Đi xe đò ra Đông Hà thì mưa ập đến. Minh rủ tôi:
- Ta vào chợ vừa xem hàng, vừa nấp mưa.
Vào đến cổng chợ, hàng ngoại bày bán la liệt.
- Hai ông anh mua dù đi, dù Thái hẳn hoi, hết chê...
Một em môi đỏ chót mời chào.
Tôi nói vui:
- Dù Thái hay dù Mèo cũng phải mua, mưa thế này không có áo nhựa, thì chỉ ngồi nhờ quán em mà ngắm trời. Giá bao nhiêu!
- Năm mươi ngàn đồng ông anh ạ. Miệng liến thoắng phân bua, thuế nọ thuế kia, công an thuế vụ, chẳng lời lãi gì mấy. Miệng nói mắt cười, tay cầm cái dù đỏ cụp xòe lia lịa.
- Sao đắt vậy! Ở Huế có bốn mươi lăm ngàn đồng.
Cô gái bán hàng bị hẫng, không ngờ mấy cha phiêu lãng nắm chắc giá trị trường. Thực ra tôi nói đại vậy chứ có đi ra chợ Đông Ba, Đông Bảy gì đâu.
- Thôi bốn chục ngàn. Không mai bọn tôi đi Khe Sanh mua. Minh trả vậy rồi đưa cái dù cho cô gái.
- Không lời một cắc, nhưng buổi sáng may xưa. Thấy vía ông anh nghệ sĩ, bán để lấy hên.
Chúng tôi chọn hai cái rồi trương ô đi giữa mưa đường phố Đông Hà.
Khi về đến nhà, nhìn chữ thì ra dù Singapo. Thái hay Po thì cũng là dù ngoại, chắc xài được lâu.
Ai ngờ chưa hết mùa mưa dù bị kẹt cứng. Gặp mưa giữa phố, cần trương dù thì nó không chịu bung ra cho. Bạn tôi cười:
- Hóc rồi, cho nó một be Huđa là nó xòe ngay.
Hôm sau tôi cho nó uống đầy luyn mà vẫn bị kẹt. Tôi bực, ném dù vào xó nhà.
Tình cờ, tôi thấy bên lề đường phố Trần Hưng Đạo có anh thợ còn trẻ với cái bàn gỗ dân giã: SỬA DÙ.
Tôi tức tốc về nhà đem dù đi sửa. Vợ tôi càu nhàu: "Tối còn đi đâu!" Tôi bỏ ngoài tai.
May quá anh thợ nhận sửa rất nhiệt tâm..
- Vâng, bác chờ tý xíu thôi.
Anh ta dùng cái nan hoa xe đạp đập bẹp loay hoay chừng mười phút cái dù trương, cụp như mới.
Ít nhất cũng năm ngàn. Tôi nghĩ vậy. Nhưng không ngờ anh ta chỉ lấy có một ngàn.
Tôi đưa tờ giấy bạc hai ngàn đồng cám ơn rối rít, người thợ sửa dù lục túi tìm tiền thối lại.
- Anh cứ cầm lấy, tôi hay đi qua đây.
Nói vậy để anh yên tâm chứ hai ngàn đồng còn là rẻ. Nhưng người thợ không chịu, đòi đổi tiền để trả, đang dùng dằng thì trời đổ mưa. Tôi vội vã tìm nơi ẩn nấp.
Đây là phố giàu sang ở Huế, những tiệm vàng bạc óng ánh phát quang với các tên hiệu: Kim Chi, Ái Hương... rồi những tiệm đồng hồ, tivi, cát xét đời mới.
Vào nấp không tiện, tôi đi thẳng. Trời mưa to có dù che vẫn ướt. Liền nhớ ra có anh bạn làm Giám đốc công ty ở một con đường gần đây. Cố đạp đến đó, một công đôi việc: thăm bạn, tránh mưa.
Vợ giám đốc còn xuân sắc. Thời kỳ chồng mới làm giám đốc chị ta lộng lẫy như bà hoàng. Mấy lần trước chị tiếp tôi ừ à cho qua chuyện, rồi bỏ đi rất tế nhị. Bây giờ trước mặt tôi, chị ta đon đả pha trà. Nhà cửa như bị xáo trộn.
- Anh Hà đi đâu chị?
Không trả lời câu hỏi, chị ta rót nước và phân bua:
- Các cháu đi học cả.
Thời gian trôi chậm rãi, im lặng đến dễ sợ. Nhìn trời mưa lơ đãng, tôi tìm cách rút lui.
- Anh Hà đi Hà Nội hơn tháng nay.
Tôi nhìn vợ giám đốc, cớ rút lui đây rồi.
- Có việc gì vậy? Tôi hỏi?
- Thì chuyện làm ăn ở công ty, đài báo đưa tin om sòm. Anh còn lạ gì!
- Tôi đâu có biết!... Rồi đứng dậy cáo từ.
- Trời đang mưa to, làm gì mà anh vội thế?
Chị ta cầm tôi lại, kể trọn vẹn sự đổ bể công ty từ A đến Z, giám đốc Hà có nguy cơ hầu tòa.
- Nhưng đi Hà Nội thì giải quyết được gì! Tôi thật thà hỏi.
- Ấy chết, có chứ anh. Mọi việc có liên quan từ Hà Nội đến Sài Gòn rồi cả bên Lào. Nhưng ở Hà Nội mới là quan trọng. Anh Hà nhà em đi là cốt nhờ vào lúc này.
Nhìn cái dù của tôi cụp xuống dựng bên tường nhà, chị ta phân bua: “Trong khi mưa bão có dù che chắn đỡ ướt”.
Tôi ngồi im như tượng đá hồi lâu... Thì ra vậy.
- Chắc tốn kém cho chuyến đi không nhỏ, tôi đưa mắt nhìn.
Vợ giám đốc trả lời:
- Em đưa nhà em năm cây.
Làm sao mà tôi tin lời người đàn bà này? Có thể ít hơn có thể nhiều hơn số vàng chị ta nói.
- Vốn liếng cả nhà có vậy. Chị ta nói thế. Thiên hạ đồn đại chứ tụi em có gì đâu! Nhờ Phật nhờ Trời, nếu không qua được thì anh Hà đành lên trại BĐ đi giữ bò hay cắt tranh, chứ biết làm sao? Chị ta lau nước mắt.
Ngồi lại chỉ thêm rách việc, vả trời đã mưa nhỏ hạt. Tôi cáo từ, khi bước ra thềm vừa dương ô, chị ta còn nói thêm:
- Anh quen với nhà báo nhờ anh nói giúp một tay.
Thì ra Hà đi mua cái dù nội đến hàng chục triệu đồng để che đỡ một cơn mưa, mới biết dù ngoại tôi mua rẻ chán...
Huế, mùa mưa 93
N.L
(TCSH60/02-1994)
Tải mã QRCode
NGÔ HỮU KHOA Hắn nằm sõng soài, hai chân trần thả sát mép nước, đầu gối trên đôi dép lê có cái quai bị đứt được nối lại bằng một mẩu dây thép.
NGUYỄN KHẮC PHỤCÔng X nổi tiếng đến nỗi, chỉ cần tôi nhắc tên ổng trước mặt bạn, bạn sẽ ồ lên đầy vẻ háo hức và lẩm nhẩm hát ngay một giai điệu nào đó trong một bài hát nào đó của ông.
NGUYỄN QUANG HÀLúc bố đi bộ đội thì Nguyệt còn nhỏ lắm. Nhưng Nguyệt vẫn nhớ rất kỹ ngày đơn vị bố hành quân đi B, qua làng. Bố ghé tạt thăm nhà một tí thôi là đi ngay.
CAO DUY THẢOThằng cu con chào đời vào buổi sáng. Buổi chiều, có một cô bé hàng xóm sáu tuổi lần theo tiếng trẻ khóc, tìm đến trước hiên nhà. Cô bé thận trọng bíu lấy bậu cửa sổ, cặp mắt đen tò mò và hai cái dảnh tóc bé xíu vinh lên như hai ngọn bút lông.
ĐINH DUY TƯChiếc xe hồng thập tự chở đến bệnh viện một bệnh nhân tâm thần. Chị ta có thể gọi là một cô gái, hai mươi chín tuổi, có chồng làm thợ rừng. Cách đây mấy hôm, đột nhiên chị ta lên cơn điên dữ dội. Theo người nhà bệnh nhân cho biết, chị ta luôn miệng kêu gào tên một người nào đó.
LTS: Tưởng nhớ đến những ngày hoạt động sôi nổi của nhà thơ Thanh Hải trên chiến trường Trị Thiên những năm đánh Mỹ, chúng tôi giới thiệu cùng bạn đọc một truyện ngắn của anh viết từ năm 1973.
NHỤY NGUYÊN
Mẹ không ngủ suốt mấy canh giờ. Đêm trắng. Với mái tóc mẹ trắng. Dưới chân tượng Phật trắng. Tiếng mõ đều. Tiếng mõ không tắt trong giấc mơ kinh hoàng của nàng. Giấc mơ trắng. Không máu. Chỉ là trắng bất tận.
HỒNG NHUChợ của phường đặt tại một vị trí khá lý tưởng. Nói như vậy là vì nó chẳng đụng đến các phường khác và cái chính là thuận lợi cho việc mua bán của người dân.
THÁI NGỌC SANMới nhìn qua gã có vẻ hung dữ, một người làm người khác luôn luôn phải cảnh giác trước khi đến gần. Một vết sẹo chạy từ đỉnh trán bẻ quặp xuống khóe mắt phải như muốn kéo con mắt gã ra khỏi tròng. Đôi môi dày nứt nẻ, tím đen mở toang hoác giơ cả hàm răng vàng khè nhụa bẩn.
HỒ NGỌC DIỆPKhông biết ai đã trồng rừng mai ở làng Đông Dương nầy lúc nào? Khi chúng tôi lớn lên thì đã thấy nó. Ngày trước, cứ đến tết xuân sang, người Ba Đồn lên, người Hướng Phương xuống, người Quảng Hợp, Quảng Kim vào, cứ theo sở thích mà cắt, mà chặt mai đưa về cắm độc bình. Cứ thế, mai mỏi mòn, xơ xác. Có cây chỉ trơ lại gốc. Có cây chỉ còn thân, cằn cỗi, khẳng khiu.
TRIỀU NGUYÊNPhòng họp không lấy gì làm sáng sủa cho lắm. Chỉ độc một bóng đèn treo lủng lẳng trên đầu người thư ký, với trang giấy mỏng manh, nằm gọn dưới bàn tay to bè của anh ta.
VÕ THỊ THÚYĐây là tập thơ tôi rất thích, mang tặng em, chỉ mong em giữ nó và dù hoàn cảnh nào cũng hãy giữ hộ tôi.
VŨ ĐẢMTôi tròn năm tuần tuổi, mẹ tôi mới biết mình có thai. Đang đêm, mẹ tôi hốt hoảng đến nhà người đàn ông, người mà mẹ đã ăn nằm từ bấy lâu nay. Mẹ gõ năm tiếng rời rạc vào cửa làm ám hiệu, mất ba lần điện trong nhà mới bật sáng.
NGUYỄN VIỆT HÀĐạo diễn và cô bé hẹn nhau, một cái hẹn rất lãng mạn. “Anh qua trường đón em rồi chúng mình sẽ lên Hồ Tây chọn một quán thật yên tĩnh”. Đạo diễn đứng chờ không bâng khuâng không hồi hộp. Khi qua nhiều cuộc tình người ta bình thường điềm đạm.
MINH CHUYÊN Truyện ký
HẠNH LÊSáng thứ sáu, mẹ vợ bảo “chiều nay con cố gắng về sớm lên thăm mộ ông Phương với mẹ”. Tôi gật đầu “dạ vâng” rối dắt vội xe ra cửa. Năm nào cũng thế, cứ vào ngày giỗ ông Phương, hai mẹ con lại chuẩn bị đèn nhang viếng mộ ông.
NGUYỄN THẾ TƯỜNGChiếc xe “Oát” phanh kít lại ngay trước phòng văn hóa thông tin, xuýt húc đầu vào cái lốp xơ cua gắn sau một chiếc “Oát” khác đang nằm trì trước đó.
PHAN VĂN LỢI (Tiếp theo Sông Hương số 254 tháng 4-2010)
NGUYỄN CẨM HƯƠNGCâu chuyện tôi sắp kể đây, có thể nhiều người không tin. Nhưng không tin thì thôi tôi cũng chẳng ép. Bởi vì nó cũng khó tin như chuyện cổ tích.
TRẦN CHINH VŨTầu về đến ga vào lúc ba giờ sáng. Anh như người chợt tỉnh sau một giấc ngủ chập chờn. Suốt ba mươi tiếng đồng hồ ngồi ròng rã trên tàu, trong một khoảng không gian dài hẹp, cùng với mọi tiếng động ầm ĩ.