Mộng trong ‘Đinh Trang mộng’

09:30 22/09/2025
NGUYỄN THỊ TUYẾT

1. Giấc mơ/mộng trong văn hóa và trong văn học

Giấc mơ là hoạt động tâm thần, không phụ thuộc vào ý chí, diễn ra trong giấc ngủ của con người; và vì vậy, không điều gì thân thiết mà xa lạ với bản thân như giấc mơ của chính mình. Bằng lý trí sáng suốt của mình, con người nảy ra ý tưởng chọc thủng những cánh cửa thực tại này bằng cách khảo sát, khám phá giấc mơ. Chúng ta sẽ thực sự biết rõ mình, và số phận của chúng ta sẽ được vén màn, thực tế cuối cùng sẽ hiển lộ. Giấc mơ cũng như chính con người có một lịch sử song tồn và thống nhất.

Trong những kinh sách, những tác phẩm đầu tiên của nhân loại còn lưu truyền lại thường kể về sự hình thành tôn giáo hoặc thần thoại của các dân tộc, những giấc mơ thường mang tính tiên tri, do các vị thần gửi xuống và thông điệp của chúng là những viễn tượng sẽ được giải mã từ các biểu tượng, ký hiệu đặc biệt gắn với truyền thống văn hóa hoặc hoàn cảnh cụ thể của người nằm mơ. Giấc mộng vừa chân thực (đã xảy ra) vừa xa lạ (các sự kiện và ý nghĩa của nó). Con người vừa khao khát giải mã giấc mơ vừa lợi dụng nó như một công cụ hữu hiệu.

Văn học là hình thức nghệ thuật phản ánh và sáng tạo đời sống bằng hư cấu, tưởng tượng; mộng tự thân cùng bản chất với hoạt động sáng tạo của người nghệ sĩ. Sự hiện diện của mộng trong đời sống văn học nghệ thuật không đơn thuần là chất liệu, phương tiện mà còn trực tiếp thể hiện chủ đề tư tưởng, can dự vào toàn bộ kết cấu tác phẩm và tiết lộ bản chất của nghệ thuật. Phụ thuộc vào trình độ tư duy của thời đại mà vị trí, vai trò của giấc mộng trong văn học nghệ thuật có sự thay đổi nhất định. Từ xa xưa trong những tác phẩm văn học mang tính chất nguyên hợp (Kinh sách, Thần thoại,...) đã sử dụng giấc mộng như một phương thức để phản ánh và biểu hiện đời sống, cho thấy tất cả nỗi sợ hãi và niềm vui thú của con người thời tiền sử. Trong bi kịch cổ đại, mộng là những dấu hiệu mù mờ về số phận thì con người hiện đại lại xem giấc mơ là phương tiện đạt tới những chân lý bị che giấu mà lý trí không phát hiện được. Giấc mơ vừa hiện diện vừa chìm khuất trong cái nhìn, trong tri giác chúng ta; vì vậy, vượt lên trên phương tiện, chất liệu, motif, giấc mơ tự thân mang ý nghĩa bản thể trong văn chương, nghệ thuật. Nếu trong đời sống giấc mộng phản ánh những nỗi sợ hãi và ham muốn của người nằm mộng thì nghệ thuật nói chung và văn chương nói riêng cũng thường sử dụng motif này như một cách để khắc họa tính cách, đời sống tinh thần của nhân vật. Hơn nữa, môi trường trong giấc mộng là môi trường phi lý tính, ở đó cho phép dung chứa những yếu tố kỳ ảo, huyền thoại khó có thể lý giải bằng logic lý tính. Trong môi trường hậu hiện đại, yếu tố giấc mơ lại được khai thác tối đa, các nhà văn không chỉ chú trọng nội dung giấc mộng mà còn xem bản thân giấc mộng là một phương tiện tự sự, một cách để tổ chức kết cấu tác phẩm.

Mộng nhập vào văn học một cách tự nhiên, vừa như một chất liệu vừa như một yếu tố thi pháp, trong các thể loại (thơ, từ, truyện truyền kỳ, hỷ khúc và tiểu thuyết) và với nhiều hệ hình tư tưởng (Nho, Phật, Đạo). Trong Nam hoa kinh (Trang Tử) với tích nổi tiếng “Trang Chu mộng hồ điệp” và những Nam Kha thái thú truyện (Lý Công Tá), Chẩm trung ký (Thẩm Tế Ký), Hồng lâu mộng (Tào Tuyết Cần - Cao Ngạc) văn học Trung Quốc đã mở ra một motif quen thuộc: motif nhập mộng. “Hoàng lương nhất mộng” của chàng thư sinh họ Lư cũng như hình ảnh nổi tiếng hoa trong gương trăng dưới nước của Hồng lâu mộng: cuộc sống chỉ là ảo ảnh, đời người như giấc mộng, tất cả vinh hoa phú quý, danh gia vọng tộc, sự thay triều đổi đại - sự trôi qua của thời gian,... cũng chỉ là giấc mộng. Giải “giấc mộng kê vàng” hay “giấc mộng lầu hồng” không đơn thuần là tư tưởng nhân sinh như giấc mộng, mà đằng sau đó là bi kịch tinh thần của từng con người cá nhân cụ thể.

Là một trí thức phản tư quyết liệt và là nhà văn sáng tạo không ngừng, Diêm Liên Khoa trong tiểu thuyết Đinh Trang mộng (Giấc mộng làng Đinh Trang) không chỉ nối tiếp truyền thống hiếu kỳ, hiếu mộng trong văn hóa dân tộc, mà còn giải mã giấc mộng hiện đại. Giấc mộng tham gia vào toàn bộ kết cấu tác phẩm Đinh Trang mộng, tự nó trở thành một thiết chế nghệ thuật độc đáo và mở ra chân trời của những giấc mộng trong hành trình sáng tạo nghệ thuật.

2. Mộng trong kết cấu tiểu thuyết

Kết cấu trong phần lớn tiểu thuyết của Diêm Liên Khoa là một điểm cách tân nghệ thuật quan trọng. Khác với kết cấu của tiểu thuyết chương hồi, rất đồ sộ và được tổ chức theo lối móc xích sự kiện giữa các chương và mỗi hồi là một câu chuyện nhỏ khá độc lập về nội dung tư tưởng. Kiểu kết cấu móc xích này coi trọng tình tiết và sự kiện nhưng lại chưa thể hiện được tính nội dung, hệ tư tưởng trong hình thức nghệ thuật của tác phẩm. Đây là điểm khác nhau cơ bản giữa kết cấu tiểu thuyết cổ điển Trung Quốc so với tiểu thuyết hiện đại mà cụ thể là tiểu thuyết của Diêm Liên Khoa. Chính ở điểm tiểu thuyết hiện đại từ chối hầu hết đặc điểm của thi pháp tiểu thuyết cổ điển thì đấy cũng chính là điểm gặp gỡ giữa tiểu thuyết Diêm Liên Khoa và kỹ thuật tiểu thuyết Phương Tây. Đinh Trang mộng là tiểu thuyết có kết cấu hấp dẫn. Thú vị nhất là yếu tố mộng tham gia vào các phương diện của cấu trúc tác phẩm và thể hiện thẩm thấu sâu sắc của Diêm Liên Khoa về tinh hoa văn hóa cũng như cách nhà văn “can dự” vào hiện thực đời sống.

Yếu tố mộng trong tiểu thuyết Đinh Trang mộng chiếm số lượng rất lớn, tham gia vào hầu hết các phương diện thi pháp của tác phẩm như cốt truyện, không - thời gian... Nhưng trong bài viết này chỉ tập trung phân tích yếu tố mộng trong kết cấu bề sâu tư tưởng tác phẩm. Đinh Trang mộng đã tái khẳng định những giá trị tinh hoa của Kinh Dịch, nối liền mạch riêng tư tưởng của Diêm Liên Khoa với nguồn chung văn hóa.

2.1. Mộng và quan niệm về sự tuần hoàn

Xét cấu trúc bề mặt văn bản, cuốn tiểu thuyết của Diêm Liên Khoa được tổ chức thành 8 quyển, với dung lượng dài ngắn khác nhau. Trừ Quyển 1 là nội dung hoàn toàn được trích dẫn từ Cựu ước (Kinh thánh), các quyển còn lại đều được xây dựng trên bối cảnh tương quan giữa thời gian các mùa và những giấc mộng về sự hình thành, phát triển đến đỉnh điểm của “bệnh nhiệt” (AIDS) ở Đinh Trang. Tuy nhiên, cấu trúc về thời gian và sự kiện các giấc mộng trong tiểu thuyết của Diêm Liên Khoa không hoàn toàn tuân theo chu trình thường thấy xuân - hạ - thu - đông mà có những cách tân thú vị: thu - đông - xuân - hạ - hạ - hạ và thu. Thời điểm bắt đầu và kết thúc tác phẩm đều là mùa thu đúng với quan niệm của người xưa về sự khởi đầu và sự tuần hoàn nhưng ý nghĩa về sự khởi đầu và sự tuần hoàn trong tác phẩm Diêm Liên Khoa hoàn toàn bị đánh tráo. Ở các nền văn minh nông nghiệp như Trung Quốc cổ đại, một năm thường bắt đầu bằng mùa thu, khi hoạt động thu hoạch đã kết thúc và hoạt động gieo trồng cho mùa vụ mới vừa hoàn thành. Mùa thu trong Đinh Trang mộng cũng là khởi đầu nhưng là khởi đầu của sự hủy diệt bởi đây là thời điểm dân làng Đinh Trang đã bắt đầu bán máu. Những bệnh nhân đầu tiên được phát hiện vào mùa đông, đến mùa xuân thì những dấu hiệu không thể chữa trị của căn bệnh quái đản lộ rõ và mùa hạ là mùa của sự chết chóc, hủy diệt. Bối cảnh mùa hạ được liên tiếp tổ chức ở các Quyển 5, 6 và 7 tưởng như phá vỡ hệ thống tuần hoàn vốn có, nhưng thực chất là một sự nhấn mạnh, đẩy sự vật tới tận cùng của chu kỳ sinh diệt. Nếu Quyển 5 là đầu hạ, Quyển 6 là chính hạ thì Quyển 7 đỉnh điểm của đại hạn và tột cùng của nhân tính bị hủy diệt. Nếu người dân Đinh Trang vì nghèo đói mà bán máu thì thật đáng thương, nhưng họ đã trở thành những kẻ hận thù mù quáng đến mất nhân tính khi giày xéo ngôi mộ đẹp đẽ của Lương Sơn Bá Đinh Lượng và Chúc Anh Đài Dương Linh Linh, biểu tượng của hơi ấm tình nhân còn sót lại. Nếu Đinh Huy chỉ mua máu và bán quan tài để trục lợi thì còn có thể hiểu được, nhưng hắn bất chấp tất cả làm tiền trên xác con, Tiểu Cường, thì hắn không còn là con người. Nhà văn tập trung nhấn mạnh sự khủng khiếp của căn bệnh, sự méo mó của nhân tính, sự hủy diệt làng Đinh, sự hủy diệt về môi sinh lẫn nhân tính.

Đơn vị thời gian trong Đinh Trang mộng không phải là năm mà được cấu trúc theo mùa, theo chu kỳ biểu hiện sinh lý của “bệnh nhiệt”: thu sinh - đông trụ - xuân dị - hạ diệt. Và nội dung các giấc mơ thường mang ý nghĩa tương đối rõ ràng như một điềm triệu tiên tri, một sự khải huyền, sự hủy diệt hoặc tái sinh. Hầu hết các giấc mơ của ông Đinh Thủy Dương đều nhằm “hiện thực hóa” các sự kiện trong tác phẩm. Hai giấc mộng mang tính chất điềm triệu (ở Quyển 3 và Quyển 6) đều dùng thiên nhiên có biểu hiện khác thường (hoa nở rực khắp cổ đạo Hoàng Hà và Sự hủy diệt mặt trời) để điềm báo về những biến động dữ dội về nhân sinh và nhân tính ở Đinh Trang. Duy nhất chỉ có một giấc mộng về sự hủy diệt ở đầu Quyển 2 và một giấc mộng về sự tái sinh ở Quyển 8, trong đó giấc mộng tái sinh đẫm màu sắc huyền thoại và mang ý nghĩa biểu tượng sâu sắc:

“Đêm đó lại đổ một trận mưa, trong trận mưa như trút ấy, ông nhìn thấy trong bùn đất mênh mông của bình nguyên, có một người phụ nữ tay cầm nhành liễu đi trong bùn chấm chấm, vẩy vẩy cành liễu. Bà vẩy một cái, mặt đất liền có rất nhiều người bùn. Lại chấm, lại vẩy, trên đất lại có hàng ngàn, hàng vạn người bùn bật ra và nhảy nhót, nhiều như bọt nước mưa trên đất, ông liền nhìn thấy một bình nguyên mới đang nhảy nhót” (Diêm Liên Khoa, 2019: 341). 

Hình ảnh người phụ nữ đi trong bùn tay cầm nhành liễu chấm chấm, vẩy vẩy gợi liên tưởng đến huyền thoại Nữ Oa tạo ra loài người, và các huyền thoại sáng thế nói chung của nhân loại. Đinh Trang mộng không hoàn toàn là sự tận diệt bởi, dẫu trải qua nhiều thê thiết, đau đớn nhưng Diêm Liên Khoa luôn tin rằng cái ác sẽ bị chế ngự bởi lương tri, đạo đức và nhân tính. Và dẫu chỉ còn lại một mình giữa Đinh Trang tiêu điều, hoang vắng, tĩnh mịch đến thê lương nhưng Đinh Thủy Dương cuối cùng đã nhìn thấy sự hồi sinh đằng sau sự tuyệt tận: “một thế giới mới nhảy nhót” ở những dòng cuối cùng của tác phẩm. Đó chính là hạt nhân của minh triết: vạn vật dịch chuyển theo vòng tròn trung nhi phục thủy (đến chỗ chung cuộc thì trở lại khởi điểm) mà nhà văn đã lãnh nhận và chuyển hóa một cách sáng tạo trong bối cảnh và thời đại mới. Nếu các sáng tác trước như Nàng Kim Liên ở trấn Tây Môn, Phong nhã tụng hay Thụ hoạt,... Diêm Liên Khoa thường dùng tưởng tượng, huyền thoại, yếu tố văn hóa dân gian như một chiếc cầu để bước vào hiện thực, thì ở Đinh Trang mộng hành trình đã đảo chiều, “hiện thực đã trở thành cây cầu nối đến bờ tưởng tượng, là mảnh đất để tưởng tượng thăng hoa” (Minh Thương, 2019, tr.348). Hiện thực khốc liệt đến phi lý do đại dịch AIDS gây ra trên nhiều huyện ở tỉnh Hà Nam, quê hương nhà văn, tự nó trở thành một chất xúc tác, một huyền thoại để khai mở và vén màn một hiện thực khác, khủng khiếp hơn.

2.2. Mộng và sự hủy diệt song trùng

Nếu những giấc mộng của ông Đinh Thủy Dương được thiết lập theo mô hình tuần hoàn, thấm đẫm màu sắc Kinh Dịch thì những giấc mơ trong Quyển 1 được trích dẫn từ Kinh Thánh đã khái quát hóa ý nghĩa của tác phẩm, của sự mộng mị và như một sự truy vấn rốt ráo về bản thể của sự hiện tồn.

Là một nhà văn hiện đại, Diêm Liên Khoa đã không ngừng sáng tạo, mở rộng biên giới của thể loại tiểu thuyết. Tác phẩm của ông dù mang đậm tinh thần của thời đại song tiểu thuyết của ông nói chung lại có rất nhiều yếu tố trích dẫn, giải thích, nhại, liên văn bản (Thánh kinh, huyền thoại,…). Những yếu tố gợi dẫn tưởng như nằm ngoài cấu trúc cốt trung tâm lại trở thành những văn bản, những mô hình xã hội có tính đối chiếu hoặc đồng dạng với mô hình xã hội hiện thực được nhà văn đề cập đến trong tác phẩm. Vì vậy tiểu thuyết của Diêm Liên Khoa rất giàu sức gợi, giàu màu sắc và tư tưởng.

Đinh Trang mộng, ngay từ đầu tác phẩm và trọn vẹn Quyển 1 là phần nhà văn chủ động trích dẫn ba giấc mơ của quan Chánh chước tửu, quan Chánh ngự thiện và Pharaon từ kinh Cựu ước. Theo sách Sáng thế ký, trong cùng một đêm, quan Chánh chước tửu và quan Chánh ngự thiện đều đang bị cầm ngục và thấy chiêm bao. Quan Chánh tửu thấy “cội nho ba nhánh, ông hái nho ép rượu để vào tay vua”. Còn quan Thượng thiện thấy mình “đội ba giỏ bánh và bị chim rỉa ăn” (Sáng thế: 40). Trong một bối cảnh khác, vua Pharaon mộng thấy cùng lúc “bảy con bò béo tốt và bảy con bò gầy guộc, xấu xí; bảy gié lúa tốt, chắc nịch và bảy gié lúa khô lép” (Sáng thế: 41). Điều đặc biệt là bảy con bò gầy sẽ nuốt chửng bảy con bò mập, bảy gié lúa lép nuốt chửng bảy gié lúa tốt tươi. Trước những giấc mơ kỳ lạ của các quan và Pharaon chỉ duy nhất Joseph - vốn là con trai út của Jacob ở xứ Canaan, người bị các anh trai ghét bỏ và lưu đày sang Ai Cập, hiện đang bị giam trong ngục tù, là có thể đưa ra lời giải hợp lý. Ông nói: ba nhánh cây hay ba giỏ bánh đều chỉ ba ngày, nhưng sau ba ngày thì quan Chánh tửu được phục chức, quan Thượng thiện bị xử trảm; và trong giấc mơ của Pharaon, con số bảy biểu tượng cho thời gian bảy năm. Bảy con bò béo tốt hay bảy gié lúa chắc nịch là biểu tượng của bảy năm được mùa, sung túc; còn bảy con bò gầy hay bảy gié lúa lép là bảy năm nghèo đói, mất mùa. Nếu Kinh thánh ghi chép những giấc mộng trên là để nhấn mạnh khả năng phi thường của Joseph - vua giải mộng, thì Diêm Liên Khoa không hề nhắc đến cái tên ấy, mà nhằm sử dụng ý nghĩa của những giấc mộng ấy như một lời dẫn, để người đọc trở thành những nhà tiên tri có thể giải được Đinh Trang mộng: giấc mộng về sự giàu sang và sự hủy diệt của làng Đinh.

Người dân trong thôn Đinh Trang mấy mươi đời nay vẫn sống bình yên trong hoàn cảnh khốn khó. Nhưng được cấp trên vận động, lấy gương huyện Thái đã đổi đời nhờ bán máu, vậy là người Đinh Trang lũ lượt đi bán máu và họ hối hận đã không bán máu sớm hơn. Trong chớp mắt, Đinh Trang phồn hoa đô hội, trong chớp mắt Đinh Trang náo nhiệt tưng bừng. Phố mới nhà lầu gạch trắng, gạch đỏ tỏa ra mùi lưu huỳnh khắp con phố, khắp bốn mùa… Như một giấc mộng, sự phồn hoa đô hội bao trùm Đinh Trang sớm bong tróc nước sơn rởm chưa kịp khô thì trận mưa ập tới làm bày ra sự rách nát, lạnh lẽo của mái lều thê lương, bi đát. Cái chết như màn đêm úp chụp lấy Đinh Trang, “người chết nhiều như lương thực vụ mùa, như lá rụng mùa thu” (Diêm Liên Khoa, 2019, tr. 16). Người chết, thôn trang cũng trở thành thôn chết. Bảy bông lúa mạch lép đã nuốt chửng bảy bông lúa mạch chắc mẩy, bảy con bò cái xấu xí đã nuốt chửng bảy con bò cái khỏe đẹp, béo tốt, cũng như sự tham lam, ngu muội và cái ác đã hủy diệt Đinh Trang.

Tích hợp ý nghĩa các giấc mộng trong văn hóa Đông Tây, Diêm Liên Khoa đã sáng tạo ra câu chuyện ngụ ngôn hiện đại. Vì vậy, giấc mơ Đinh Trang còn là bài học chung cho mỗi con người mỗi dân tộc và nhân loại.

Như vậy, xét từ phương diện bài trí, sắp đặt, tổ chức tư tưởng tác phẩm Đinh Trang mộng Diêm Liên Khoa xứng đáng là kiến trúc sư đại tài. Sử dụng giấc mộng như một ma trận linh hoạt, quan sát từ góc độ nào cũng thấy tác phẩm vững chãi mà tinh tế, chặt chẽ mà giàu sức gợi, và vì vậy, Đinh Trang mộng trở thành tác phẩm quan trọng nhất của Diêm Liên Khoa.

3. Kết luận

Giấc mộng là sản phẩm của người nằm mộng nhưng hiếm khi anh ta nắm bắt được thực tại trong giấc mộng ấy. Cũng như người nằm mộng, hoạt động sáng tạo nghệ thuật nhiều khi vượt ra khỏi vòng cương tỏa của ý thức người nghệ sĩ. Đinh Trang mộng không chỉ là sản phẩm sáng tạo nghệ thuật của Diêm Liên Khoa mà còn là phản chiếu cuộc phiêu lưu của tinh thần nhân loại Đông Tây kim cổ. Tài năng của Diêm Liên Khoa ở chỗ liên hợp các giá trị văn hóa khác nhau để tạo dựng câu chuyện ngụ ngôn của riêng mình, ông đã nương vào hồn chung của nhân loại để giải bày tự tình của cá nhân, tự tình của dân tộc.

Đinh Trang mộng là một giấc mộng đầy ám ảnh, song vượt qua những giây phút sợ hãi do cơn ác mộng gây ra, đầu óc sẽ trở nên sáng suốt hơn bởi những hệ tư tưởng nhân văn, những bài học sâu sắc mà nhà văn chiêm nghiệm. Mở đầu tác phẩm là một giấc mộng hủy diệt và kết thúc tác phẩm là một giấc mộng tái sinh, mộng tham gia vào toàn bộ kết cấu tác phẩm, tự thân nó vừa là một giấc mộng, liên hợp tất cả các giấc mộng đồng thời cũng là một lời giải mộng, khải thị sự mộng mị.

Là một nhà văn không ngừng sáng tạo, nỗ lực mở rộng mọi biên giới của thể loại (tiểu thuyết), Diêm Liên Khoa rất coi trọng kết cấu tác phẩm, và thực tế nó trở thành yếu tố then chốt trong việc thể hiện chiều sâu tư tưởng và độ lớn không gian tinh thần mà tác phẩm phản ánh. Đinh Trang mộng vừa kế thừa tư tưởng thâm sâu của Dịch học, của truyền thống phương Đông vừa kết hợp với nghệ thuật tự sự hiện đại phương Tây vô cùng độc đáo, nên tự thân là một tác phẩm hoàn chỉnh, đồng thời, cũng là một mô hình có khả năng cộng thông, trước nhất với hiện thực đời sống. Mộng trong sáng tác của Diêm Liên Khoa không đơn thuần là chất liệu nghệ thuật mà đã trở thành một hành vi văn hóa.

N.T.T
(TCSH438/08-2025)

__________

Tài liệu tham khảo:

1. Diêm Liên Khoa. (Minh Thương dịch, 2019). Đinh Trang mộng. Hà Nội, Nxb. Hội Nhà văn.
2. Diêu Vỹ Quân & Diêu Chu Hy. (2004). Bí ẩn của chiêm mộng & vu thuật. Nxb. Văn hóa thông tin.
3. Dương Ngọc Dũng & Lê Anh Minh. (2011). Kinh Dịch - cấu hình tư tưởng Trung Quốc. Hà Nội, Nxb. Khoa học xã hội.
4. Jung, C.G. (Vũ Đình Lưu dịch, 2001). Thăm dò tiềm thức. Nxb. Tri thức.
5. Ngô Tất Tố (dịch và chú giải, 1991). Kinh Dịch (trọn bộ). Nxb. Thành phố Hồ Chí Minh; Thành phố Hồ Chí Minh.
6. Thích Đồng Thành. (2017). “Luận giải về giấc mộng: từ Áo Nghĩa Thư đến Duy Thức Học”. In trong Kỷ yếu Hội thảo khoa học quốc tế Việt Nam - Giao lưu văn hóa tư tưởng phương Đông, Nxb. Đại học quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh; Thành phố Hồ Chí Minh, tr.429-439.
7. Trình Quang Vỹ, Mạnh Phồn Hoa, Phồn Hiểu Minh. (Đỗ Văn Hiểu dịch, 2020). 60 năm văn học đương đại Trung Quốc. Hà Nội: Nxb. Phụ Nữ Việt Nam.

 

 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Tin nổi bật
  • TRẦN ANH VINHÂm vang của những sự kiện xẩy ra năm Ất Dậu (1885) không những vẫn còn đọng trong tâm trí người dân núi Ngự mà còn được ghi lại trong một số tác phẩm. Bài vè “Thất thủ Kinh đô” do cụ Mới đi kể rong hàng mấy chục năm ròng là một tác phẩm văn học dân gian, được nhiều người biết và ngưỡng mộ. Riêng Phan Bội Châu có viết hai bài:+ Kỷ niệm ngày 23 tháng Năm ở Huế (Thơ)+ Văn tế cô hồn ngày 23 tháng Năm ở Kinh thành Huế.

  • HOÀNG CÔNG KHANHCó một thực tế: số các nhà văn cổ kim đông tây viết tiểu thuyết lịch sử không nhiều. Ở Việt Nam càng ít. Theo ý riêng tôi nguyên nhân thì nhiều, nhưng cơ bản là nhà văn viết loại này phải đồng thời là nhà sử học, chí ít là có kiến thức sâu rộng về lịch sử. Cũng nhiều trường hợp người viết có đủ vốn liếng cả hai mặt ấy, nhưng hoặc ngại mất nhiều công sức để đọc hàng chục bộ chính sử, phải sưu tầm, dã ngoại, nghiên cứu, đối chiếu, chọn lọc hoặc đơn giản là chưa, thậm chí không quan tâm đến lịch sử.

  • TRƯƠNG ĐĂNG DUNG                 Tặng Đỗ Lai ThuýChủ nghĩa hiện đại là kết quả của những nỗ lực hiện đại hoá đời sống và tư duy xẩy ra từ những năm cuối của thế kỷ XIX, ở Châu Âu. Những thành tựu nổi bật của khoa học tự nhiên, của triết học, xã hội học và tâm lí học đã tác động đến cách nghĩ của con người hiện đại trước các vấn đề về tồn tại, đạo đức, tâm lí. Tư tưởng của Nietzsche, Husserl, hay Freud không chỉ ảnh hưởng đến tư duy hiện đại mà tiếp tục được nhắc đến nhiều ở thời hậu hiện đại.

  • ĐẶNG TIẾNTân Hình Thức là một trường phái thi ca hiện đại được phổ biến từ năm bảy năm nay, phát khởi do Tạp Chí Thơ, ấn hành tại Mỹ, chủ yếu từ số 18, xuân 2000 “chuyển đổi thế kỷ”, và được nhiều nhà văn, nhà thơ trong và ngoài nước hưởng ứng. Tên Tân Hình Thức dịch từ tiếng Anh New Formalism, một trường phái thơ Mỹ, thịnh hành những năm1980 - 1990.

  • NGUYỄN ĐĂNG ĐIỆP Một ngày kia, cát bụi vùng Hoan Diễn đã sinh tạo một “kẻ ham chơi”. Y cứ lãng đãng trong đời như một khách giang hồ mang trái tim nhạy cảm, một trái tim đầy nhạc với những đốm lửa buồn. Để rồi sau những cuộc say tràn cung mây, khi dòng cảm hứng chợt bùng lên từ những vùng u ẩn nằm sâu trong cõi nhớ, những giai âm ùa về như những luồng điện làm vỡ òa bí mật: có thương có nhớ có khóc có cười- có cái chớp mắt đã ngàn năm trôi. Đây là những câu thơ khép lại một trong những bài thơ hay nhất của Nguyễn Trọng Tạo: Đồng dao cho người lớn(1).

  • NGUYỄN KHẮC PHÊTừ lâu, ở Huế, nhiều người đã biết tiếng ba công chúa, ba nữ sĩ (Tam Khanh) con vua Minh Mạng, em gái nhà thơ nổi tiếng Tùng Thiện Vương Miên Thẩm, trong đó MAI AM là người được nhắc đến nhiều nhất. Mai Am nổi tiếng trước hết vì tài thơ và cùng vì cuộc đời riêng không được may mắn của bà, tuy bà là người sống thọ nhất trong “Tam Khanh”.

  • LÊ DỤC TÚCùng với nghệ thuật tiếp cận và phản ánh hiện thực, nghệ thuật miêu tả và khắc họa chân dung nhân vật, nghệ thuật châm biếm và sử dụng ngôn ngữ cũng là một trong những nét nghệ thuật đặc sắc ta thường gặp trong các phóng sự Việt Nam 1932 - 1945.

  • NGUYỄN VĂN DÂNTrong thế kỷ XX vừa qua, thế giới, đặc biệt là thế giới phương Tây, đã sản sinh ra biết bao phương pháp phục vụ cho nghiên cứu văn học, trong đó phương pháp cấu trúc là một trong những phương pháp được quan tâm nhiều nhất.

  • AN KHÁNHHai mươi tám năm kể từ ngày chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam, đủ để một thế hệ trưởng thành, một dòng thơ định vị. Tháng 3 vừa qua, Hội Văn nghệ Hà Nội và nhóm nhà thơ - nhà văn - cựu binh Mỹ có cuộc giao lưu thú vị, nhằm tìm ra tiếng nói "tương đồng", sự thân ái giữa các thế hệ Mỹ - Việt thông qua những thông điệp của văn chương.

  • TRẦN ĐÌNH SỬ Bạn đọc Việt Nam vốn không xa lạ với phê bình phân tâm học hơn nửa thế kỷ nay, bởi nó đã bắt đầu được giới thiệu vào nước ta từ những năm ba mươi, bốn mươi thế kỷ trước. Nhưng đáng tiếc nó đã bị kỳ thị rất nặng nề từ nhiều phía. Giống như nhân loại có thời phản ứng với Darwin vì không chấp nhận lý thuyết xem con người là một loài cao quý lại có thể tiến hóa từ một loài tầm thường như loài khỉ, người ta cũng không thể chấp nhận lý thuyết phân tâm học xem con người - một sinh vật có lý trí cao quý lại có thể bị sai khiến bởi bản năng tầm thường như các loài vật hạ đẳng!

  • PHẠM ĐÌNH ÂN(Nhân kỷ niệm lần thứ 20 ngày mất của Thế Lữ 3-6-1989 – 3-6-2009)Nói đến Thế Lữ, trước tiên là nói đến một nhà thơ tài danh, người góp phần lớn mở đầu phong trào Thơ Mới (1932-1945), cũng là nhà thơ tiêu biểu nhất của Thơ Mới buổi đầu. Ông còn là cây bút văn xuôi nghệ thuật tài hoa, là nhà báo, dịch giả và nổi bật là nhà hoạt động sân khấu xuất sắc, cụ thể là đưa nghệ thuật biểu diễn kịch nói nước nhà trở thành chuyên nghiệp theo hướng hiện đại hóa.

  • THÁI DOÃN HIỂUPhàm trần chưa rõ vàng thauChân tâm chẳng biết ở đâu mà tìm.                                VẠN HẠNH Thiền sư

  • HỒ THẾ HÀ  Thi ca là một loại hình nghệ thuật ngôn từ đặc biệt. Nó là điển hình của cảm xúc và tâm trạng được chứa đựng bởi một hình thức - “hình thức mang tính quan niệm” cũng rất đặc biệt. Sự “quái đản” trong sử dụng ngôn từ; sự chuyển nghĩa, tạo sinh nghĩa trong việc sử dụng các biện pháp tu từ; sự trừu tượng hoá, khái quát hoá các trạng thái tình cảm, hiện thực và khát vọng sống của con người; sự hữu hình hoá hoặc vô hình hoá các cảm xúc, đối tượng; sự âm thanh hoá theo quy luật của khoa phát âm thực nghiệm học (phonétique  expérimentale)...đã làm cho thi ca có sức quyến rũ bội phần (multiple) so với các thể loại nghệ thuật ngôn từ khác.

  • LÊ XUÂN LÍTHỏi: Mã Giám Sinh sau khi mua được Kiều, Mã phải đưa Kiều đi ròng rã một tháng tròn mới đến Lâm Tri, nơi Tú Bà đang chờ đợi. Trên đường, Mã đâm thèm muốn chuyện “nước trước bẻ hoa”. Hắn nghĩ ra đủ mưu mẹo, lí lẽ và hắn đâm liều, Nguyễn Du viết:              Đào tiên đã bén tay phàm              Thì vin cành quít, cho cam sự đờiĐào tiên ở đây là quả cây đào. Sao câu dưới lại vin cành quít? Nguyễn Du có lẩm cẩm không?

  • CHU ĐÌNH KIÊN1. Có những tác phẩm người đọc phải thực sự “vật lộn” trên từng trang giấy, mới có thể hiểu được nhà văn muốn nói điều gì. Đó là hiện tượng “Những kẻ thiện tâm” (Les Bienveillantes) của Jonathan Littell. Một “cas” được xem là quá khó đọc. Tác phẩm đã đạt hai giải thưởng danh giá của nước Pháp là: giải Goncourt và giải thưởng của Viện hàn lâm Pháp.

  • PHONG LÊSinh năm 1893, Ngô Tất Tố rõ ràng là bậc tiền bối của số rất lớn, nếu không nói là tất cả những người làm nên diện mạo hiện đại của văn học Việt Nam thời 1932-1945. Tất cả - gồm những gương mặt tiêu biểu trong phong trào Thơ mới, Tự Lực văn đoàn và trào lưu hiện thực đều ra đời sau ông từ 10 đến 20 năm, thậm chí ngót 30 năm.

  • HẢI TRUNGHiện tượng ngôn ngữ lai tạp hay gọi nôm na là tiếng bồi, tiếng lơ lớ (Pidgins và Creoles) được ngành ngôn ngữ học đề cập đến với những đặc trưng gắn liền với xã hội. Nguồn gốc ra đời của loại hình ngôn ngữ này có nhiều nét khác biệt so với ngôn ngữ nói chung. Đây không chỉ là một hiện tượng cá thể của một cộng đồng ngôn ngữ nào, mà nó có thể phát sinh gắn liền với những diễn biến, những thay đổi, sự phát triển của lịch sử, xã hội của nhiều dân tộc, nhiều quốc gia khác nhau.

  • BÙI NGỌC TẤN... Đã bao nhiêu cuộc hội thảo, bao nhiêu cuộc tổng kết, bao nhiêu cuộc thi cùng với bao nhiêu giải thưởng, văn chương của chúng ta, đặc biệt là tiểu thuyết vẫn chẳng tiến lên. Rất nhiều tiền của bỏ ra, rất nhiều trí tuệ công sức đã được đầu tư để rồi không đạt được điều mong muốn. Không có được những sáng tác hay, những tác phẩm chịu được thử thách của thời gian. Sự thất thu này đều đã được tiêu liệu.

  • NGUYỄN HUỆ CHICao Bá Quát là một tài thơ trác việt ở nửa đầu thế kỷ XIX. Thơ ông có những cách tân nghệ thuật táo bạo, không còn là loại thơ “kỷ sự” của thế kỷ XVIII mà đã chuyển sang một giọng điệu mới, kết hợp tự sự với độc thoại, cho nên lời thơ hàm súc, đa nghĩa, và mạch thơ hướng tới những đề tài có ý nghĩa xã hội sâu rộng.

  • NGUYỄN TRƯƠNG ĐÀNĐã nhiều sử liệu viết về cuộc xử án vua Duy Tân và các lãnh tụ khởi xướng cuộc khởi nghĩa bất thành tháng 5-1916, mà trong đó hai chí sĩ Thái Phiên - Trần Cao Vân là hai vị đứng đầu. Tất cả các sử liệu đều cho rằng, việc hành hình đối với Thái Phiên, Trần Cao Vân, Tôn Thất Đề, Nguyễn Quang Siêu diễn ra vào sáng ngày 17-5-1916. Ngay cả trong họ tộc hai nhà chí sĩ, việc ghi nhớ để cúng kỵ, hoặc tổ chức kỷ niệm cũng được tính theo ngày như thế.