NGUYÊN QUÂN
Quán cà phê nằm bạ dưới gầm cầu, một con đường nhỏ hẹp chạy ngang qua quán.
Ảnh: internet
Nhỏ hẹp nhưng là đại lộ của làng, là con đường huyết mạch duy nhất nên mỗi ngày vẫn nườm nượp đủ loại người, hàng hóa quê nhà chảy trước mặt quán, chảy thường hằng qua những đôi mắt hững hờ của những người đàn bà bị mê hoặc bởi những lá bài nho nhỏ, luôn xòe rộng hình chiếc quạt.
Những con bài bốn màu chấp chới theo những đôi triêng gióng rau dưa, cá mú kẽo kẹt, tiếng cười đùa hồn nhiên râm ran của vài đứa bé học sinh từ ngôi trường tiểu học, âm thanh nhạc điệu thời chinh chiến xa xưa trào ra từ chiếc loa to tướng cột cứng yên sau của chiếc xe gắn máy cũ mục bám đầy bụi đỏ của gã bán kem, của mấy chú gà trống gầm gừ vỗ cánh, giương cựa truy sát nhau trong chiếc lồng lưới chuôn vuông không đầy mét, cộng hưởng giọng hò hét cổ vũ hết cở hưng phấn của những người đàn ông gân guốc đen đúa đặc trưng của dân đi biển ăn sóng nói gió, thỉnh thoảng trên mặt cầu lại thả xuống tiếng ầm ầm của những chiếc xe trọng tải lớn, làm rung rinh như một cơn địa chấn. Cái thế giới thanh âm dưới gầm cây cầu vừa vắt ngang con đường độc đạo dẫn về ngôi làng cuối cùng nằm sát biển, vừa nối qua vùng đầm phá nước lợ lớn nhất Đông Nam Á. Cầu và dưới gầm nầy là một bản hợp xướng ngồn ngộn cung bậc cuộc sống hiện hành.
Gã bán kem, cái nhân vật khá nổi bật trong cái xã hội thu nhỏ dưới gầm cầu, không của riêng chi mấy đứa bé quàng khăn đỏ bên kia sân trường ríu rít bu quanh chuyền tay nhau những cây kem nhỏ bé, cũng đủ loại sắc màu xanh đỏ vàng tím. Mà hầu như gã là người nhạc trưởng của cả bản hợp xướng đa âm tồn lưu dưới gầm cầu. Xoay vần quanh gã bán dạo những cây kem và những câu chuyện dưới xã trên huyện rơi ra từ khuôn miệng khá có duyên, đầy nam tính, luôn sùm sụp dưới chiếc mũ vải rộng vành màu ô liu. Gã bán kem dạo luôn dừng lại dưới gầm cầu rất đúng giờ tan học của ngôi trường tiểu học, giờ nghỉ trưa của công nhân xưởng đóng tàu, nằm bên kia đường. Nơi sát mép bờ đầm phá, luôn tấp nập những con tàu đánh bắt xa bờ và đủ loại đò giang ghe mảng, chuyên canh trên vùng nước lợ rộng ngút mắt. Giờ mà gã bán kem thò mấy ngón tay chai sần, to bè như trái chuối rung long cong cái chuông đồng cũ nát đen đúa, treo trước ghi đông chiếc xe máy cà tàng. Cũng là lúc tiếng trống trường tiểu học và hồi còi lanh lảnh báo hiệu giờ tan tầm của xưởng.
Sau hồi chuông đồng của gã bán kem là thế giới âm thanh dưới gầm cầu lại vồng lên cao độ. Những người đàn bà vội xếp lại bộ bài tứ sắc, chuẩn bị buổi ăn trưa cho ngư phủ, công nhân đóng tầu. Khói bếp trộn lẫn với bụi đường, lũ trẻ em tràn từ sân trường ra, tíu tít hòa vào người lớn, nhạc điệu từ chiếc loa trộn chung với thanh điệu sống động nồi niêu soong chảo va chạm tất bật vào nhau. Giọng đọc rì rào trôi chảy bản tin thời sự của xướng ngôn viên trên cái ti vi, pha tạp với lời kể nóng hổi chuyện đánh ghen, trộm cắp, đám ma, đám cưới từ làng trên đến xã dưới, từ quốc nội đến quốc ngoại bằng chất giọng hài hước châm biếm của gã bán kem... cứ cuộn trào... cuộn trào như một cơn thần triều hỗn âm liên miên bất tuyệt.
Tôi bất chợt liên tưởng đến chiếc đèn kéo quân mà thời trẻ dại cứ mê mẫn đuổi mắt theo những hình nhân, hình thú. Xoay vòng xoay vòng liên tu bất tận theo thứ định luật bất biến quanh tâm điểm của một chiếc trục vô hình. Lại một chiếc đèn kéo quân cho mười ngày. Cái thời gian ngắn ngủi lưu trú ngôi làng ven cửa biển trong đợt thực tế sáng tác. Cũng chỉ là quán tính xoay vần theo một nhịp điệu buồn tẻ của đoạn đường từ nơi ở đến nơi ăn, của buổi tinh mơ thức dậy chạy chân đất ra biển, lao thẳng vào sóng để tìm cảm giác rồi chẳng tìm thấy gì vào từng buổi chiều chạy xe lên đứng giữa cây cầu, nhìn mông lung lên nguồn núi xanh luôn cõng ngang lưng vòm mây trắng, nhìn phía cửa biển lác đác vài chiếc tàu neo đậu... Để chẳng biết viết gì ở một nơi đã từng một lần đến làm đúng bổn phận một bóng hình nhân xoay quanh chiếc trục vô hình.
*
Là lần thứ hai tôi đến đây đi thực tế sáng tác văn học; cái vỏ bọc vừa mỏng manh yếu đuối vừa lãng nhách giữa những ngư dân rắn rỏi cuồn cuộn cơ bắp, ăn ngang nói thẳng, sống thực tế sôi động như những triều sóng vỗ liên hồi lên bãi cát, lên cái ghềnh đá đen trũi. Mười năm trước, một khoảng cách thời gian rất dài, đủ để biến động cuộc sống của tôi đi từ diệu kỳ đến kỳ dị. Ở thành phố, nơi tôi mang hộ khẩu thường trú luôn thay đổi chóng mặt, từ nội tại đến ngoại giới, từ những ngôi nhà cao vọt lên từng giờ, đến cuộc sống hối hả tất bật gần như vô cảm. Khiến lớp người chưa kịp nhận thức tuổi già đã đến như tôi, phải nhanh chóng co rút lại trong chiếc vỏ vô ngôn vô vị, khép kín mình trong căn nhà làm tù nhân chung thân tự nguyện giữa bốn bức tường. Lớp trẻ nhỉnh hơn một chút, cũng vội vả ném đi tất cả hoài bảo tốt đẹp để kịp bám víu chiếc phao cứu cánh lao thẳng tất cả sinh lực vào nỗi ám ảnh vật chất thời thượng bất chấp thủ đoạn đa đoan nghiệt ngã ngay với chính bản thân, âm vực mưu sinh, ngôn ngữ giao tiếp với cuộc sống tham muốn hình thức thường ngày cũng trở thành sự đánh đố vô tưởng.
Còn ở đây, ngôi làng ven cửa biển nầy, mười năm rồi cũng chẳng thay đổi gì nhiều, nó chỉ có thêm cái gầm cầu. Một hiện hữu mà mười năm trước khi tôi đến cũng là lúc người ta bắt đầu khởi công xây dựng, cây cầu mà ngày đó tôi đã dự cảm sẽ làm thay đổi nếp sống cô lập buồn tẻ cả vùng đất bên nầy lẫn bên kia đầm phá. Sự dự cảm ngày đó của tôi, chỉ đúng được một nửa, phía bên kia đã không còn là những ngôi nhà lụp xụp bị cô lập giữa núi rừng không đường đi, không điện nước, phương tiện nối với bờ bên nầy, chỉ những chiếc thuyền nhỏ bé dập dềnh băng ngang cái biên độ của sông và biển. Sự giao thoa giữa cái ngọt và mặn thì luôn không bình yên êm ả, nó là biên độ trăn trở hòa nhập đầy tiếng gầm gào cuồng nộ sóng gió, nhưng bây giờ vùng đất chó ăn đá gà ăn muối ấy, sau khi có chiếc cầu thông thương, đã trở thành vùng đất vàng của những công ty du lịch cao cấp dành cho tầng lớp quý tộc.
Riêng bên nầy vẫn chỉ là ngôi làng chài truyền thống trầm tích văn hóa vượt biển, vẫn luẩn quẩn mùi của cá, của muối mặn, của những chuyến ra khơi, những lần quay về lặng lẽ từng gương mặt dày dạn phong trần bên cái âu thuyền. Mười năm trước hay lâu hơn nữa, chưa có gã bán kem và cái thanh âm ngồn ngộn hiện sinh dưới gầm cầu, đây phải chăng là một sản phẩm do cây cầu bắt qua đầm phá mang lại. Nó thật sinh động, không trầm lặng tịch mịch như ngôi làng đang cưu mang nó. Những người đi cùng đoàn với tôi cũng đã thành thiên cổ, họ không kịp hình dung ra vẻ đẹp hùng vĩ và tác dụng chiếc cầu mang lại và cái họ để lại trong chiếc đèn kéo quân thời ấy, là chút hoài niệm, là vài bài thơ, khúc hát ca tụng một công trình thế kỷ của vùng cửa biển mà hầu như người dân ở đây chẳng ai còn nhớ nổi một gương mặt của họ.
Tôi cũng là một hoài niệm cỗ lổ còn trở về ngồi đây với cái quán cà phê, với đủ thứ tạp âm và câu chuyện của mình. Một câu chuyện tình ngắn hạn như thứ ký ức mù mờ về người đàn bà thích xòe những con bài tứ sắc nhỏ bé, thành hình chiếc quạt. Mười năm trước tôi đã thua một canh bạc với chính mình, khi chẳng dám vượt qua cái đầm phá mênh mông nơi cửa biển đầy thanh âm nộ cuồng sóng gió giao hưởng giữa vị ngọt và mặn để một lần được đặt chân qua bờ bên kia...
Trại sáng tác Vinh Hiền 2017
N.Q
(SHSDB26/09-2017)
Tải mã QRCode
THÁI NGỌC SANSau khi trở về quê cũ một thời gian bà Phán trở thành trung tâm chú ý của mọi người. Trước hết là bọn con nít. Chúng cứ hô váng lên “mệ Phán muôn năm” mỗi khi bà mua kẹo vung vãi cho chúng.
PHẠM PHÚ PHONGTôi ngồi bất động, tựa như nuốt phải một cây gậy, người cứng đờ, im lặng, cho đến khi bản nhạc chấm dứt. Nguyễn Hương cũng im lặng ngồi đối diện góc tường, châm thuốc hút. Mới mấy năm không gặp, bây giờ trông anh đã khác hẳn. Đầu tóc hớt cao, lưỡng quyền nhô ra. Thời gian đã kịp cày xới, để lại trên trán anh những đường rãnh nhỏ.
PHẠM XUÂN PHỤNGĐúng ra, ông cụ Trần Bảo phải có đủ tám người con và người con cuối cùng phải có tên là VÈ mới đủ bộ. Bây giờ gọi tên bảy người con của cụ, nghe cứ thiếu thiếu chút gì: Đờn, Ca, Múa, Hát, Thơ, Ka, Hò. Chấm hết! Tức anh ách, tức nghẹn ngào!
NGUYỄN HỮU HỒNG MINH Tặng anh Tạ Công ThắngMọi thứ, mọi tình huống có thể diễn ra bất cứ lúc nào như bản chất trôi chảy của cuộc sống cho dù bạn không hề mong muốn. Như truyện ngắn này, tất cả được phát hiện, ngắm rọi trong một ngày đẹp trời.
NGUYỄN QUANG LẬPĐời tôi có chi mà kể ông, sau khi thoát chết hàng trăm trận, vốn có chút ít kinh nghiệm tác chiến, được học qua học viện quân sự cao cấp, tôi về làm tư lệnh sư đoàn, thế thôi.
TRẦN THÙY MAIDường như chẳng bao giờ Hà Nội lại rét cắt da như mùa đông năm ấy. Tôi và Ngân chuẩn bị ra xuân sẽ cưới nhau.
LÝ HOÀI XUÂNChị Hạnh hơn tôi những mười tuổi; nghĩa là năm chị biết nhảy cò cò, chơi ô quan thì tôi “oa oa” cất tiếng chào đời. Nghe đâu khi tôi còn ngậm vú mẹ, thỉnh thoảng chị bồng tôi đi chơi nhà hàng xóm.
VŨ THANH HOA1. Bà thầy bói xòe bàn tay có các móng tô đỏ trầy xước, vuốt nhẹ những con bài úp lên nhau thẳng tắp, đoạn bà nhắm mắt, miệng khấn lầm rầm...
LÊ MINH KHUÊ- Anh thấy cậu như thằng bị điện giật ảnh hưởng não bộ thần kinh suốt mấy ngày ù lì ủ rũ. Sao từ hôm bay về Miami đến nay cậu đốc chứng thế. Thật khác hẳn mọi lần. Nghĩ đi nghĩ lại thấy thời gian cho mỗi đời người đâu có bao la bát ngát mà thấy thằng như cậu không tính đếm đong đo rồi yêu đời mà sống.
DƯƠNG THÀNH VŨTiếng súng đã ngưng bặt từ lúc trời sẫm tối. Bị kẹt lại ở khu vực giáp ranh ngoại ô thành phố, người lính ẩn mình vào hàng rào dâm bụt, ở góc vườn sau một ngôi nhà tường xây mái ngói theo kiến trúc cổ truyền.
Nhà văn Dạ Ngân nghỉ việc công sở mấy năm nay, trở về tổ ấm của mình lặng lẽ “chép” lại những vết son trên chặng đời đã qua. Truyện gửi tới Sông Hương dưới đây là góc nhìn rất hẹp về chiến tranh song mở ra trước độc giả nhiều ngã rẽ với một Xuân nữ lỡ mang kiếp đào hoa mà bạc phận cho những người đàn ông từng “hành quân” qua cuộc đời chị. Trân trọng giới thiệu.S.H
CAO LINH QUÂNCó một con Dã Tràng sống ngoài bãi biển Nha Trang.
HÀ KHÁNH LINHĐàn ông tích khí là ngọc, đàn bà tích khí là tặc. Cha nói với mẹ như thế về cô, rồi khen cô suốt một đời trinh bạch, mà vẫn giữ được nết hạnh đoan trang, hiền hòa, dịu dàng và vui vẻ, chứ không khó tính như những phụ nữ có hoàn cảnh tương tự.
NGÔ THỊ KIM CÚCCó ba người bên trong căn phòng nhỏ ấy, căn phòng tập thể dành cho cán bộ độc thân, rộng không đến mười mét vuông. Cửa phòng đóng kín, để chỉ có họ với nhau, cùng những đồ dùng khiêm tốn.
ĐÔNG HÀThả xuống con đường đất đỏ lô hàng cuối cùng xong, tôi rồ ga chạy nhanh vào phía nhỏ hơn của con đường dài ngoằng từ đây về rẫy. Năm mươi cây số cho ba chục phút giữa hun hút rẫy rẫy và rẫy không khó, nhưng sẽ lớ quớ nếu tay lái chệch vào gốc cây đâu đó trong bóng tối chập choạng nhô ra. Nơi đó An đang đợi tôi.
HÀ KHÁNH LINHNgười lính canh chuyển dịch thế đứng của mình trong phạm vi một viên đá lát, khẽ ngửa mặt nhìn vầng trăng vừa ra khỏi đám mây đang dịu dàng tỏa ánh sáng xanh biếc xuống thanh đoản kiếm - chuôi nằm gọn trong lòng tay anh, mũi cắm xuống mặt đá.
NGUYỄN NGỌC LỢIVùng quê đó mấy năm nay có nhiều người đổi đời nhờ nghề mua bán đồ đồng nát. Sắt thép nhôm nhựa, mua đi bán lại cũng thành nhà thành xe... Người ta đập nhà cũ xây nhà mới, mua ô tô, lên đời xe máy... làng xóm đêm ngày rộn rịch chuyện làm ăn buôn bán.
TRẦN THÙY MAILàng tôi nằm ven bờ sông Hiếu, một ngôi làng nhỏ nép sau lũy tre xanh, trông xa như một đám mây dày màu xanh lục nổi lửng lơ trên mặt nước. Tưởng chừng tuổi thơ tôi gắn liền với tiếng lá tre khua xào xạc: sau này, khi tôi đã đi rất nhiều nơi, mỗi lần vọng tưởng về quê, cái âm thanh mơ hồ buồn buồn ấy cứ gieo vào hồn tôi một cảm giác gì mênh mông, khó tả.
MAI NINHNgười đàn bà mở mắt đúng lúc thân sồi già đổ ập. Lũ chim rừng chưa kịp ngừng tiếng kêu thất đảm giữa đám cây đã gẫy gọn dưới sức gió hung bạo, lại đồng loạt ó lên kinh hoảng, cánh đập cuồng trong bóng tối đen khẳn. Bà ta nằm bất động giữa vùng âm thanh xoáy lốc, hỗn loạn gió và chim. Mọi giác quan tê liệt, không gian ngoài và trong đều mù loà tăm tối. Như thế, cho đến lúc gió ngừng và tia mặt trời lách qua được vùng lá cây đặc khít, rọi đúng vào hai tròng mắt dưới làn mi mỏng tanh của người đàn bà thất lạc.