Thanh âm phía biển

14:40 27/10/2017

NGUYÊN QUÂN  

Quán cà phê nằm bạ dưới gầm cầu, một con đường nhỏ hẹp chạy ngang qua quán.

Ảnh: internet

Nhỏ hẹp nhưng là đại lộ của làng, là con đường huyết mạch duy nhất nên mỗi ngày vẫn nườm nượp đủ loại người, hàng hóa quê nhà chảy trước mặt quán, chảy thường hằng qua những đôi mắt hững hờ của những người đàn bà bị mê hoặc bởi những lá bài nho nhỏ, luôn xòe rộng hình chiếc quạt.

Những con bài bốn màu chấp chới theo những đôi triêng gióng rau dưa, cá mú kẽo kẹt, tiếng cười đùa hồn nhiên râm ran của vài đứa bé học sinh từ ngôi trường tiểu học, âm thanh nhạc điệu thời chinh chiến xa xưa trào ra từ chiếc loa to tướng cột cứng yên sau của chiếc xe gắn máy cũ mục bám đầy bụi đỏ của gã bán kem, của mấy chú gà trống gầm gừ vỗ cánh, giương cựa truy sát nhau trong chiếc lồng lưới chuôn vuông không đầy mét, cộng hưởng giọng hò hét cổ vũ hết cở hưng phấn của những người đàn ông gân guốc đen đúa đặc trưng của dân đi biển ăn sóng nói gió, thỉnh thoảng trên mặt cầu lại thả xuống tiếng ầm ầm của những chiếc xe trọng tải lớn, làm rung rinh như một cơn địa chấn. Cái thế giới thanh âm dưới gầm cây cầu vừa vắt ngang con đường độc đạo dẫn về ngôi làng cuối cùng nằm sát biển, vừa nối qua vùng đầm phá nước lợ lớn nhất Đông Nam Á. Cầu và dưới gầm nầy là một bản hợp xướng ngồn ngộn cung bậc cuộc sống hiện hành.

Gã bán kem, cái nhân vật khá nổi bật trong cái xã hội thu nhỏ dưới gầm cầu, không của riêng chi mấy đứa bé quàng khăn đỏ bên kia sân trường ríu rít bu quanh chuyền tay nhau những cây kem nhỏ bé, cũng đủ loại sắc màu xanh đỏ vàng tím. Mà hầu như gã là người nhạc trưởng của cả bản hợp xướng đa âm tồn lưu dưới gầm cầu. Xoay vần quanh gã bán dạo những cây kem và những câu chuyện dưới xã trên huyện rơi ra từ khuôn miệng khá có duyên, đầy nam tính, luôn sùm sụp dưới chiếc mũ vải rộng vành màu ô liu. Gã bán kem dạo luôn dừng lại dưới gầm cầu rất đúng giờ tan học của ngôi trường tiểu học, giờ nghỉ trưa của công nhân xưởng đóng tàu, nằm bên kia đường. Nơi sát mép bờ đầm phá, luôn tấp nập những con tàu đánh bắt xa bờ và đủ loại đò giang ghe mảng, chuyên canh trên vùng nước lợ rộng ngút mắt. Giờ mà gã bán kem thò mấy ngón tay chai sần, to bè như trái chuối rung long cong cái chuông đồng cũ nát đen đúa, treo trước ghi đông chiếc xe máy cà tàng. Cũng là lúc tiếng trống trường tiểu học và hồi còi lanh lảnh báo hiệu giờ tan tầm của xưởng.

Sau hồi chuông đồng của gã bán kem là thế giới âm thanh dưới gầm cầu lại vồng lên cao độ. Những người đàn bà vội xếp lại bộ bài tứ sắc, chuẩn bị buổi ăn trưa cho ngư phủ, công nhân đóng tầu. Khói bếp trộn lẫn với bụi đường, lũ trẻ em tràn từ sân trường ra, tíu tít hòa vào người lớn, nhạc điệu từ chiếc loa trộn chung với thanh điệu sống động nồi niêu soong chảo va chạm tất bật vào nhau. Giọng đọc rì rào trôi chảy bản tin thời sự của xướng ngôn viên trên cái ti vi, pha tạp với lời kể nóng hổi chuyện đánh ghen, trộm cắp, đám ma, đám cưới từ làng trên đến xã dưới, từ quốc nội đến quốc ngoại bằng chất giọng hài hước châm biếm của gã bán kem... cứ cuộn trào... cuộn trào như một cơn thần triều hỗn âm liên miên bất tuyệt.

Tôi bất chợt liên tưởng đến chiếc đèn kéo quân mà thời trẻ dại cứ mê mẫn đuổi mắt theo những hình nhân, hình thú. Xoay vòng xoay vòng liên tu bất tận theo thứ định luật bất biến quanh tâm điểm của một chiếc trục vô hình. Lại một chiếc đèn kéo quân cho mười ngày. Cái thời gian ngắn ngủi lưu trú ngôi làng ven cửa biển trong đợt thực tế sáng tác. Cũng chỉ là quán tính xoay vần theo một nhịp điệu buồn tẻ của đoạn đường từ nơi ở đến nơi ăn, của buổi tinh mơ thức dậy chạy chân đất ra biển, lao thẳng vào sóng để tìm cảm giác rồi chẳng tìm thấy gì vào từng buổi chiều chạy xe lên đứng giữa cây cầu, nhìn mông lung lên nguồn núi xanh luôn cõng ngang lưng vòm mây trắng, nhìn phía cửa biển lác đác vài chiếc tàu neo đậu... Để chẳng biết viết gì ở một nơi đã từng một lần đến làm đúng bổn phận một bóng hình nhân xoay quanh chiếc trục vô hình.

*

Là lần thứ hai tôi đến đây đi thực tế sáng tác văn học; cái vỏ bọc vừa mỏng manh yếu đuối vừa lãng nhách giữa những ngư dân rắn rỏi cuồn cuộn cơ bắp, ăn ngang nói thẳng, sống thực tế sôi động như những triều sóng vỗ liên hồi lên bãi cát, lên cái ghềnh đá đen trũi. Mười năm trước, một khoảng cách thời gian rất dài, đủ để biến động cuộc sống của tôi đi từ diệu kỳ đến kỳ dị. Ở thành phố, nơi tôi mang hộ khẩu thường trú luôn thay đổi chóng mặt, từ nội tại đến ngoại giới, từ những ngôi nhà cao vọt lên từng giờ, đến cuộc sống hối hả tất bật gần như vô cảm. Khiến lớp người chưa kịp nhận thức tuổi già đã đến như tôi, phải nhanh chóng co rút lại trong chiếc vỏ vô ngôn vô vị, khép kín mình trong căn nhà làm tù nhân chung thân tự nguyện giữa bốn bức tường. Lớp trẻ nhỉnh hơn một chút, cũng vội vả ném đi tất cả hoài bảo tốt đẹp để kịp bám víu chiếc phao cứu cánh lao thẳng tất cả sinh lực vào nỗi ám ảnh vật chất thời thượng bất chấp thủ đoạn đa đoan nghiệt ngã ngay với chính bản thân, âm vực mưu sinh, ngôn ngữ giao tiếp với cuộc sống tham muốn hình thức thường ngày cũng trở thành sự đánh đố vô tưởng.

Còn ở đây, ngôi làng ven cửa biển nầy, mười năm rồi cũng chẳng thay đổi gì nhiều, nó chỉ có thêm cái gầm cầu. Một hiện hữu mà mười năm trước khi tôi đến cũng là lúc người ta bắt đầu khởi công xây dựng, cây cầu mà ngày đó tôi đã dự cảm sẽ làm thay đổi nếp sống cô lập buồn tẻ cả vùng đất bên nầy lẫn bên kia đầm phá. Sự dự cảm ngày đó của tôi, chỉ đúng được một nửa, phía bên kia đã không còn là những ngôi nhà lụp xụp bị cô lập giữa núi rừng không đường đi, không điện nước, phương tiện nối với bờ bên nầy, chỉ những chiếc thuyền nhỏ bé dập dềnh băng ngang cái biên độ của sông và biển. Sự giao thoa giữa cái ngọt và mặn thì luôn không bình yên êm ả, nó là biên độ trăn trở hòa nhập đầy tiếng gầm gào cuồng nộ sóng gió, nhưng bây giờ vùng đất chó ăn đá gà ăn muối ấy, sau khi có chiếc cầu thông thương, đã trở thành vùng đất vàng của những công ty du lịch cao cấp dành cho tầng lớp quý tộc.

Riêng bên nầy vẫn chỉ là ngôi làng chài truyền thống trầm tích văn hóa vượt biển, vẫn luẩn quẩn mùi của cá, của muối mặn, của những chuyến ra khơi, những lần quay về lặng lẽ từng gương mặt dày dạn phong trần bên cái âu thuyền. Mười năm trước hay lâu hơn nữa, chưa có gã bán kem và cái thanh âm ngồn ngộn hiện sinh dưới gầm cầu, đây phải chăng là một sản phẩm do cây cầu bắt qua đầm phá mang lại. Nó thật sinh động, không trầm lặng tịch mịch như ngôi làng đang cưu mang nó. Những người đi cùng đoàn với tôi cũng đã thành thiên cổ, họ không kịp hình dung ra vẻ đẹp hùng vĩ và tác dụng chiếc cầu mang lại và cái họ để lại trong chiếc đèn kéo quân thời ấy, là chút hoài niệm, là vài bài thơ, khúc hát ca tụng một công trình thế kỷ của vùng cửa biển mà hầu như người dân ở đây chẳng ai còn nhớ nổi một gương mặt của họ.

Tôi cũng là một hoài niệm cỗ lổ còn trở về ngồi đây với cái quán cà phê, với đủ thứ tạp âm và câu chuyện của mình. Một câu chuyện tình ngắn hạn như thứ ký ức mù mờ về người đàn bà thích xòe những con bài tứ sắc nhỏ bé, thành hình chiếc quạt. Mười năm trước tôi đã thua một canh bạc với chính mình, khi chẳng dám vượt qua cái đầm phá mênh mông nơi cửa biển đầy thanh âm nộ cuồng sóng gió giao hưởng giữa vị ngọt và mặn để một lần được đặt chân qua bờ bên kia...

Trại sáng tác Vinh Hiền 2017
N.Q  
(SHSDB26/09-2017)




 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • NGÔ DIỆU HẰNG 

    Ngày ngày nhìn qua cửa sổ, thấy bạn bè tung tăng đến trường, những tà áo trắng bay thướt tha trên đôi bánh xe đạp xinh xinh tôi lại ngồi co rúm mình vào góc phòng.

  • NHỤY NGUYÊN

    Cô hướng dẫn viên trẻ, giọng mềm và nhẹ, cho hay động Thiên Đường được phát hiện nhờ một người dân tộc. Từ thời điểm động được đưa vào khai thác, những hang động khác giảm hẳn lượng du khách. Người ta chỉ muốn đến thiên đường. 

  • ĐÔNG HÀ

    Dịu nói nàng sẽ đi.
    Tôi ậm ừ qua chuyện. Tôi nhủ Dịu rời nơi này cả chục bận, lần này thứ bao nhiêu, tôi không buồn đếm, nhưng biết chắc nàng chưa đủ can đảm bước đi, dẫu chỉ là bước thứ nhất. Chặp đâm ra chỉ biết ậm ừ.

  • THÁI NGỌC SAN

    Người đàn ông ôm cái cặp da to tướng bước nhanh vào phòng khách vận nhà ga. Cái cặp to gần bằng nửa người ông ta so với chiều cao. Thế nhưng mọi động tác của ông đều nhanh nhẹn, linh hoạt đến láu lỉnh. Có lẽ đó là đặc tính bẩm sinh của những người lùn.

  • VŨ MẠNH LẬP

    Cây ngô cao vồng lên giữa bãi, lạ lắm.
    Già A-nông thầm đặt cho nó cái tên: cây ngô chướng.

  • VÕ MẠNH LẬP 
                 Truyện ký 

    Ông nội tôi nghèo của, nhưng giàu con. Ông có những hai mươi hai người con, tài sản của những ba bà. Tất cả theo nghiệp con trâu đi trước cái cày theo sau. May mắn thầy tôi rẽ ngang theo con đường học chữ Hán, chí thú tìm thầy học bạn, mở hiệu bán thuốc bắc, bắt mạch, đoán bệnh.

  • PHẠM PHƯƠNG  

    Đỉnh núi dựng đứng, lởm chởm cây bụi và những vỉa rêu xõa xượi dưới không gian trầm buồn sương. Buổi sớm, con chó to lớn tập tễnh bước trên đường.

  • HOÀNG NHẬT TUYỀN

    - Nhắn chú ấy chiều nay vào ngay. Vào ngay đây! Tôi chẳng sống được mấy ngày nữa đâu thím Đóa à!

  • NGUYỄN THỊ KIM THOA

    Em có cái tên mộc mạc như củ khoai củ sắn, như trái thơm trái cà ở nhiều vùng quê thôn dã: Lê Thị Sim.

  • NGUYỄN LAM THỦY

    Người Hung gọi chị ta là “thiếu phụ quàng khăn đỏ”. Nhưng chị ta chẳng bao giờ quàng khăn đỏ, bởi tên chị ta là Piroska. (Piroska tiếng Hung khi còn bé gọi một cách trìu mến có nghĩa là “cô bé quàng khăn đỏ”, khi lớn lên đi lấy chồng thì gọi “thiếu phụ quàng khăn đỏ”).

  • DẠ NGÂN

    Tờ giấy màu vàng rơm. Đã khá xa cái thời giấy hoàn toàn tái chế, thỉnh thoảng ngòi viết vấp phải một ít cặn bột cứng sảng. Thùy vẫn nhớ độ thô vàng vàng của tờ giấy, như nhớ một kỷ niệm buồn, nhớ mùi vị ngậm ngùi từ ký ức xộc ra. Tờ thư là dấu hiệu của nghèo khó nhưng nó có cái uy của sự áp đặt. Thô và vàng. Không chỉ thư mời, nó có hơi hướm giấy triệu tập hơn.
     

  • LÊ MINH KHUÊ

    Xe vừa dừng thì từ phía ghế lái phụ có tiếng đập cửa gấp gáp. Vĩnh chồm dậy, mắt nhắm mắt mở. Nhưng không. Có phải báo động máy bay đâu? Vĩnh quay sang tôi nhe răng cười và mở cửa.

  • ĐINH DUY TƯ

    Tin ông Khòa từ chức bay ra như một ổ mối cánh lúc trời mưa. Người này nói với người kia, truyền vào tai nhau lượng thông tin nóng hổi nhất. Họ đánh giá, phân tích và bình phẩm, kèm theo những kết luận theo cách nhìn nhận của mình.

  • PHẠM DŨNG

    Thay xong bộ đồ ngủ, định đi nằm thì Diễm Trinh thấy trên bàn có một tờ giấy đánh máy.

  • ĐỖ HÀN

    Bân trằn trọc mãi không ngủ được. Thế là lại mất toi con hổ mang nữa. Bữa trước vợ Bân cho rắn ăn, quên không đóng cửa chuồng. Một cặp hổ mang và một con hổ chúa bò ra ngoài. Dân làng đi xem văn công về, nhìn thấy một cặp rắn, họ kêu ầm lên. Bố con Bân phải vất vả lắm mới túm được đôi hổ mang. Con chúa chuồn đi mất.

  • LÝ THỊ MINH CHÂU

    Con đường len lỏi qua những cánh rừng nối các buôn bản vùng cao lại với nhau giống như con rắn khổng lồ trên lưng có vệt vảy trắng.

     

  • PHÙNG PHƯƠNG QUÝ

    Cuối buổi họp, “Thừa tướng” còn cho Trưởng ban Văn-Xã lên có đôi lời phát biểu. Thanh than thầm: “Thôi rồi Lượm ơi!”. Thằng lùn này nó nói dai còn hơn trâu đái.

  • NGUYÊN QUÂN

    Những giọt nước mắt lăn tròn rơi xuống giữa lòng chén ngọc. Từng giọt... từng giọt xóa nhòa dần hình bóng con thuyền. Chén vỡ tan ra từng mảnh nhỏ, hồn thoát khỏi tình yêu hóa ngọc, bay vút vào không gian mang theo điệu sáo não nùng, cõi lòng oán uất.

  • TRẦN HƯƠNG GIANG Trong sân chùa chỉ còn lại Hương và chú tiểu. Cây liễu rũ thả những nhành lá lắc lay, qua ánh nắng lấp loáng hình dáng chú tiểu đang quét sân, lâu lâu chú nhìn Hương cười đầy thiện cảm.

  • MƯỜNG MÁN Những ngọn đèn mầu ẩn dưới tán lá phả xuống mặt đất thứ ánh sáng vàng nhạt, xanh dịu, tím loãng tạo khung cảnh huyền hoặc giả. Những chiếc bàn vuông thấp kê rải rác dưới các vòm cây.