Mộng trong ‘Đinh Trang mộng’

09:30 22/09/2025
NGUYỄN THỊ TUYẾT

1. Giấc mơ/mộng trong văn hóa và trong văn học

Giấc mơ là hoạt động tâm thần, không phụ thuộc vào ý chí, diễn ra trong giấc ngủ của con người; và vì vậy, không điều gì thân thiết mà xa lạ với bản thân như giấc mơ của chính mình. Bằng lý trí sáng suốt của mình, con người nảy ra ý tưởng chọc thủng những cánh cửa thực tại này bằng cách khảo sát, khám phá giấc mơ. Chúng ta sẽ thực sự biết rõ mình, và số phận của chúng ta sẽ được vén màn, thực tế cuối cùng sẽ hiển lộ. Giấc mơ cũng như chính con người có một lịch sử song tồn và thống nhất.

Trong những kinh sách, những tác phẩm đầu tiên của nhân loại còn lưu truyền lại thường kể về sự hình thành tôn giáo hoặc thần thoại của các dân tộc, những giấc mơ thường mang tính tiên tri, do các vị thần gửi xuống và thông điệp của chúng là những viễn tượng sẽ được giải mã từ các biểu tượng, ký hiệu đặc biệt gắn với truyền thống văn hóa hoặc hoàn cảnh cụ thể của người nằm mơ. Giấc mộng vừa chân thực (đã xảy ra) vừa xa lạ (các sự kiện và ý nghĩa của nó). Con người vừa khao khát giải mã giấc mơ vừa lợi dụng nó như một công cụ hữu hiệu.

Văn học là hình thức nghệ thuật phản ánh và sáng tạo đời sống bằng hư cấu, tưởng tượng; mộng tự thân cùng bản chất với hoạt động sáng tạo của người nghệ sĩ. Sự hiện diện của mộng trong đời sống văn học nghệ thuật không đơn thuần là chất liệu, phương tiện mà còn trực tiếp thể hiện chủ đề tư tưởng, can dự vào toàn bộ kết cấu tác phẩm và tiết lộ bản chất của nghệ thuật. Phụ thuộc vào trình độ tư duy của thời đại mà vị trí, vai trò của giấc mộng trong văn học nghệ thuật có sự thay đổi nhất định. Từ xa xưa trong những tác phẩm văn học mang tính chất nguyên hợp (Kinh sách, Thần thoại,...) đã sử dụng giấc mộng như một phương thức để phản ánh và biểu hiện đời sống, cho thấy tất cả nỗi sợ hãi và niềm vui thú của con người thời tiền sử. Trong bi kịch cổ đại, mộng là những dấu hiệu mù mờ về số phận thì con người hiện đại lại xem giấc mơ là phương tiện đạt tới những chân lý bị che giấu mà lý trí không phát hiện được. Giấc mơ vừa hiện diện vừa chìm khuất trong cái nhìn, trong tri giác chúng ta; vì vậy, vượt lên trên phương tiện, chất liệu, motif, giấc mơ tự thân mang ý nghĩa bản thể trong văn chương, nghệ thuật. Nếu trong đời sống giấc mộng phản ánh những nỗi sợ hãi và ham muốn của người nằm mộng thì nghệ thuật nói chung và văn chương nói riêng cũng thường sử dụng motif này như một cách để khắc họa tính cách, đời sống tinh thần của nhân vật. Hơn nữa, môi trường trong giấc mộng là môi trường phi lý tính, ở đó cho phép dung chứa những yếu tố kỳ ảo, huyền thoại khó có thể lý giải bằng logic lý tính. Trong môi trường hậu hiện đại, yếu tố giấc mơ lại được khai thác tối đa, các nhà văn không chỉ chú trọng nội dung giấc mộng mà còn xem bản thân giấc mộng là một phương tiện tự sự, một cách để tổ chức kết cấu tác phẩm.

Mộng nhập vào văn học một cách tự nhiên, vừa như một chất liệu vừa như một yếu tố thi pháp, trong các thể loại (thơ, từ, truyện truyền kỳ, hỷ khúc và tiểu thuyết) và với nhiều hệ hình tư tưởng (Nho, Phật, Đạo). Trong Nam hoa kinh (Trang Tử) với tích nổi tiếng “Trang Chu mộng hồ điệp” và những Nam Kha thái thú truyện (Lý Công Tá), Chẩm trung ký (Thẩm Tế Ký), Hồng lâu mộng (Tào Tuyết Cần - Cao Ngạc) văn học Trung Quốc đã mở ra một motif quen thuộc: motif nhập mộng. “Hoàng lương nhất mộng” của chàng thư sinh họ Lư cũng như hình ảnh nổi tiếng hoa trong gương trăng dưới nước của Hồng lâu mộng: cuộc sống chỉ là ảo ảnh, đời người như giấc mộng, tất cả vinh hoa phú quý, danh gia vọng tộc, sự thay triều đổi đại - sự trôi qua của thời gian,... cũng chỉ là giấc mộng. Giải “giấc mộng kê vàng” hay “giấc mộng lầu hồng” không đơn thuần là tư tưởng nhân sinh như giấc mộng, mà đằng sau đó là bi kịch tinh thần của từng con người cá nhân cụ thể.

Là một trí thức phản tư quyết liệt và là nhà văn sáng tạo không ngừng, Diêm Liên Khoa trong tiểu thuyết Đinh Trang mộng (Giấc mộng làng Đinh Trang) không chỉ nối tiếp truyền thống hiếu kỳ, hiếu mộng trong văn hóa dân tộc, mà còn giải mã giấc mộng hiện đại. Giấc mộng tham gia vào toàn bộ kết cấu tác phẩm Đinh Trang mộng, tự nó trở thành một thiết chế nghệ thuật độc đáo và mở ra chân trời của những giấc mộng trong hành trình sáng tạo nghệ thuật.

2. Mộng trong kết cấu tiểu thuyết

Kết cấu trong phần lớn tiểu thuyết của Diêm Liên Khoa là một điểm cách tân nghệ thuật quan trọng. Khác với kết cấu của tiểu thuyết chương hồi, rất đồ sộ và được tổ chức theo lối móc xích sự kiện giữa các chương và mỗi hồi là một câu chuyện nhỏ khá độc lập về nội dung tư tưởng. Kiểu kết cấu móc xích này coi trọng tình tiết và sự kiện nhưng lại chưa thể hiện được tính nội dung, hệ tư tưởng trong hình thức nghệ thuật của tác phẩm. Đây là điểm khác nhau cơ bản giữa kết cấu tiểu thuyết cổ điển Trung Quốc so với tiểu thuyết hiện đại mà cụ thể là tiểu thuyết của Diêm Liên Khoa. Chính ở điểm tiểu thuyết hiện đại từ chối hầu hết đặc điểm của thi pháp tiểu thuyết cổ điển thì đấy cũng chính là điểm gặp gỡ giữa tiểu thuyết Diêm Liên Khoa và kỹ thuật tiểu thuyết Phương Tây. Đinh Trang mộng là tiểu thuyết có kết cấu hấp dẫn. Thú vị nhất là yếu tố mộng tham gia vào các phương diện của cấu trúc tác phẩm và thể hiện thẩm thấu sâu sắc của Diêm Liên Khoa về tinh hoa văn hóa cũng như cách nhà văn “can dự” vào hiện thực đời sống.

Yếu tố mộng trong tiểu thuyết Đinh Trang mộng chiếm số lượng rất lớn, tham gia vào hầu hết các phương diện thi pháp của tác phẩm như cốt truyện, không - thời gian... Nhưng trong bài viết này chỉ tập trung phân tích yếu tố mộng trong kết cấu bề sâu tư tưởng tác phẩm. Đinh Trang mộng đã tái khẳng định những giá trị tinh hoa của Kinh Dịch, nối liền mạch riêng tư tưởng của Diêm Liên Khoa với nguồn chung văn hóa.

2.1. Mộng và quan niệm về sự tuần hoàn

Xét cấu trúc bề mặt văn bản, cuốn tiểu thuyết của Diêm Liên Khoa được tổ chức thành 8 quyển, với dung lượng dài ngắn khác nhau. Trừ Quyển 1 là nội dung hoàn toàn được trích dẫn từ Cựu ước (Kinh thánh), các quyển còn lại đều được xây dựng trên bối cảnh tương quan giữa thời gian các mùa và những giấc mộng về sự hình thành, phát triển đến đỉnh điểm của “bệnh nhiệt” (AIDS) ở Đinh Trang. Tuy nhiên, cấu trúc về thời gian và sự kiện các giấc mộng trong tiểu thuyết của Diêm Liên Khoa không hoàn toàn tuân theo chu trình thường thấy xuân - hạ - thu - đông mà có những cách tân thú vị: thu - đông - xuân - hạ - hạ - hạ và thu. Thời điểm bắt đầu và kết thúc tác phẩm đều là mùa thu đúng với quan niệm của người xưa về sự khởi đầu và sự tuần hoàn nhưng ý nghĩa về sự khởi đầu và sự tuần hoàn trong tác phẩm Diêm Liên Khoa hoàn toàn bị đánh tráo. Ở các nền văn minh nông nghiệp như Trung Quốc cổ đại, một năm thường bắt đầu bằng mùa thu, khi hoạt động thu hoạch đã kết thúc và hoạt động gieo trồng cho mùa vụ mới vừa hoàn thành. Mùa thu trong Đinh Trang mộng cũng là khởi đầu nhưng là khởi đầu của sự hủy diệt bởi đây là thời điểm dân làng Đinh Trang đã bắt đầu bán máu. Những bệnh nhân đầu tiên được phát hiện vào mùa đông, đến mùa xuân thì những dấu hiệu không thể chữa trị của căn bệnh quái đản lộ rõ và mùa hạ là mùa của sự chết chóc, hủy diệt. Bối cảnh mùa hạ được liên tiếp tổ chức ở các Quyển 5, 6 và 7 tưởng như phá vỡ hệ thống tuần hoàn vốn có, nhưng thực chất là một sự nhấn mạnh, đẩy sự vật tới tận cùng của chu kỳ sinh diệt. Nếu Quyển 5 là đầu hạ, Quyển 6 là chính hạ thì Quyển 7 đỉnh điểm của đại hạn và tột cùng của nhân tính bị hủy diệt. Nếu người dân Đinh Trang vì nghèo đói mà bán máu thì thật đáng thương, nhưng họ đã trở thành những kẻ hận thù mù quáng đến mất nhân tính khi giày xéo ngôi mộ đẹp đẽ của Lương Sơn Bá Đinh Lượng và Chúc Anh Đài Dương Linh Linh, biểu tượng của hơi ấm tình nhân còn sót lại. Nếu Đinh Huy chỉ mua máu và bán quan tài để trục lợi thì còn có thể hiểu được, nhưng hắn bất chấp tất cả làm tiền trên xác con, Tiểu Cường, thì hắn không còn là con người. Nhà văn tập trung nhấn mạnh sự khủng khiếp của căn bệnh, sự méo mó của nhân tính, sự hủy diệt làng Đinh, sự hủy diệt về môi sinh lẫn nhân tính.

Đơn vị thời gian trong Đinh Trang mộng không phải là năm mà được cấu trúc theo mùa, theo chu kỳ biểu hiện sinh lý của “bệnh nhiệt”: thu sinh - đông trụ - xuân dị - hạ diệt. Và nội dung các giấc mơ thường mang ý nghĩa tương đối rõ ràng như một điềm triệu tiên tri, một sự khải huyền, sự hủy diệt hoặc tái sinh. Hầu hết các giấc mơ của ông Đinh Thủy Dương đều nhằm “hiện thực hóa” các sự kiện trong tác phẩm. Hai giấc mộng mang tính chất điềm triệu (ở Quyển 3 và Quyển 6) đều dùng thiên nhiên có biểu hiện khác thường (hoa nở rực khắp cổ đạo Hoàng Hà và Sự hủy diệt mặt trời) để điềm báo về những biến động dữ dội về nhân sinh và nhân tính ở Đinh Trang. Duy nhất chỉ có một giấc mộng về sự hủy diệt ở đầu Quyển 2 và một giấc mộng về sự tái sinh ở Quyển 8, trong đó giấc mộng tái sinh đẫm màu sắc huyền thoại và mang ý nghĩa biểu tượng sâu sắc:

“Đêm đó lại đổ một trận mưa, trong trận mưa như trút ấy, ông nhìn thấy trong bùn đất mênh mông của bình nguyên, có một người phụ nữ tay cầm nhành liễu đi trong bùn chấm chấm, vẩy vẩy cành liễu. Bà vẩy một cái, mặt đất liền có rất nhiều người bùn. Lại chấm, lại vẩy, trên đất lại có hàng ngàn, hàng vạn người bùn bật ra và nhảy nhót, nhiều như bọt nước mưa trên đất, ông liền nhìn thấy một bình nguyên mới đang nhảy nhót” (Diêm Liên Khoa, 2019: 341). 

Hình ảnh người phụ nữ đi trong bùn tay cầm nhành liễu chấm chấm, vẩy vẩy gợi liên tưởng đến huyền thoại Nữ Oa tạo ra loài người, và các huyền thoại sáng thế nói chung của nhân loại. Đinh Trang mộng không hoàn toàn là sự tận diệt bởi, dẫu trải qua nhiều thê thiết, đau đớn nhưng Diêm Liên Khoa luôn tin rằng cái ác sẽ bị chế ngự bởi lương tri, đạo đức và nhân tính. Và dẫu chỉ còn lại một mình giữa Đinh Trang tiêu điều, hoang vắng, tĩnh mịch đến thê lương nhưng Đinh Thủy Dương cuối cùng đã nhìn thấy sự hồi sinh đằng sau sự tuyệt tận: “một thế giới mới nhảy nhót” ở những dòng cuối cùng của tác phẩm. Đó chính là hạt nhân của minh triết: vạn vật dịch chuyển theo vòng tròn trung nhi phục thủy (đến chỗ chung cuộc thì trở lại khởi điểm) mà nhà văn đã lãnh nhận và chuyển hóa một cách sáng tạo trong bối cảnh và thời đại mới. Nếu các sáng tác trước như Nàng Kim Liên ở trấn Tây Môn, Phong nhã tụng hay Thụ hoạt,... Diêm Liên Khoa thường dùng tưởng tượng, huyền thoại, yếu tố văn hóa dân gian như một chiếc cầu để bước vào hiện thực, thì ở Đinh Trang mộng hành trình đã đảo chiều, “hiện thực đã trở thành cây cầu nối đến bờ tưởng tượng, là mảnh đất để tưởng tượng thăng hoa” (Minh Thương, 2019, tr.348). Hiện thực khốc liệt đến phi lý do đại dịch AIDS gây ra trên nhiều huyện ở tỉnh Hà Nam, quê hương nhà văn, tự nó trở thành một chất xúc tác, một huyền thoại để khai mở và vén màn một hiện thực khác, khủng khiếp hơn.

2.2. Mộng và sự hủy diệt song trùng

Nếu những giấc mộng của ông Đinh Thủy Dương được thiết lập theo mô hình tuần hoàn, thấm đẫm màu sắc Kinh Dịch thì những giấc mơ trong Quyển 1 được trích dẫn từ Kinh Thánh đã khái quát hóa ý nghĩa của tác phẩm, của sự mộng mị và như một sự truy vấn rốt ráo về bản thể của sự hiện tồn.

Là một nhà văn hiện đại, Diêm Liên Khoa đã không ngừng sáng tạo, mở rộng biên giới của thể loại tiểu thuyết. Tác phẩm của ông dù mang đậm tinh thần của thời đại song tiểu thuyết của ông nói chung lại có rất nhiều yếu tố trích dẫn, giải thích, nhại, liên văn bản (Thánh kinh, huyền thoại,…). Những yếu tố gợi dẫn tưởng như nằm ngoài cấu trúc cốt trung tâm lại trở thành những văn bản, những mô hình xã hội có tính đối chiếu hoặc đồng dạng với mô hình xã hội hiện thực được nhà văn đề cập đến trong tác phẩm. Vì vậy tiểu thuyết của Diêm Liên Khoa rất giàu sức gợi, giàu màu sắc và tư tưởng.

Đinh Trang mộng, ngay từ đầu tác phẩm và trọn vẹn Quyển 1 là phần nhà văn chủ động trích dẫn ba giấc mơ của quan Chánh chước tửu, quan Chánh ngự thiện và Pharaon từ kinh Cựu ước. Theo sách Sáng thế ký, trong cùng một đêm, quan Chánh chước tửu và quan Chánh ngự thiện đều đang bị cầm ngục và thấy chiêm bao. Quan Chánh tửu thấy “cội nho ba nhánh, ông hái nho ép rượu để vào tay vua”. Còn quan Thượng thiện thấy mình “đội ba giỏ bánh và bị chim rỉa ăn” (Sáng thế: 40). Trong một bối cảnh khác, vua Pharaon mộng thấy cùng lúc “bảy con bò béo tốt và bảy con bò gầy guộc, xấu xí; bảy gié lúa tốt, chắc nịch và bảy gié lúa khô lép” (Sáng thế: 41). Điều đặc biệt là bảy con bò gầy sẽ nuốt chửng bảy con bò mập, bảy gié lúa lép nuốt chửng bảy gié lúa tốt tươi. Trước những giấc mơ kỳ lạ của các quan và Pharaon chỉ duy nhất Joseph - vốn là con trai út của Jacob ở xứ Canaan, người bị các anh trai ghét bỏ và lưu đày sang Ai Cập, hiện đang bị giam trong ngục tù, là có thể đưa ra lời giải hợp lý. Ông nói: ba nhánh cây hay ba giỏ bánh đều chỉ ba ngày, nhưng sau ba ngày thì quan Chánh tửu được phục chức, quan Thượng thiện bị xử trảm; và trong giấc mơ của Pharaon, con số bảy biểu tượng cho thời gian bảy năm. Bảy con bò béo tốt hay bảy gié lúa chắc nịch là biểu tượng của bảy năm được mùa, sung túc; còn bảy con bò gầy hay bảy gié lúa lép là bảy năm nghèo đói, mất mùa. Nếu Kinh thánh ghi chép những giấc mộng trên là để nhấn mạnh khả năng phi thường của Joseph - vua giải mộng, thì Diêm Liên Khoa không hề nhắc đến cái tên ấy, mà nhằm sử dụng ý nghĩa của những giấc mộng ấy như một lời dẫn, để người đọc trở thành những nhà tiên tri có thể giải được Đinh Trang mộng: giấc mộng về sự giàu sang và sự hủy diệt của làng Đinh.

Người dân trong thôn Đinh Trang mấy mươi đời nay vẫn sống bình yên trong hoàn cảnh khốn khó. Nhưng được cấp trên vận động, lấy gương huyện Thái đã đổi đời nhờ bán máu, vậy là người Đinh Trang lũ lượt đi bán máu và họ hối hận đã không bán máu sớm hơn. Trong chớp mắt, Đinh Trang phồn hoa đô hội, trong chớp mắt Đinh Trang náo nhiệt tưng bừng. Phố mới nhà lầu gạch trắng, gạch đỏ tỏa ra mùi lưu huỳnh khắp con phố, khắp bốn mùa… Như một giấc mộng, sự phồn hoa đô hội bao trùm Đinh Trang sớm bong tróc nước sơn rởm chưa kịp khô thì trận mưa ập tới làm bày ra sự rách nát, lạnh lẽo của mái lều thê lương, bi đát. Cái chết như màn đêm úp chụp lấy Đinh Trang, “người chết nhiều như lương thực vụ mùa, như lá rụng mùa thu” (Diêm Liên Khoa, 2019, tr. 16). Người chết, thôn trang cũng trở thành thôn chết. Bảy bông lúa mạch lép đã nuốt chửng bảy bông lúa mạch chắc mẩy, bảy con bò cái xấu xí đã nuốt chửng bảy con bò cái khỏe đẹp, béo tốt, cũng như sự tham lam, ngu muội và cái ác đã hủy diệt Đinh Trang.

Tích hợp ý nghĩa các giấc mộng trong văn hóa Đông Tây, Diêm Liên Khoa đã sáng tạo ra câu chuyện ngụ ngôn hiện đại. Vì vậy, giấc mơ Đinh Trang còn là bài học chung cho mỗi con người mỗi dân tộc và nhân loại.

Như vậy, xét từ phương diện bài trí, sắp đặt, tổ chức tư tưởng tác phẩm Đinh Trang mộng Diêm Liên Khoa xứng đáng là kiến trúc sư đại tài. Sử dụng giấc mộng như một ma trận linh hoạt, quan sát từ góc độ nào cũng thấy tác phẩm vững chãi mà tinh tế, chặt chẽ mà giàu sức gợi, và vì vậy, Đinh Trang mộng trở thành tác phẩm quan trọng nhất của Diêm Liên Khoa.

3. Kết luận

Giấc mộng là sản phẩm của người nằm mộng nhưng hiếm khi anh ta nắm bắt được thực tại trong giấc mộng ấy. Cũng như người nằm mộng, hoạt động sáng tạo nghệ thuật nhiều khi vượt ra khỏi vòng cương tỏa của ý thức người nghệ sĩ. Đinh Trang mộng không chỉ là sản phẩm sáng tạo nghệ thuật của Diêm Liên Khoa mà còn là phản chiếu cuộc phiêu lưu của tinh thần nhân loại Đông Tây kim cổ. Tài năng của Diêm Liên Khoa ở chỗ liên hợp các giá trị văn hóa khác nhau để tạo dựng câu chuyện ngụ ngôn của riêng mình, ông đã nương vào hồn chung của nhân loại để giải bày tự tình của cá nhân, tự tình của dân tộc.

Đinh Trang mộng là một giấc mộng đầy ám ảnh, song vượt qua những giây phút sợ hãi do cơn ác mộng gây ra, đầu óc sẽ trở nên sáng suốt hơn bởi những hệ tư tưởng nhân văn, những bài học sâu sắc mà nhà văn chiêm nghiệm. Mở đầu tác phẩm là một giấc mộng hủy diệt và kết thúc tác phẩm là một giấc mộng tái sinh, mộng tham gia vào toàn bộ kết cấu tác phẩm, tự thân nó vừa là một giấc mộng, liên hợp tất cả các giấc mộng đồng thời cũng là một lời giải mộng, khải thị sự mộng mị.

Là một nhà văn không ngừng sáng tạo, nỗ lực mở rộng mọi biên giới của thể loại (tiểu thuyết), Diêm Liên Khoa rất coi trọng kết cấu tác phẩm, và thực tế nó trở thành yếu tố then chốt trong việc thể hiện chiều sâu tư tưởng và độ lớn không gian tinh thần mà tác phẩm phản ánh. Đinh Trang mộng vừa kế thừa tư tưởng thâm sâu của Dịch học, của truyền thống phương Đông vừa kết hợp với nghệ thuật tự sự hiện đại phương Tây vô cùng độc đáo, nên tự thân là một tác phẩm hoàn chỉnh, đồng thời, cũng là một mô hình có khả năng cộng thông, trước nhất với hiện thực đời sống. Mộng trong sáng tác của Diêm Liên Khoa không đơn thuần là chất liệu nghệ thuật mà đã trở thành một hành vi văn hóa.

N.T.T
(TCSH438/08-2025)

__________

Tài liệu tham khảo:

1. Diêm Liên Khoa. (Minh Thương dịch, 2019). Đinh Trang mộng. Hà Nội, Nxb. Hội Nhà văn.
2. Diêu Vỹ Quân & Diêu Chu Hy. (2004). Bí ẩn của chiêm mộng & vu thuật. Nxb. Văn hóa thông tin.
3. Dương Ngọc Dũng & Lê Anh Minh. (2011). Kinh Dịch - cấu hình tư tưởng Trung Quốc. Hà Nội, Nxb. Khoa học xã hội.
4. Jung, C.G. (Vũ Đình Lưu dịch, 2001). Thăm dò tiềm thức. Nxb. Tri thức.
5. Ngô Tất Tố (dịch và chú giải, 1991). Kinh Dịch (trọn bộ). Nxb. Thành phố Hồ Chí Minh; Thành phố Hồ Chí Minh.
6. Thích Đồng Thành. (2017). “Luận giải về giấc mộng: từ Áo Nghĩa Thư đến Duy Thức Học”. In trong Kỷ yếu Hội thảo khoa học quốc tế Việt Nam - Giao lưu văn hóa tư tưởng phương Đông, Nxb. Đại học quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh; Thành phố Hồ Chí Minh, tr.429-439.
7. Trình Quang Vỹ, Mạnh Phồn Hoa, Phồn Hiểu Minh. (Đỗ Văn Hiểu dịch, 2020). 60 năm văn học đương đại Trung Quốc. Hà Nội: Nxb. Phụ Nữ Việt Nam.

 

 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Tin nổi bật
  • Hiện nay trên thế giới, quan niệm về Nghệ thuật tạo hình, Nghệ thuật thị giác và Mỹ thuật mang ý nghĩa gần giống nhau. Nó bao gồm: hội họa, đồ họa, kiến trúc, điêu khắc, trang trí ứng dụng, video clip, sắp đặt v.v..Loại hình nghệ thuật này luôn xuất hiện bằng những hình ảnh (image) thu hút mắt nhìn và ngày càng mở rộng quan niệm, phương thức biểu hiện cũng như khai thác chất liệu. Tuy nhiên, để hiểu thế nào là nghệ thuật trong tranh, hoặc vẻ đẹp của một công trình nghệ thuật còn là câu hỏi đặt ra với nhiều người.

  • HÀ VĂN LƯỠNGPuskin không chỉ là nhà thơ Nga vĩ đại, nhà viết kịch có tiếng mà còn là nhà cải cách văn học lớn. Là người “khởi đầu của mọi khởi đầu” (M. Gorki) Puskin bước vào lĩnh vực văn xuôi với tư cách là một người cách tân trong văn học Nga những năm đầu thế kỷ. Những tác phẩm văn xuôi của ông đã đặt cơ sở vững chắc cho văn xuôi hiện thực và sự ra đời của chủ nghĩa hiện thực phê phán Nga, góp phần khẳng định những giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc.

  • ĐẶNG VIỆT BÍCHGần đây trên tuần báo Văn Nghệ đã có bài viết bàn về vấn đề đào tạo "Văn hóa học", nhân dịp Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam ra nghị quyết V về xây dựng một nền văn hóa, văn nghệ tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.

  • PHAN TUẤN ANH “Cuộc nói chuyện của chúng ta đã cho tôi thấy rằng hết thảy những gì liên quan đến bản chất của ngôn ngữ mới ít được nghĩ đến làm sao”                                       (Martin Heidegger)

  • TRẦN ĐÌNH SỬVăn học sáng tác là nhằm để cho người đọc tiếp nhận. Nhưng thực tế là người đọc tiếp nhận rất khác nhau. Lý luận tiếp nhận truyền thống giải thích là do người đọc không sành.

  • NGUYỄN THANH HÙNGVăn học là cuộc sống. Quan niệm như vậy là chẳng cần phải nói gì thêm cho sâu sắc để rồi cứ sống, cứ viết, cứ đọc và xa dần mãi bản thân văn học.

  • LTS: Cuộc tranh luận giữa hai luồng ý kiến về nhân vật lịch sử Nguyễn Hiển Dĩnh, một mệnh quan triều đình Huế có công hay có tội vẫn chưa thuyết phục được nhau.Vấn đề này, Tòa soạn chúng tôi cũng chỉ biết... nhờ ông Khổng Tử "Tri chi vi tri chi, bất tri vi bất tri, thị tri giả" (biết thì nói biết, không biết thì nói không biết, ấy là biết). Vậy nên bài viết sau đây của nhà văn, nhà nghiên cứu lịch sử văn hóa Nguyễn Đắc Xuân, chúng tôi xin đăng nguyên văn, tác giả phải gánh trọn trách nhiệm về độ chính xác, về tính khoa học của văn bản.Mong các nhà nghiên cứu, cùng bạn đọc quan tâm tham gia trao đổi tiếp.

  • NGUYỄN ĐẮC XUÂNNăm 1998, Thành phố Đà Nẵng dự định lấy tên nhà soạn tuồng Nguyễn Hiển Dĩnh đặt cho con đường mới song song với đường 2 tháng 9 và đường Núi Thành. Nhưng sau đó qua một số tin bài của tôi đăng trên báo Lao Động nêu lên những điểm chưa rõ ràng trong tiểu sử của ông Nguyễn Hiển Dĩnh, UBND Thành phố Đà Nẵng thấy có một cái gì chưa ổn trong tiểu sử của Nguyễn Hiển Dĩnh nên đã thống nhất rút tên ông ra khỏi danh sách danh nhân dùng để đặt tên đường phố lần ấy. Như thế mọi việc đã tạm ổn.

  • Vừa qua nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân có viết một loạt bài về ông Nguyễn Hiển Dĩnh - một quan lại triều nguyễn, nhà soạn tuồng nổi tiếng Quảng Nam. Qua thư tịch, anh chứng minh Nguyễn Hiển Dĩnh tuy có đóng góp cho nghệ thuật tuồng cổ nhưng những hành vi tiếp tay cho Pháp đàn áp các phong trào yêu nước ở Quảng Nam quá nặng nề nên không thể tôn xưng Nguyễn Hiển Dĩnh là danh nhân văn hoá của việt Nam như Viện Sân khấu và ngành văn hoá ở Quảng Nam Đà Nẵng đã làm. Qua các bài viết của Nguyễn Đắc Xuân có những vấn đề lâu nay ngành văn hoá lịch sử chưa chú ý đến. nhà báo Bùi Ngọc Quỳnh đã có cuộc đối thoại lý thú với anh về những vấn đề nầy.

  • ĐỖ NGỌC YÊNVào những năm 70 của thế kỷ, ở nhiều nước phương Tây tràn ngập không khí của cuộc khủng hoảng gia đình, làm cho nhiều người rất lo ngại. Một số kẻ cực đoan chủ trương xóa bỏ hình mẫu gia đình truyền thống. Nhưng cái khó đối với họ không phải là việc từ bỏ hình mẫu gia đình cũ - mặc dù trên thực tế việc làm đó không phải dễ - mà vấn đề đâu là hình mẫu gia đình mới.

  • NGUYỄN ĐÌNH CHÍNH             Phóng sự điều tra

  • THỦY THANHLâu nay, "quả lắc" vì sự trong sáng tiếng Việt dường như đã trì vào điểm chết của dây dọi. Những mặc cảm, thành kiến hoặc dị ứng về sự "ga lăng ngôn ngữ" trước áp lực của thời đại tin học cũng chững lại như một thái độ thăm dò. Suy cho cùng thì ngôn ngữ cũng có đời sống riêng và nó bao gồm cả thể vía lẫn thể xác. Nó cũng "hữu sinh tất hữu diệt" trong luật tiến hóa và đào thải như nhiên. Ngôn ngữ nói chung là một phương pháp hệ thống hóa và tích lũy tri thức theo sự diễn tiến về mặt lịch đại và sự tiệm tiến về mặt đồng đại.

  • Các lý thuyết văn học tiếp cận văn chương theo những cách khác nhau và có thể được phân loại theo những tiêu chí khác nhau. Tuy nhiên, có một điểm chung tối quan trọng không thể chối cãi: tác phẩm văn học là một hiện tượng sử dụng ngôn ngữ trong đó không thể thiếu vai trò của tác giả, độc giả cũng như thực tại, cho dù mỗi yếu tố tham gia ở những mức độ khác nhau.

  • Viết là một công việc bất hạnh. Một trong những yếu tố gây khốn khổ cho nhà văn là cốt truyện. Cốt truyện là “ông ngoáo ộp” dọa dẫm người cầm bút và cũng là nguyên nhân chung dẫn đến sự bế tắc của họ trong quá trình triển khai tác phẩm.

  • Trên thế giới, ít có loài hoa nào ra đời sớm, phổ biến với nhiều biểu trưng cao quý như hoa sen. Dáng hình đẹp, màu sắc trang nhã, hương thơm thùy mị, thanh khiết, không nhiễm bẩn... chừng ấy đức tính tốt đẹp đã đưa hoa sen thành biểu trưng cao quý của đạo Phật.

  • TRẦN ĐƯƠNGGoethe (1749-1832) hoạt động trên rất nhiều lĩnh vực và ở lĩnh vực nào ông cũng thâu tóm những tri thức đồ sộ, cũng đạt được những thành tựu xuất sắc. Tên tuổi ông trở thành niềm tự hào của cả dân tộc, được Các Mác gọi là người Đức vĩ đại nhất”.

  • AN CHÍNHCó lẽ Hồng Nguyên là một trong những nhà thơ rất thành công về việc dùng "tiếng địa phương trong thơ của mình.

  • Flier Andrei Jakovlevich(Tiến sĩ triết học, nhà văn hóa học của Nga)

  • HOÀNG NGỌC HIẾN    (Đọc "Văn hóa chính trị - truyền thống và hiện đại" (1) của Nguyễn Hồng Phong)Đây là công trình nghiên cứu tổng kết có tính chất chiến lược Chương trình khoa học công nghệ cấp Nhà nước KX06 "Văn hóa, văn minh vì sự phát triển và tiến bộ xã hội" do cố giáo sư Nguyễn Hồng Phong làm chủ nhiệm(2). Lịch sử những quá trình hiện đại hóa ở Việt Nam từ cuối t.k.XIX đến nay là một chủ đề quan trọng của công trình.

  • NGUYỄN ĐÌNH CHÍNHThực trạng của phê bình nghệ thuật hiện nay đang là một câu hỏi cần phải được trả lời.