa Lý qua đèo
Nước Nam lần đầu thành Việt Nam
Thăm thẳm chân trời đất nước...
Hải Vân Quan,
Đón chào anh lính Giải Phóng vượt đèo
Làm nên Tháng Ba lịch sử
Huế - Đà Nẵng
Mở đường chiến thắng
Năm mươi năm như một lằn chớp
Người lính già ngồi tựa lưng quan ải
Nghe gió thổi...
Tháng 3/2025
THANH HẢI
Mùa xuân nho nhỏ
Mọc giữa dòng sông xanh
Một bông hoa tím biếc
Ơi, con chim chiền chiện
Hót chi mà vang trời
Từng giọt long lanh rơi
Tôi đưa tay tôi hứng
Mùa xuân người cầm súng
Lộc giắt đầy bên lưng
Mùa xuân người ra đồng
Lộc trải dài nương mạ
Tất cả như hối hả
Tất cả như xôn xao...
Ðất nước bốn ngàn năm
Vất vả và gian lao
Ðất nước như vì sao
Cứ đi lên phía trước
Ta làm con chim hót
Ta làm một cành hoa
Ta nhập trong hòa ca
Một nốt trầm xao xuyến
Một mùa xuân nho nhỏ
Lặng lẽ dâng cho đời
Dù là tuổi hai mươi
Dù là khi tóc bạc
Mùa xuân - ta xin hát
Câu Nam ai, Nam bình
Nước non ngàn dặm mình
Nước non ngàn dặm tình
Nhịp phách tiền đất Huế.
11/1980
HỒNG NHU
Vần điệu cho em
Gió như tự thuở hồng hoang
Nắng như tất bật lo toan thường ngày
Mưa không tự phía rừng dày
Mà sầm sập xối lòng này xối ra
Mốt mới xoay tít đàn bà
Thói xưa giả dối như là đàn ông
Nói trôi vì có nước sông
Nói chìm vì có phấn thông không chìm
Xa xôi thì một cánh chim
Gần gũi thì một mò kim giữa vời
Cuộc đời như cái sân chơi
Tình yêu như cái thiếp mời không tên
Bất ngờ rạng sáng là đêm
Bất ngờ xa xót lãng quên bất ngờ
Số đề có thể là thơ
Nỗi đau có thể như tờ biên lai...
Nghĩ là nghĩ vậy em ơi
Cái thời gió bão biết nơi mô chừ
Dường như đâu đó dường như
Hoa bìm vẫn nở tím bờ dân ca
Em về giở lại tháng ba
Tìm trong nước lụt vớt ra tháng mười
Tháng mười là tháng bão rơi
Rụng đi tàn phá cho người yêu nhau...
1988
THÁI NGỌC SAN
Tháng tư Hoàng cung
Tháng tư chim Phụng không lại
Đến kỳ ngô đồng nở hoa
Nỗi buồn còn mắc trên ấy
Vấn vương một điệu tình ca
Người đi mờ theo lối cũ
Vàng son nhạt nhòa bay theo
Có tiếng ai như cung nữ
Gọi tình lang bên cửa triều
Màu hoa một thời ngọc biếc
Vẫn chờ dấu bóng chim xưa
Chim không về, hoa vẫn nở
Thành quách hồn đá son mờ
Người đi lạc vào cổ tích
Nhớ nhung tình cũ lạt phai
Tượng đá ngậm ngùi đứng khóc
Đâu đây vẳng tiếng đàn ai…
VÕ QUÊ
Thơ tình mùa mưa ngâu
sao em biết anh về em ướp hương tóc
hoa đồng bằng thơm mái xanh em
sao em biết anh về
em làm duyên
sóng tình lung linh hàng chữ ngọc
tìm nhau tin yêu
sao em biết anh về
em gọi mưa ban chiều
những con đường anh qua
lạnh mát
sao em biết anh về
tháng bảy mưa ngâu
sang cầu Ô Thước
em kết đóa xuân thì
lên ngực anh
sao em biết anh về
em thắp trăng sau cơn mưa muộn
em thánh thiện
nụ hôn ngời ánh khuya.
sao em biết anh về
sao em biết anh về
bên em
bên em...
NGUYỄN KHẮC THẠCH
Lối đi
Em đi theo lối người xưa
Trái tim vẫn đập như vừa biết yêu
Thừa cơ cơn gió đổi chiều
Yêu em yêu cả những điều ngoài em
Lòng anh đồng vọng khát thèm
Dòng sông bỗng dứt kèm nhèm không nhau...
Đường về
Thấy em anh chợt đứng hình
Vì em chỉ có một mình mà hai
Một chiều góc phố lai rai
Ai ngồi độc ẩm đền đài khói sương
Màn đêm buông xuống dòng Hương
Lòng anh hoài niệm quên đường tìm nhau...
(TCSH58SDB/09-2025)
Tải mã QRCode
vốc chút tàn tro trong lò gạch lạnhngọn lửa xa xăm bỏng rát giữa lòng tayngày bất chợt trổ ngọn gió âm uký âm điệu kèn Saranai trên tàn câygià hơn ngàn tuổi...
...sông vẫn xanh màu xanh thuở ấykhác là bây giờ bên sông nhà chọc trời soi bóngô tô đan kín đại lộ lấp loáng nắng trưahình như gió xưa đang háthoa bằng lăng tím lối qua cầu...
LƯU LYTên thật: Trần Thị Vân Dung, sinh ngày 28.8.1978 tại Thanh Chương, Nghệ An.Thơ Lưu Ly là sự giãi bày nỗi niềm của một tâm hồn đa cảm mà đơn phương... Sự chân thành mộc mạc của tác giả sẽ mang lại cho người đọc chút “hương đồng gió nội” thật hiếm hoi trong dòng thơ hiện đại.
...Có nơi nào như đất nước tôitiếng trống tràng thành cũng lung lay bóng nguyệtthiếu phụ tiễn chồng ra trậnđêm trở về nằm gối nửa vầng trăng...
Trà Mi vốn là bí danh có từ thời hoạt động nội thành của Nguyễn Xuân Hoa được anh “nối mạng” vào “thương hiệu” thơ khi cái đẹp bừng nở trong tuệ giác.Dù không lấy thơ làm cứu cánh nhưng nó vẫn là một hằng số tâm linh đối với bất cứ ai trong mỗi một chúng ta. Sự tung hứng giữa cảm xúc và trí tuệ, sự cộng hưởng giữa truyền thống và hiện đại, sự bức xạ giữa ý tưởng và ngôn ngữ được coi như một nguyên tắc đồng đẳng trong thi pháp thơ Nguyễn Xuân Hoa.Nguyễn Xuân Hoa sinh năm 1947 tại Quảng Điền, TTHuế. Hiện là tỉnh uỷ viên, giám đốc Sở Văn hoá Thông tin TTHuế.Sông Hương trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc chùm thơ mới của anh.
...Em đã lấy những gìmà Chúa không cần nữaNgười đã ban tặng emMột tình yêu đau khổ...
Cách đây 700 năm, vào năm 1306, vua Trần Nhân Tông gả công chúa Huyền Trân cho vua Champa, bờ cõi Đại Việt được mở rộng. Hai châu Ô, Lý được vua Chế Mân cắt để làm sính lễ dâng vua Đại Việt. Sau đó, hai châu này được đổi thành châu Thuận và châu Hóa. Thuận Hóa được hình thành từ cơ sở đó.Những bài thơ chữ Hán viết về vùng đất này sớm nhất có thể kể đến như Hóa Châu tác (Làm ở Hóa Châu) vào khoảng năm 1354 của Trương Hán Siêu (?-1354); Hóa Thành thần chung (Chuông sớm ở Hóa Thành) của Nguyễn Phi Khanh (1355-1428); Tư Dung hải môn lữ thứ (Nghỉ chân ở cửa biển Tư Dung) của Lê Tư Thành (vua Lê Thánh Tông 1442 - 1497)... Nhân kỷ niệm 700 năm Thuận Hóa - Phú Xuân - Thừa Thiên Huế (1306 - 2006) TCSH trân trọng giới thiệu cùng độc giả ba bài thơ này.HẢI TRUNG giới thiệu
Đá Hạ Long đa tình hóm hỉnhNên mái cong đuôi trống xoè lôngTrời và nước hồng hoang kết dínhSóng nôn nao như tiếng vợ gọi chồng...
...đêm bình yên linh hồn nương náusao ta một mình thao thứcsao ta một mình lay gọilối nào tới ban mai?...
...khoảng vườn xanh xưatrồng toàn cây cẩm túnở một bông thôi cũng đủ nhớ thương người...
...từng hàng cỏ mọc bon chencôn trùng nương náu cũng quen lâu rồi...
LTS: Nguyễn Xuân Hoàng viết nhiều, viết đủ các thể loại nhưng tác phẩm đã công bố phần lớn là truyện ngắn, bút ký, tản văn, tiểu luận v.v... còn thơ thì ít khi xuất hiện. Song, có lẽ thơ mới là “ngọc châu” trong văn nghiệp của anh. Những bài thơ gần đây được Hoàng viết ra như một sự dự phóng điềm gở của định mệnh.Khắc khoải yêu thương, khắc khoải đợi chờ là tâm trạng của Hoàng được “mã hoá” trong chùm thơ mà Sông Hương vừa tìm thấy trong di cảo của anh.
...Xin hãy để ta mơ về Hợp NhấtLòng bản thể thẳm sâu hòa điệu giữa lòng ta...
LÊ HUỲNH LÂMSinh năm 1967, tại Phú Vang - Thừa Thiên Huế; Kỹ sư tin học (ĐH Bách Khoa Hà Nội). Tác phẩm đã in: Sông hoa (tùy bút)....ấy là một khuôn mặt trầm tư? U uất? Khuôn mặt với đầy đủ đặc tính của một “triết gia bi đát”. Bây giờ, những ngôn từ mà anh dày công nhào nặn đã ý thức hơn về vị thế của mình trong đoản - khúc - người, và chúng không còn cưỡng bức xác thân anh đi ngược chiều nhân loại nữa. Những ngôn từ (bị dòng đời ám ảnh) đã tự sắp đặt thơ. Bây giờ, thơ trở thành tính từ của thân phận mỗi khi cõi lòng anh lên tiếng...Sông Hương xin chuyển tới bạn đọc ba “cột thơ” rút từ ngôi nhà của anh.
...Không còn ở trong vòm cửa hẹpCả khoảng không bừng sáng quanh ta...
...Tiếng aiTrong gióHú dài…
LGT: Như một chuyến hành hương về nguồn cội, với nghĩa cử cao đẹp, Công ty Văn hoá Trí tuệ Việt đã cho ra đời tập sách HUYỀN THOẠI TRƯỜNG SƠN, gồm nhiều thể loại như bút ký, hồi ký, thơ, nhạc,... Đặc biệt hơn hết là danh sách đầy đủ, chính xác của 10.263 anh hùng liệt sĩ yên nghỉ tại Nghĩa trang Liệt sĩ Trường Sơn.
Sông Hương xin trân trọng giới thiệu tới bạn đọc những dòng thơ được thắp lên từ HUYỀN THOẠI TRƯỜNG SƠN - như một nén nhang gọi hồn những người đã ngã xuống!
LGT: Trong cuộc đi tìm mình khắc khoải ở trời , Nguyên Quân mang theo những u uẩn của quá nửa phần đời để mỗi buồn ngồi gặm nhấm. Chắc hẳn cũng nhờ vậy, anh đã làm được một điều không dễ - ấy là gọi tên đúng nỗi buồn giữa mênh mang thi phú...Sông Hương xin giới thiệu chùm thơ của Nguyên Quân mà hai trong số đấy sẽ được tuyển vào 700 năm thơ Huế.
Hơn một năm trước, nhà thơ Lâm Thị Mỹ Dạ giương cao Lá cờ trắng. Nhưng dường như đấy chỉ là hình thức “trá hàng” của một nàng thơ giữa độ hồi xuân.Không hiểu tự bao giờ, loài cúc dại đã cắm rễ vào cõi hồn đa mang của chị hút đến cả nỗi đau dung dưỡng xác thân trong kiếp luân hồi đầy khổ nạn. Tập thơ mới nhất của chị, là sự bung nở của vô vàn cúc dại, để trí nhớ đất này thêm những phút thăng hoa...
HẠ NGUYÊN* Sinh năm 1966 tại Hương Cần - Hương Trà - TT. Huế* Hội viên Hội Nhà báo Việt , Ủy viên BCH Hội Nhà báo Thừa Thiên Huế khóa IV (2007 - 2012).* Hội viên Hội Nhà văn Thừa Thiên Huế* Có nhiều tác phẩm in chung trong các tuyển tập: “20 truyện ngắn và ký 1975 - 1995”, “25 truyện ngắn và ký 1975 - 2000”, “Thời gian và nỗi nhớ”, “Trịnh Công Sơn - cát bụi lộng lẫy”, “Thừa Thiên Huế trong cơn đại hồng thủy (2000)” v.v.