1. Giấc mơ/mộng trong văn hóa và trong văn học
Giấc mơ là hoạt động tâm thần, không phụ thuộc vào ý chí, diễn ra trong giấc ngủ của con người; và vì vậy, không điều gì thân thiết mà xa lạ với bản thân như giấc mơ của chính mình. Bằng lý trí sáng suốt của mình, con người nảy ra ý tưởng chọc thủng những cánh cửa thực tại này bằng cách khảo sát, khám phá giấc mơ. Chúng ta sẽ thực sự biết rõ mình, và số phận của chúng ta sẽ được vén màn, thực tế cuối cùng sẽ hiển lộ. Giấc mơ cũng như chính con người có một lịch sử song tồn và thống nhất.
Trong những kinh sách, những tác phẩm đầu tiên của nhân loại còn lưu truyền lại thường kể về sự hình thành tôn giáo hoặc thần thoại của các dân tộc, những giấc mơ thường mang tính tiên tri, do các vị thần gửi xuống và thông điệp của chúng là những viễn tượng sẽ được giải mã từ các biểu tượng, ký hiệu đặc biệt gắn với truyền thống văn hóa hoặc hoàn cảnh cụ thể của người nằm mơ. Giấc mộng vừa chân thực (đã xảy ra) vừa xa lạ (các sự kiện và ý nghĩa của nó). Con người vừa khao khát giải mã giấc mơ vừa lợi dụng nó như một công cụ hữu hiệu.
Văn học là hình thức nghệ thuật phản ánh và sáng tạo đời sống bằng hư cấu, tưởng tượng; mộng tự thân cùng bản chất với hoạt động sáng tạo của người nghệ sĩ. Sự hiện diện của mộng trong đời sống văn học nghệ thuật không đơn thuần là chất liệu, phương tiện mà còn trực tiếp thể hiện chủ đề tư tưởng, can dự vào toàn bộ kết cấu tác phẩm và tiết lộ bản chất của nghệ thuật. Phụ thuộc vào trình độ tư duy của thời đại mà vị trí, vai trò của giấc mộng trong văn học nghệ thuật có sự thay đổi nhất định. Từ xa xưa trong những tác phẩm văn học mang tính chất nguyên hợp (Kinh sách, Thần thoại,...) đã sử dụng giấc mộng như một phương thức để phản ánh và biểu hiện đời sống, cho thấy tất cả nỗi sợ hãi và niềm vui thú của con người thời tiền sử. Trong bi kịch cổ đại, mộng là những dấu hiệu mù mờ về số phận thì con người hiện đại lại xem giấc mơ là phương tiện đạt tới những chân lý bị che giấu mà lý trí không phát hiện được. Giấc mơ vừa hiện diện vừa chìm khuất trong cái nhìn, trong tri giác chúng ta; vì vậy, vượt lên trên phương tiện, chất liệu, motif, giấc mơ tự thân mang ý nghĩa bản thể trong văn chương, nghệ thuật. Nếu trong đời sống giấc mộng phản ánh những nỗi sợ hãi và ham muốn của người nằm mộng thì nghệ thuật nói chung và văn chương nói riêng cũng thường sử dụng motif này như một cách để khắc họa tính cách, đời sống tinh thần của nhân vật. Hơn nữa, môi trường trong giấc mộng là môi trường phi lý tính, ở đó cho phép dung chứa những yếu tố kỳ ảo, huyền thoại khó có thể lý giải bằng logic lý tính. Trong môi trường hậu hiện đại, yếu tố giấc mơ lại được khai thác tối đa, các nhà văn không chỉ chú trọng nội dung giấc mộng mà còn xem bản thân giấc mộng là một phương tiện tự sự, một cách để tổ chức kết cấu tác phẩm.
Mộng nhập vào văn học một cách tự nhiên, vừa như một chất liệu vừa như một yếu tố thi pháp, trong các thể loại (thơ, từ, truyện truyền kỳ, hỷ khúc và tiểu thuyết) và với nhiều hệ hình tư tưởng (Nho, Phật, Đạo). Trong Nam hoa kinh (Trang Tử) với tích nổi tiếng “Trang Chu mộng hồ điệp” và những Nam Kha thái thú truyện (Lý Công Tá), Chẩm trung ký (Thẩm Tế Ký), Hồng lâu mộng (Tào Tuyết Cần - Cao Ngạc) văn học Trung Quốc đã mở ra một motif quen thuộc: motif nhập mộng. “Hoàng lương nhất mộng” của chàng thư sinh họ Lư cũng như hình ảnh nổi tiếng hoa trong gương trăng dưới nước của Hồng lâu mộng: cuộc sống chỉ là ảo ảnh, đời người như giấc mộng, tất cả vinh hoa phú quý, danh gia vọng tộc, sự thay triều đổi đại - sự trôi qua của thời gian,... cũng chỉ là giấc mộng. Giải “giấc mộng kê vàng” hay “giấc mộng lầu hồng” không đơn thuần là tư tưởng nhân sinh như giấc mộng, mà đằng sau đó là bi kịch tinh thần của từng con người cá nhân cụ thể.
Là một trí thức phản tư quyết liệt và là nhà văn sáng tạo không ngừng, Diêm Liên Khoa trong tiểu thuyết Đinh Trang mộng (Giấc mộng làng Đinh Trang) không chỉ nối tiếp truyền thống hiếu kỳ, hiếu mộng trong văn hóa dân tộc, mà còn giải mã giấc mộng hiện đại. Giấc mộng tham gia vào toàn bộ kết cấu tác phẩm Đinh Trang mộng, tự nó trở thành một thiết chế nghệ thuật độc đáo và mở ra chân trời của những giấc mộng trong hành trình sáng tạo nghệ thuật.
2. Mộng trong kết cấu tiểu thuyết
Kết cấu trong phần lớn tiểu thuyết của Diêm Liên Khoa là một điểm cách tân nghệ thuật quan trọng. Khác với kết cấu của tiểu thuyết chương hồi, rất đồ sộ và được tổ chức theo lối móc xích sự kiện giữa các chương và mỗi hồi là một câu chuyện nhỏ khá độc lập về nội dung tư tưởng. Kiểu kết cấu móc xích này coi trọng tình tiết và sự kiện nhưng lại chưa thể hiện được tính nội dung, hệ tư tưởng trong hình thức nghệ thuật của tác phẩm. Đây là điểm khác nhau cơ bản giữa kết cấu tiểu thuyết cổ điển Trung Quốc so với tiểu thuyết hiện đại mà cụ thể là tiểu thuyết của Diêm Liên Khoa. Chính ở điểm tiểu thuyết hiện đại từ chối hầu hết đặc điểm của thi pháp tiểu thuyết cổ điển thì đấy cũng chính là điểm gặp gỡ giữa tiểu thuyết Diêm Liên Khoa và kỹ thuật tiểu thuyết Phương Tây. Đinh Trang mộng là tiểu thuyết có kết cấu hấp dẫn. Thú vị nhất là yếu tố mộng tham gia vào các phương diện của cấu trúc tác phẩm và thể hiện thẩm thấu sâu sắc của Diêm Liên Khoa về tinh hoa văn hóa cũng như cách nhà văn “can dự” vào hiện thực đời sống.
Yếu tố mộng trong tiểu thuyết Đinh Trang mộng chiếm số lượng rất lớn, tham gia vào hầu hết các phương diện thi pháp của tác phẩm như cốt truyện, không - thời gian... Nhưng trong bài viết này chỉ tập trung phân tích yếu tố mộng trong kết cấu bề sâu tư tưởng tác phẩm. Đinh Trang mộng đã tái khẳng định những giá trị tinh hoa của Kinh Dịch, nối liền mạch riêng tư tưởng của Diêm Liên Khoa với nguồn chung văn hóa.
2.1. Mộng và quan niệm về sự tuần hoàn
Xét cấu trúc bề mặt văn bản, cuốn tiểu thuyết của Diêm Liên Khoa được tổ chức thành 8 quyển, với dung lượng dài ngắn khác nhau. Trừ Quyển 1 là nội dung hoàn toàn được trích dẫn từ Cựu ước (Kinh thánh), các quyển còn lại đều được xây dựng trên bối cảnh tương quan giữa thời gian các mùa và những giấc mộng về sự hình thành, phát triển đến đỉnh điểm của “bệnh nhiệt” (AIDS) ở Đinh Trang. Tuy nhiên, cấu trúc về thời gian và sự kiện các giấc mộng trong tiểu thuyết của Diêm Liên Khoa không hoàn toàn tuân theo chu trình thường thấy xuân - hạ - thu - đông mà có những cách tân thú vị: thu - đông - xuân - hạ - hạ - hạ và thu. Thời điểm bắt đầu và kết thúc tác phẩm đều là mùa thu đúng với quan niệm của người xưa về sự khởi đầu và sự tuần hoàn nhưng ý nghĩa về sự khởi đầu và sự tuần hoàn trong tác phẩm Diêm Liên Khoa hoàn toàn bị đánh tráo. Ở các nền văn minh nông nghiệp như Trung Quốc cổ đại, một năm thường bắt đầu bằng mùa thu, khi hoạt động thu hoạch đã kết thúc và hoạt động gieo trồng cho mùa vụ mới vừa hoàn thành. Mùa thu trong Đinh Trang mộng cũng là khởi đầu nhưng là khởi đầu của sự hủy diệt bởi đây là thời điểm dân làng Đinh Trang đã bắt đầu bán máu. Những bệnh nhân đầu tiên được phát hiện vào mùa đông, đến mùa xuân thì những dấu hiệu không thể chữa trị của căn bệnh quái đản lộ rõ và mùa hạ là mùa của sự chết chóc, hủy diệt. Bối cảnh mùa hạ được liên tiếp tổ chức ở các Quyển 5, 6 và 7 tưởng như phá vỡ hệ thống tuần hoàn vốn có, nhưng thực chất là một sự nhấn mạnh, đẩy sự vật tới tận cùng của chu kỳ sinh diệt. Nếu Quyển 5 là đầu hạ, Quyển 6 là chính hạ thì Quyển 7 đỉnh điểm của đại hạn và tột cùng của nhân tính bị hủy diệt. Nếu người dân Đinh Trang vì nghèo đói mà bán máu thì thật đáng thương, nhưng họ đã trở thành những kẻ hận thù mù quáng đến mất nhân tính khi giày xéo ngôi mộ đẹp đẽ của Lương Sơn Bá Đinh Lượng và Chúc Anh Đài Dương Linh Linh, biểu tượng của hơi ấm tình nhân còn sót lại. Nếu Đinh Huy chỉ mua máu và bán quan tài để trục lợi thì còn có thể hiểu được, nhưng hắn bất chấp tất cả làm tiền trên xác con, Tiểu Cường, thì hắn không còn là con người. Nhà văn tập trung nhấn mạnh sự khủng khiếp của căn bệnh, sự méo mó của nhân tính, sự hủy diệt làng Đinh, sự hủy diệt về môi sinh lẫn nhân tính.
Đơn vị thời gian trong Đinh Trang mộng không phải là năm mà được cấu trúc theo mùa, theo chu kỳ biểu hiện sinh lý của “bệnh nhiệt”: thu sinh - đông trụ - xuân dị - hạ diệt. Và nội dung các giấc mơ thường mang ý nghĩa tương đối rõ ràng như một điềm triệu tiên tri, một sự khải huyền, sự hủy diệt hoặc tái sinh. Hầu hết các giấc mơ của ông Đinh Thủy Dương đều nhằm “hiện thực hóa” các sự kiện trong tác phẩm. Hai giấc mộng mang tính chất điềm triệu (ở Quyển 3 và Quyển 6) đều dùng thiên nhiên có biểu hiện khác thường (hoa nở rực khắp cổ đạo Hoàng Hà và Sự hủy diệt mặt trời) để điềm báo về những biến động dữ dội về nhân sinh và nhân tính ở Đinh Trang. Duy nhất chỉ có một giấc mộng về sự hủy diệt ở đầu Quyển 2 và một giấc mộng về sự tái sinh ở Quyển 8, trong đó giấc mộng tái sinh đẫm màu sắc huyền thoại và mang ý nghĩa biểu tượng sâu sắc:
“Đêm đó lại đổ một trận mưa, trong trận mưa như trút ấy, ông nhìn thấy trong bùn đất mênh mông của bình nguyên, có một người phụ nữ tay cầm nhành liễu đi trong bùn chấm chấm, vẩy vẩy cành liễu. Bà vẩy một cái, mặt đất liền có rất nhiều người bùn. Lại chấm, lại vẩy, trên đất lại có hàng ngàn, hàng vạn người bùn bật ra và nhảy nhót, nhiều như bọt nước mưa trên đất, ông liền nhìn thấy một bình nguyên mới đang nhảy nhót” (Diêm Liên Khoa, 2019: 341).
Hình ảnh người phụ nữ đi trong bùn tay cầm nhành liễu chấm chấm, vẩy vẩy gợi liên tưởng đến huyền thoại Nữ Oa tạo ra loài người, và các huyền thoại sáng thế nói chung của nhân loại. Đinh Trang mộng không hoàn toàn là sự tận diệt bởi, dẫu trải qua nhiều thê thiết, đau đớn nhưng Diêm Liên Khoa luôn tin rằng cái ác sẽ bị chế ngự bởi lương tri, đạo đức và nhân tính. Và dẫu chỉ còn lại một mình giữa Đinh Trang tiêu điều, hoang vắng, tĩnh mịch đến thê lương nhưng Đinh Thủy Dương cuối cùng đã nhìn thấy sự hồi sinh đằng sau sự tuyệt tận: “một thế giới mới nhảy nhót” ở những dòng cuối cùng của tác phẩm. Đó chính là hạt nhân của minh triết: vạn vật dịch chuyển theo vòng tròn trung nhi phục thủy (đến chỗ chung cuộc thì trở lại khởi điểm) mà nhà văn đã lãnh nhận và chuyển hóa một cách sáng tạo trong bối cảnh và thời đại mới. Nếu các sáng tác trước như Nàng Kim Liên ở trấn Tây Môn, Phong nhã tụng hay Thụ hoạt,... Diêm Liên Khoa thường dùng tưởng tượng, huyền thoại, yếu tố văn hóa dân gian như một chiếc cầu để bước vào hiện thực, thì ở Đinh Trang mộng hành trình đã đảo chiều, “hiện thực đã trở thành cây cầu nối đến bờ tưởng tượng, là mảnh đất để tưởng tượng thăng hoa” (Minh Thương, 2019, tr.348). Hiện thực khốc liệt đến phi lý do đại dịch AIDS gây ra trên nhiều huyện ở tỉnh Hà Nam, quê hương nhà văn, tự nó trở thành một chất xúc tác, một huyền thoại để khai mở và vén màn một hiện thực khác, khủng khiếp hơn.
2.2. Mộng và sự hủy diệt song trùng
Nếu những giấc mộng của ông Đinh Thủy Dương được thiết lập theo mô hình tuần hoàn, thấm đẫm màu sắc Kinh Dịch thì những giấc mơ trong Quyển 1 được trích dẫn từ Kinh Thánh đã khái quát hóa ý nghĩa của tác phẩm, của sự mộng mị và như một sự truy vấn rốt ráo về bản thể của sự hiện tồn.
Là một nhà văn hiện đại, Diêm Liên Khoa đã không ngừng sáng tạo, mở rộng biên giới của thể loại tiểu thuyết. Tác phẩm của ông dù mang đậm tinh thần của thời đại song tiểu thuyết của ông nói chung lại có rất nhiều yếu tố trích dẫn, giải thích, nhại, liên văn bản (Thánh kinh, huyền thoại,…). Những yếu tố gợi dẫn tưởng như nằm ngoài cấu trúc cốt trung tâm lại trở thành những văn bản, những mô hình xã hội có tính đối chiếu hoặc đồng dạng với mô hình xã hội hiện thực được nhà văn đề cập đến trong tác phẩm. Vì vậy tiểu thuyết của Diêm Liên Khoa rất giàu sức gợi, giàu màu sắc và tư tưởng.
Ở Đinh Trang mộng, ngay từ đầu tác phẩm và trọn vẹn Quyển 1 là phần nhà văn chủ động trích dẫn ba giấc mơ của quan Chánh chước tửu, quan Chánh ngự thiện và Pharaon từ kinh Cựu ước. Theo sách Sáng thế ký, trong cùng một đêm, quan Chánh chước tửu và quan Chánh ngự thiện đều đang bị cầm ngục và thấy chiêm bao. Quan Chánh tửu thấy “cội nho ba nhánh, ông hái nho ép rượu để vào tay vua”. Còn quan Thượng thiện thấy mình “đội ba giỏ bánh và bị chim rỉa ăn” (Sáng thế: 40). Trong một bối cảnh khác, vua Pharaon mộng thấy cùng lúc “bảy con bò béo tốt và bảy con bò gầy guộc, xấu xí; bảy gié lúa tốt, chắc nịch và bảy gié lúa khô lép” (Sáng thế: 41). Điều đặc biệt là bảy con bò gầy sẽ nuốt chửng bảy con bò mập, bảy gié lúa lép nuốt chửng bảy gié lúa tốt tươi. Trước những giấc mơ kỳ lạ của các quan và Pharaon chỉ duy nhất Joseph - vốn là con trai út của Jacob ở xứ Canaan, người bị các anh trai ghét bỏ và lưu đày sang Ai Cập, hiện đang bị giam trong ngục tù, là có thể đưa ra lời giải hợp lý. Ông nói: ba nhánh cây hay ba giỏ bánh đều chỉ ba ngày, nhưng sau ba ngày thì quan Chánh tửu được phục chức, quan Thượng thiện bị xử trảm; và trong giấc mơ của Pharaon, con số bảy biểu tượng cho thời gian bảy năm. Bảy con bò béo tốt hay bảy gié lúa chắc nịch là biểu tượng của bảy năm được mùa, sung túc; còn bảy con bò gầy hay bảy gié lúa lép là bảy năm nghèo đói, mất mùa. Nếu Kinh thánh ghi chép những giấc mộng trên là để nhấn mạnh khả năng phi thường của Joseph - vua giải mộng, thì Diêm Liên Khoa không hề nhắc đến cái tên ấy, mà nhằm sử dụng ý nghĩa của những giấc mộng ấy như một lời dẫn, để người đọc trở thành những nhà tiên tri có thể giải được Đinh Trang mộng: giấc mộng về sự giàu sang và sự hủy diệt của làng Đinh.
Người dân trong thôn Đinh Trang mấy mươi đời nay vẫn sống bình yên trong hoàn cảnh khốn khó. Nhưng được cấp trên vận động, lấy gương huyện Thái đã đổi đời nhờ bán máu, vậy là người Đinh Trang lũ lượt đi bán máu và họ hối hận đã không bán máu sớm hơn. Trong chớp mắt, Đinh Trang phồn hoa đô hội, trong chớp mắt Đinh Trang náo nhiệt tưng bừng. Phố mới nhà lầu gạch trắng, gạch đỏ tỏa ra mùi lưu huỳnh khắp con phố, khắp bốn mùa… Như một giấc mộng, sự phồn hoa đô hội bao trùm Đinh Trang sớm bong tróc nước sơn rởm chưa kịp khô thì trận mưa ập tới làm bày ra sự rách nát, lạnh lẽo của mái lều thê lương, bi đát. Cái chết như màn đêm úp chụp lấy Đinh Trang, “người chết nhiều như lương thực vụ mùa, như lá rụng mùa thu” (Diêm Liên Khoa, 2019, tr. 16). Người chết, thôn trang cũng trở thành thôn chết. Bảy bông lúa mạch lép đã nuốt chửng bảy bông lúa mạch chắc mẩy, bảy con bò cái xấu xí đã nuốt chửng bảy con bò cái khỏe đẹp, béo tốt, cũng như sự tham lam, ngu muội và cái ác đã hủy diệt Đinh Trang.
Tích hợp ý nghĩa các giấc mộng trong văn hóa Đông Tây, Diêm Liên Khoa đã sáng tạo ra câu chuyện ngụ ngôn hiện đại. Vì vậy, giấc mơ Đinh Trang còn là bài học chung cho mỗi con người mỗi dân tộc và nhân loại.
Như vậy, xét từ phương diện bài trí, sắp đặt, tổ chức tư tưởng tác phẩm Đinh Trang mộng Diêm Liên Khoa xứng đáng là kiến trúc sư đại tài. Sử dụng giấc mộng như một ma trận linh hoạt, quan sát từ góc độ nào cũng thấy tác phẩm vững chãi mà tinh tế, chặt chẽ mà giàu sức gợi, và vì vậy, Đinh Trang mộng trở thành tác phẩm quan trọng nhất của Diêm Liên Khoa.
3. Kết luận
Giấc mộng là sản phẩm của người nằm mộng nhưng hiếm khi anh ta nắm bắt được thực tại trong giấc mộng ấy. Cũng như người nằm mộng, hoạt động sáng tạo nghệ thuật nhiều khi vượt ra khỏi vòng cương tỏa của ý thức người nghệ sĩ. Đinh Trang mộng không chỉ là sản phẩm sáng tạo nghệ thuật của Diêm Liên Khoa mà còn là phản chiếu cuộc phiêu lưu của tinh thần nhân loại Đông Tây kim cổ. Tài năng của Diêm Liên Khoa ở chỗ liên hợp các giá trị văn hóa khác nhau để tạo dựng câu chuyện ngụ ngôn của riêng mình, ông đã nương vào hồn chung của nhân loại để giải bày tự tình của cá nhân, tự tình của dân tộc.
Đinh Trang mộng là một giấc mộng đầy ám ảnh, song vượt qua những giây phút sợ hãi do cơn ác mộng gây ra, đầu óc sẽ trở nên sáng suốt hơn bởi những hệ tư tưởng nhân văn, những bài học sâu sắc mà nhà văn chiêm nghiệm. Mở đầu tác phẩm là một giấc mộng hủy diệt và kết thúc tác phẩm là một giấc mộng tái sinh, mộng tham gia vào toàn bộ kết cấu tác phẩm, tự thân nó vừa là một giấc mộng, liên hợp tất cả các giấc mộng đồng thời cũng là một lời giải mộng, khải thị sự mộng mị.
Là một nhà văn không ngừng sáng tạo, nỗ lực mở rộng mọi biên giới của thể loại (tiểu thuyết), Diêm Liên Khoa rất coi trọng kết cấu tác phẩm, và thực tế nó trở thành yếu tố then chốt trong việc thể hiện chiều sâu tư tưởng và độ lớn không gian tinh thần mà tác phẩm phản ánh. Đinh Trang mộng vừa kế thừa tư tưởng thâm sâu của Dịch học, của truyền thống phương Đông vừa kết hợp với nghệ thuật tự sự hiện đại phương Tây vô cùng độc đáo, nên tự thân là một tác phẩm hoàn chỉnh, đồng thời, cũng là một mô hình có khả năng cộng thông, trước nhất với hiện thực đời sống. Mộng trong sáng tác của Diêm Liên Khoa không đơn thuần là chất liệu nghệ thuật mà đã trở thành một hành vi văn hóa.
N.T.T
(TCSH438/08-2025)
__________
Tài liệu tham khảo:
1. Diêm Liên Khoa. (Minh Thương dịch, 2019). Đinh Trang mộng. Hà Nội, Nxb. Hội Nhà văn.
2. Diêu Vỹ Quân & Diêu Chu Hy. (2004). Bí ẩn của chiêm mộng & vu thuật. Nxb. Văn hóa thông tin.
3. Dương Ngọc Dũng & Lê Anh Minh. (2011). Kinh Dịch - cấu hình tư tưởng Trung Quốc. Hà Nội, Nxb. Khoa học xã hội.
4. Jung, C.G. (Vũ Đình Lưu dịch, 2001). Thăm dò tiềm thức. Nxb. Tri thức.
5. Ngô Tất Tố (dịch và chú giải, 1991). Kinh Dịch (trọn bộ). Nxb. Thành phố Hồ Chí Minh; Thành phố Hồ Chí Minh.
6. Thích Đồng Thành. (2017). “Luận giải về giấc mộng: từ Áo Nghĩa Thư đến Duy Thức Học”. In trong Kỷ yếu Hội thảo khoa học quốc tế Việt Nam - Giao lưu văn hóa tư tưởng phương Đông, Nxb. Đại học quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh; Thành phố Hồ Chí Minh, tr.429-439.
7. Trình Quang Vỹ, Mạnh Phồn Hoa, Phồn Hiểu Minh. (Đỗ Văn Hiểu dịch, 2020). 60 năm văn học đương đại Trung Quốc. Hà Nội: Nxb. Phụ Nữ Việt Nam.
Tải mã QRCode
INRASARA (Tiếp theo Sông Hương số 245 tháng 7-2009)
HÀ VĂN THỊNH Những cái tên - có lẽ không giản đơn như cách nói của người Nga - " Người ta gọi tôi là...” Ở đây, lớp vỏ của ngôn từ chỉ diễn tả một khái niệm mù mờ nhất của một lượng thông tin ít nhất.Trong khi đó, có bao giờ ta nghĩ rằng một cái tên, không ít khi hàm chứa thật nhiều điều - thậm chí nó cho phép người khác biết khá rõ về tính cách, khả năng và ngay cả một phần của số phận của kiếp người?
HÀ VĂN LƯỠNG1. Ivan Bunhin (1870-1953) là một nhà văn xuôi Nga nổi tiếng của thế kỷ XX. Cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của ông trải qua những bước thăng trầm gắn với nhiều biến động dữ dội mang tính chất thời đại của nước Nga vào những năm cuối thế kỷ XIX và mấy chục năm đầu thế kỷ XX.
LÊ THÀNH NGHỊCâu hỏi “ta là ai?”, “ta vì ai” nổi tiếng của Chế Lan Viên tưởng đã tìm ra câu trả lời có chứa hạt nhân hợp lý của thời đại trong thơ chống Mỹ đã không còn đủ sức ôm chứa trong thời kì mới, khi nhu cầu xã hội và cá nhân đã làm thức tỉnh cái tôi trữ tình của người làm thơ. Nhu cầu xã hội thường là những gì bức thiết nhất của thực tại, do thực tại yêu cầu. Chẳng hạn, thời chống Mỹ đó là độc lập tự do của dân tộc. Tất cả những hoạt động tinh thần, trong đó có sáng tác thơ văn, nếu nằm ngoài “sự bức thiết thường nhật” này không phù hợp, không được đón nhận... và vì thế không thể phát triển. Kể từ sau năm 1975, đặc biệt là sau 1986, với chủ trương đổi mới, trong xã hội ta, nhu cầu bức thiết nhất, theo chúng tôi là khát vọng dân chủ.
LÝ TOÀN THẮNG“Văn xuôi về một vùng thơ” là một thể nghiệm thành công của Chế Lan Viên trong “Ánh sáng và phù sa”, về lối thơ tự do, mở rộng từ thấp lên cao - từ đơn vị cấu thành nhỏ nhất là Bước thơ, đến Câu thơ, rồi Đoạn thơ, và cuối cùng là cả Bài thơ.
INRASARA1. Đó là thế hệ thơ có một định phận kì lạ. Người ta vội đặt cho nó cái tên: thế hệ gạch nối, thế hệ đệm. Và bao nhiêu hạn từ phái sinh nhợt nhạt khác.Đất nước mở cửa, đổi mới, khi văn nghệ được cởi trói, nhà thơ thế hệ mới làm gì để khởi sự cuộc viết? Cụ thể hơn, họ viết thế nào?
VÕ VĨNH KHUYẾN Tiểu luận nhằm tìm hiểu thành tựu thơ ca trong khoảng 16 tháng giữa 2 cột mốc lịch sử (19.8.1945 - 19.12.1946). Bởi khi phân chia giai đoạn văn học nói chung (thơ ca nói riêng) trong tiến trình lịch sử văn học, các công trình nghiên cứu, các giáo trình ở bậc Đại học - Cao đẳng và sách giáo khoa trung học phổ thông hiện hành, không đặt vấn đề nghiên cứu thơ ca (cũng như văn học) nói riêng trong thời gian này. Với một tiêu đề chung "Văn học kháng chiến chống Pháp 1946 - 1954". Đây là nguyên do nhiều sinh viên không biết đến một bộ phận văn học, trong những năm đầu sau cách mạng.
HỒ THẾ HÀ1. Diễn đàn thơ được tổ chức trên đất Huế lần này gắn với chương trình hoạt động của lễ hội Festival lần thứ 3, tự nó đã thông tin với chúng ta một nội dung, tính chất và ý nghĩa riêng. Đây thực sự là ngày hội của thơ ca. Đã là ngày hội thì có nhiều người tham gia và tham dự; có diễn giả và thính giả; có nhiều tiếng nói, nhiều tấm lòng, nhiều quan niệm trên tinh thần dân chủ, lấy việc coi trọng cái hay, cái đẹp, cái giá trị của nghệ thuật làm tiêu chí thưởng thức, trao đổi và tranh luận. Chính điều đó sẽ làm cho không khí ngày hội thơ - Festival thơ sẽ đông vui, phong phú, dân chủ và có nhiều hoà âm đồng vọng mang tính học thuật và mỹ học mới mẻ như P.Valéry đã từng nói: Thơ là ngày hội của lý trí (La poésie est une fête de l'intellect).
THẠCH QUỲThơ đi với loài người từ thủa hồng hoang đến nay, bỗng dưng ở thời chúng ta nứt nẩy ra một cây hỏi kỳ dị là thơ tồn tại hay không tồn tại? Không phải là sự sống đánh mất thơ mà là sự cùn mòn của 5 giác quan nhận thức, 6 giác quan cảm nhận sự sống đang dần dà đánh mất nó. Như rừng hết cây, như suối cạn nước, hồn người đối diện với sự cạn kiệt của chính nó do đó nó phải đối diện với thơ.
NGUYỄN VĨNH NGUYÊNNhững năm gần đây, người ta tranh luận, ồn ào, khua chiêng gõ mõ về việc làm mới văn chương. Nhất là trong thơ. Nhưng cái mới đâu chẳng thấy, chỉ thấy sau những cuộc tranh luận toé lửa rốt cục vẫn là: hãy đợi đấy, lúc nào đó, sẽ... cãi tiếp...
TRẦN VĂN LÝAi sản xuất lốp cứ sản xuất lốp. Ai làm vỏ cứ làm vỏ. Ai làm gầm cứ làm gầm. Nơi nào sản xuất máy cứ sản xuất máy. Xong tất cả được chở đến một nơi để lắp ráp thành chiếc ô tô. Sự chuyên môn hoá đó trong dây chuyền sản xuất ở châu Âu thế kỷ trước (thế kỷ 20) đã khiến cho nhiều người mơ tưởng rằng: Có thể "sản xuất" được thơ và sự "mơ tưởng" ấy vẫn mãi mãi chỉ là mơ tưởng mà thôi!
HOÀNG VŨ THUẬTChúng ta đã có nhiều công trình, trang viết đánh giá nhận định thơ miền Trung ngót thế kỷ qua, một vùng thơ gắn với sinh mệnh một vùng đất mà dấu ấn lịch sử luôn bùng nổ những sự kiện bất ngờ. Một vùng đất đẫm máu và nước mắt, hằn lên vầng trán con người nếp nhăn của nỗi lo toan chạy dọc thế kỷ. Thơ nảy sinh từ đó.
BÙI QUANG TUYẾNThơ mới là một hiện tượng nổi bật của văn học Việt Nam nói chung và thơ ca nói riêng trong thế kỷ XX. Nó vừa ra đời đã nhanh chóng khẳng định vị trí xứng dáng trong nền văn học dân tộc với các "hoàng tử thơ": Thế Lữ , Xuân Diệu, Huy Cận, Lưu Trọng Lư, Chế Lan Viên, Hàn Mặc Tử v.v... Đồng thời, Thơ mới là một hiện tượng thơ ca gây rất nhiều ý kiến khác nhau trong giới phê bình, nghiên cứu và độc giả theo từng thời kỳ lịch sử xã hội, cho đến bây giờ việc đánh giá vẫn còn đặt ra sôi nổi. Với phạm vi bài viết này, chúng tôi điểm lại những khái niệm về Thơ mới và sự đổi mới nghệ thuật thơ của các bậc thầy đi trước và tìm câu trả lời cho là hợp lý trong bao nhiêu ý kiến trái ngược nhau.
MẠNH LÊ Thơ ca hiện đại Việt Nam thế kỷ XX đã thu được những thành tựu to lớn đóng góp vào sự phát triển của lịch sử thơ ca dân tộc. Đặc biệt từ ngay sau Cách mạng tháng 8 năm 1945, Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời thay thế chế độ phong kiến thực dân hơn trăm năm đô hộ nước ta cùng với khí thế cách mạng kháng chiến cứu nước theo lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh tháng 12 năm 1946 đã thổi vào đời sống văn học một luồng sinh khí mới để từ đó thơ ca hiện đại Việt Nam mang một âm hưởng mới, một màu sắc mới.
NGUYỄN KHẮC THẠCHNếu gọi Huế Thơ với tư cách đối tượng thẩm mĩ thì chủ thể thẩm mĩ của nó trước hết và sau cùng vẫn là sự hoá sinh Thơ Huế. Đương nhiên, không hẳn chỉ có Thơ Huế mới là chủ thể thẩm mĩ của Huế Thơ và cũng đương nhiên không hẳn chỉ có Huế Thơ mới là đối tượng thẩm mĩ của Thơ Huế. Huế Thơ và Thơ Huế vẫn là hai phạm trù độc lập trong chừng mực nào đó và có khi cả hai đều trở thành đối tượng thẩm mĩ của một đối tượng khác.
ĐỖ LAI THÚYThanh sơn tự tiếu đầu tương hạc Nguyễn KhuyếnNói đến Dương Khuê là nói đến hát nói. Và nói đến hát nói, thì Hồng Hồng, Tuyết Tuyết làm tôi thích hơn cả. Đấy không chỉ là một mẫu mực của thể loại, mà còn làm một không gian thẩm mỹ nhiều chiều đủ cho những phiêu lưu của cái đọc.
NGUYỄN NGỌC THIỆNHải Triều tên thật là Nguyễn Khoa Văn, sinh năm 1908 trong một gia đình Nho học, khoa bảng. Năm 20 tuổi, trở thành đảng viên trẻ của Tân Việt cách mạng Đảng, Nguyễn Khoa Văn bắt đầu cầm bút viết báo với bút danh Nam Xích Tử (Chàng trai đỏ). Điều này đã khiến trong lần gặp gỡ đầu tiên, người trai có "thân hình bé nhỏ và cử chỉ nhanh nhẹn theo kiểu chim chích" (1) ấy đã gây được cảm tình nồng hậu của Trần Huy Liệu- chủ nhiệm Nam Cường thư xã, người bạn cùng trang lứa tuy vừa mới quen biết, nhưng đã chung chí hướng tìm đường giải phóng cho dân tộc, tự do cho đất nước.
TÔ VĨNH HÀ Huế đang trở lạnh với "mưa vẫn mưa bay" giăng mờ như hư ảo những gương mặt người xuôi ngược trên con đường tôi đi. Tôi giật mình vì một tà áo trắng vừa trôi qua. Dáng đi êm nhẹ với cánh dù mỏng manh như hơi nghiêng xuống cùng nỗi cô đơn. Những nhọc nhằn của tuổi mơ chưa đến nỗi làm bờ vai trĩu mệt nhưng cũng đủ tạo nên một "giọt chiều trên lá(1), cam chịu và chờ đợi nỗi niềm nào đó hiu hắt như những hạt mưa...
NGUYỄN HỒNG DŨNG1. Một cuộc đời lặng lẽ và những truyện ngắn nổi danhO' Henry, tên thật là William Sydney Porter, được đánh giá là người viết truyện ngắn xuất sắc nhất của nước Mỹ những năm đầu thế kỷ XX. Ông sinh tại Greenboro, tiểu bang North Carolina vào năm 1862. Năm 15 tuổi (1877), ông thôi học và vào làm việc trong một hiệu thuốc tây. Vào tuổi hai mươi, ông bị đau nặng và sức khoẻ sa sút nên đã đến dưỡng sức ở một nông trại tại tiểu bang Texas. Ông đã sống ở đấy hai năm, đã làm quen với nhiều người và hiểu rất rõ tính cách miền Tây. Sau này, ông đã kể về họ rất sinh động trong tập truyện ngắn có tựa đề đầy xúc cảm Trái tim miền Tây.
MAI KHẮC ỨNGCó thể sau khi dẹp được loạn 12 sứ quân, Đinh Tiên Hoàng (968- 979) thống nhất lãnh thổ và lên ngôi hoàng đế, đã đặt được cơ sở ban đầu và xác định chủ quyền Đại Cồ Việt lên tận miền biên cương Tây Bắc vốn là địa bàn chịu ảnh hưởng Kiểu Công Hãn. Trên cơ sở 10 đạo thời Đinh nhà vua Lý Thái Tổ (1010- 1028) mới đổi thành 24 phủ, lộ. Nguyễn Trãi viết Dư địa chí (thế kỷ XV) vẫn giữ nguyên tên gọi đạo Lâm Tây. Tức vùng Tây- Bắc ngày nay.