Viết, là tôi đang đào bới, đục khoét chính tôi

08:40 27/02/2017

VĂN THÀNH LÊ

Tôi đến với văn chương vô cùng hồn nhiên. Như mọi đứa trẻ quê quen leo đồi lội ruộng, chơi đủ trò trên đồng dưới bãi, tôi còn bày đặt ngẩn ngơ chế những câu có vần có vè cho lũ bạn mục đồng cùng đọc lên chọc lỗ nhĩ chơi.

Ảnh: internet

Từ nói miệng đến bí mật chép lại những nghĩ suy vụng về vào cuốn sổ tay be bé. Từ tới tấp viết rồi “bỏ bom” các tòa soạn đến tác phẩm đầu tiên được lên báo. Từ tập truyện đầu tiên nhiều non tơ, lắm thơ dại đến những cuốn sách sau, càng ngày càng tự biết dọn ngòi bút sạch sẽ hơn. Đấy là hành trình dằng dặc dài với cá nhân tôi. Khởi đi từ thuở hoa niên trộn phất phơ mơ màng trong lung linh ảo mộng. Văn chương đã rộng lòng đón cậu bé quê, là tôi, như vậy. Lắng lòng, nghĩ lại, vẫn thấy tươi ròng xúc cảm thuở ngày xưa chưa xa.

Văn chương, tôi sớm bước vào. Và tôi cũng sớm nhận ra. Đường dài mới biết ngựa hay. Có biết bao cây viết tuổi hoa lên ngựa rồi ngã ngựa, hay tự xuống ngựa tìm đường khác phù hợp với tuổi mới của mình hơn. Đến rồi đi. Nhẹ nhàng như gió. Chẳng kịp làm rơi chiếc lá vàng nào. Thế mới biết, từ khởi động đến về đích có khi là cả đời người. Thậm chí hết đời người vẫn chỉ là khởi động, đích là gì đó vô hình ngăn ngắt xa, càng dấn bước càng hoang mang, như lầm đường lạc lối. Và rồi lại quẫy đạp trong nỗi hoang mang lạc lối ấy. Đấy vừa là bi kịch vừa là hấp lực của người viết. Khi không còn nhận ra bi kịch, khi không còn cảm giác có hấp lực hút vào, chắc hẳn người và văn sẽ đường ai nấy đi.

Văn chương ngỡ xa tầm với mà lại gần, bởi xét đến cùng, đấy là con đường nhận diện cái tôi của mình. Tôi viết, là tôi đang đào bới, đục khoét vào chính tôi. Mọi thứ xuất phát trên vạch ẩn ức cá nhân. Tôi không nhân danh hay mang vác sứ mệnh gì, dù lớn hay bé. Nếu có, thì đấy là tự mình đeo ách khát khao cho câu chữ chạm đến tận cùng của mình mà thôi. Tôi gọi đấy là văn chương. Là một. Là riêng. Là duy nhất. Duy nhất chứ không phải thứ nhất, theo ý Xuân Diệu.

Mọi sự bắt rể từ cá nhân. Rồi đến “những người sống quanh tôi”. Tôi nghe. Tôi thấy. Tôi chiêm nghiệm. Hỏi sao mà phải nặng lòng, phải cực hình thế? Không. Chẳng ai bắt. Viết. Biết là đau nhưng cũng là khoái cảm.

2. Hơn một lần tôi tự hỏi, những người viết trẻ chúng tôi đã có gì và đang ở đâu trong dòng chảy văn chương đương đại. Tự hỏi. Tự bùi ngùi. Bởi tất cả với chúng tôi mới chỉ là bắt đầu. Ở độ tuổi 25 - 35 vẫn chỉ là bắt đầu, thì quá muộn so với những Vũ Trọng Phụng, Nam Cao, Huy Cận, Hàn Mặc Tử, Nguyên Hồng… Nhưng biết nói sao. Mỗi thời đại có cách sản sinh ra người viết khác nhau. Nhìn vào cách thế hệ 8x và 9x đang chiếm lĩnh hầu hết các diễn đàn văn chương, từ báo giấy đến báo điện tử, từ sách giấy truyền thống đến các trang mạng xã hội, rồi ebook, từ chính thống đến diễn đàn viết tự do, người khó tính cũng phải thừa nhận khu vườn văn trẻ vô cùng xôm tụ và nhiều giọng điệu. Chưa bao giờ người đọc phân hóa và người viết cũng phân hóa rõ như hiện nay.

Có những cái tên lầm lũi kiên định tìm lối đi riêng cho mình, như Nhã Thuyên, Lê Minh Phong, Du Nguyên, Đinh Phương, Hạo Nguyên… Có những cái tên vẫn kiên định cần mẫn tận hiến sức mình cho con chữ, như Trịnh Sơn, Lê Vũ Trường Giang, Hoàng Công Danh, Nguyễn Thị Kim Hòa, Cao Nguyệt Nguyên, Lữ Thị Mai, Nguyễn Dương Quỳnh, Nguyễn Thiên Ngân… Đồng hành trên con đường ấy là những cây viết phê bình dấn thân, vốn học thuật đầy đặn, như Đoàn Ánh Dương, Phan Tuấn Anh, Mai Anh Tuấn..., rồi đội ngũ dịch giả trẻ cũng dồi dào, với Cao Việt Dũng, Hoàng Phương Thúy, Trần Nhật Mỹ, Minh Thương, Lê Nguyễn Lê, Tịnh Thủy…

Song song đấy là lực lượng hùng hậu các tác giả trẻ, có lối viết tạm gọi là thị trường, tạo “hiệu ứng đám đông” tốt với đối tượng độc giả mới lớn, là lứa tuổi được cho là có thời gian và điều kiện nhất để đến với sách. Nhìn vào dòng sách này mới thấy chưa bao giờ ra sách đơn giản và nhẹ nhàng như bây giờ. Và cũng chưa bao giờ, hình ảnh người viết được đẩy lên nhanh đến chóng mặt như bây giờ. Đấy có thực sự là văn học không hay chỉ là á văn học? Điều này còn cần xem lại. Nhưng, ai cũng hiểu, cái gì đến nhanh nhiều khả năng sẽ qua nhanh. Mọi sự ồn ào đều chứa đựng trong lòng những hạt mầm của tĩnh mịch cô liêu. Dẫu nhìn ở góc độ phát triển, đấy là tự nhiên, là cần thiết. Văn đàn sẽ đa dạng và phong phú hơn. Nhưng rõ ràng, chỉ lấy điều này để đo sức khỏe của văn học trẻ là lệch lạc và thiếu thuyết phục.

Văn học phân hóa mạnh mẽ. Mỗi người viết có cách chọn đường đi, đường đến với người đọc theo cách riêng của mình. Đấy là câu chuyện cá nhân, là dễ hiểu, là cần thiết, và hết sức bình thường.

3. Cuối cùng thì “Viết gì?” và “Viết như thế nào?” vẫn là hai câu hỏi xưa nhưng chưa bao giờ cũ mà nhiều người viết không ngừng tự vấn bản thân. Nghĩ nhiều, bàn nhiều, lại quay về tạng viết của mỗi người. Hơn ai hết, người viết phải tự nhận ra tạng viết của mình.

Tôi vẫn nhớ cảm giác đầu tiên bập vào cuốn tiểu thuyết Bắt trẻ đồng xanh của J. D. Salinger và tập truyện Bốn lối vào nhà cười của Hồ Anh Thái. Cảm tưởng như tác giả viết nhẹ như không. Tự nhiên như không. Giọng văn bỡn cợt, giễu nhại, cười đấy mà đau đấy. Tôi lờ mờ nhận ra “lối đi ngay dưới chân mình” là đây. Rồi tiếp tục bập vào Tướng về hưu, Cơ hội của Chúa, Thoạt kì thủy, Đám cưới không có giấy giá thú, Đi về nơi hoang dã, tôi nghĩ đến thứ văn mà ở đó hội tụ kiểu đối thoại sâu cay đến lạnh người của Nguyễn Huy Thiệp, với cách dùng chữ lên bỗng xuống trầm lướt thướt tính từ của Nguyễn Việt Hà, với ma trận huyền ảo tầng tầng ẩn dụ của Nguyễn Bình Phương, với chỉn chu chắc chắn của Ma Văn Kháng, với tính triết luận sắc bén của Nhật Tuấn, và chốt lại bằng giọng văn hài hước, trào lộng, châm biếm của Hồ Anh Thái.

Tất nhiên, từ nhận ra đến việc đi là câu chuyện khác. Và đi được đến đâu lại là khác nữa.

Văn chương thế giới không ngừng vận động. Trong nước cũng nhảy dựng lên. Các trào lưu liên tục soán ngôi nhau. Nhưng dù có trào lưu gì, thiết nghĩ, vẫn phải đứng trên nền hiện thực và tư tưởng. Chất sống là xương sống của tác phẩm. Tư tưởng làm nên hồn cốt tác phẩm. Tác phẩm ít chất sống và tư tưởng đi vắng là tác phẩm èo uột thiếu sinh khí. Mọi kỹ thuật lúc này chỉ là tấm áo khoác ngoài, loay hoay lấp liếm.

Tôi cứ hình dung văn chương thật vô cùng, là cả chân trời rộng. Người viết như những cánh chim thồ chữ về phía ấy. Viết đến đây bỗng nhớ mấy câu thơ của thi sĩ Hoàng Nhuận Cầm, rằng: “Như cánh chim trong mắt của chân trời/ Ta đã chán, lời vu vơ giả dối/ Hót lên! Dù đau xót một lần thôi.”

Saigon, 10/12/2016
V.T.L  
(TCSH335/01-2017)






 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • INRASARA (Tiếp theo Sông Hương số 245 tháng 7-2009)

  • HÀ VĂN THỊNH Những cái tên - có lẽ không giản đơn như cách nói của người Nga - " Người ta gọi tôi là...”  Ở đây, lớp vỏ của ngôn từ chỉ diễn tả một khái niệm mù mờ nhất của một lượng thông tin ít nhất.Trong khi đó, có bao giờ ta nghĩ rằng một cái tên, không ít khi hàm chứa thật nhiều điều - thậm chí nó cho phép người khác biết khá rõ về tính cách, khả năng và ngay cả một phần của số phận của kiếp người?

  • HÀ VĂN LƯỠNG1. Ivan Bunhin (1870-1953) là một nhà văn xuôi Nga nổi tiếng của thế kỷ XX. Cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của ông trải qua những bước thăng trầm gắn với nhiều biến động dữ dội mang tính chất thời đại của nước Nga vào những năm cuối thế kỷ XIX và mấy chục năm đầu thế kỷ XX.

  • LÊ THÀNH NGHỊCâu hỏi “ta là ai?”, “ta vì ai” nổi tiếng của Chế Lan Viên tưởng đã tìm ra câu trả lời có chứa hạt nhân hợp lý của thời đại trong thơ chống Mỹ đã không còn đủ sức ôm chứa trong thời kì mới, khi nhu cầu xã hội và cá nhân đã làm thức tỉnh cái tôi trữ tình của người làm thơ. Nhu cầu xã hội thường là những gì bức thiết nhất của thực tại, do thực tại yêu cầu. Chẳng hạn, thời chống Mỹ đó là độc lập tự do của dân tộc. Tất cả những hoạt động tinh thần, trong đó có sáng tác thơ văn, nếu nằm ngoài “sự bức thiết thường nhật” này không phù hợp, không được đón nhận... và vì thế không thể phát triển. Kể từ sau năm 1975, đặc biệt là sau 1986, với chủ trương đổi mới, trong xã hội ta, nhu cầu bức thiết nhất, theo chúng tôi là khát vọng dân chủ.

  • LÝ TOÀN THẮNG“Văn xuôi về một vùng thơ” là một thể nghiệm thành công của Chế Lan Viên trong “Ánh sáng và phù sa”, về lối thơ tự do, mở rộng từ thấp lên cao - từ đơn vị cấu thành nhỏ nhất là Bước thơ, đến Câu thơ, rồi Đoạn thơ, và cuối cùng là cả Bài thơ.

  • INRASARA1. Đó là thế hệ thơ có một định phận kì lạ. Người ta vội đặt cho nó cái tên: thế hệ gạch nối, thế hệ đệm. Và bao nhiêu hạn từ phái sinh nhợt nhạt khác.Đất nước mở cửa, đổi mới, khi văn nghệ được cởi trói, nhà thơ thế hệ mới làm gì để khởi sự cuộc viết? Cụ thể hơn, họ viết thế nào?

  • VÕ VĨNH KHUYẾN Tiểu luận nhằm tìm hiểu thành tựu thơ ca trong khoảng 16 tháng giữa 2 cột mốc lịch sử (19.8.1945 - 19.12.1946). Bởi khi phân chia giai đoạn văn học nói chung (thơ ca nói riêng) trong tiến trình lịch sử văn học, các công trình nghiên cứu, các giáo trình ở bậc Đại học - Cao đẳng và sách giáo khoa trung học phổ thông hiện hành, không đặt vấn đề nghiên cứu thơ ca (cũng như văn học) nói riêng trong thời gian này. Với một tiêu đề chung "Văn học kháng chiến chống Pháp 1946 - 1954". Đây là nguyên do nhiều sinh viên không biết đến một bộ phận văn học, trong những năm đầu sau cách mạng.

  • HỒ THẾ HÀ1. Diễn đàn thơ được tổ chức trên đất Huế lần này gắn với chương trình hoạt động của lễ hội Festival lần thứ 3, tự nó đã thông tin với chúng ta một nội dung, tính chất và ý nghĩa riêng. Đây thực sự là ngày hội của thơ ca. Đã là ngày hội thì có nhiều người tham gia và tham dự; có diễn giả và thính giả; có nhiều tiếng nói, nhiều tấm lòng, nhiều quan niệm trên tinh thần dân chủ, lấy việc coi trọng cái hay, cái đẹp, cái giá trị của nghệ thuật làm tiêu chí thưởng thức, trao đổi và tranh luận. Chính điều đó sẽ làm cho không khí ngày hội thơ - Festival thơ sẽ đông vui, phong phú, dân chủ và có nhiều hoà âm đồng vọng mang tính học thuật và mỹ học mới mẻ như P.Valéry đã từng nói: Thơ là ngày hội của lý trí (La poésie est une fête de l'intellect).

  • THẠCH QUỲThơ đi với loài người từ thủa hồng hoang đến nay, bỗng dưng ở thời chúng ta nứt nẩy ra một cây hỏi kỳ dị là thơ tồn tại hay không tồn tại? Không phải là sự sống đánh mất thơ mà là sự cùn mòn của 5 giác quan nhận thức, 6 giác quan cảm nhận sự sống đang dần dà đánh mất nó. Như rừng hết cây, như suối cạn nước, hồn người đối diện với sự cạn kiệt của chính nó do đó nó phải đối diện với thơ.

  • NGUYỄN VĨNH NGUYÊNNhững năm gần đây, người ta tranh luận, ồn ào, khua chiêng gõ mõ về việc làm mới văn chương. Nhất là trong thơ. Nhưng cái mới đâu chẳng thấy, chỉ thấy sau những cuộc tranh luận toé lửa rốt cục vẫn là: hãy đợi đấy, lúc nào đó, sẽ... cãi tiếp...

  • TRẦN VĂN LÝAi sản xuất lốp cứ sản xuất lốp. Ai làm vỏ cứ làm vỏ. Ai làm gầm cứ làm gầm. Nơi nào sản xuất máy cứ sản xuất máy. Xong tất cả được chở đến một nơi để lắp ráp thành chiếc ô tô. Sự chuyên môn hoá đó trong dây chuyền sản xuất ở châu Âu thế kỷ trước (thế kỷ 20) đã khiến cho nhiều người mơ tưởng rằng: Có thể "sản xuất" được thơ và sự "mơ tưởng" ấy vẫn mãi mãi chỉ là mơ tưởng mà thôi!

  • HOÀNG VŨ THUẬTChúng ta đã có nhiều công trình, trang viết đánh giá nhận định thơ miền Trung ngót thế kỷ qua, một vùng thơ gắn với sinh mệnh một vùng đất mà dấu ấn lịch sử luôn bùng nổ những sự kiện bất ngờ. Một vùng đất đẫm máu và nước mắt, hằn lên vầng trán con người nếp nhăn của nỗi lo toan chạy dọc thế kỷ. Thơ nảy sinh từ đó.

  • BÙI QUANG TUYẾNThơ mới là một hiện tượng nổi bật của văn học Việt Nam nói chung và thơ ca nói riêng trong thế kỷ XX. Nó vừa ra đời đã nhanh chóng khẳng định vị trí xứng dáng trong nền văn học dân tộc với các "hoàng tử thơ": Thế Lữ , Xuân Diệu, Huy Cận, Lưu Trọng Lư, Chế Lan Viên, Hàn Mặc Tử v.v... Đồng thời, Thơ mới là một hiện tượng thơ ca gây rất nhiều ý kiến khác nhau trong giới phê bình, nghiên cứu và độc giả theo từng thời kỳ lịch sử xã hội, cho đến bây giờ việc đánh giá vẫn còn đặt ra sôi nổi. Với phạm vi bài viết này, chúng tôi điểm lại những khái niệm về Thơ mới và sự đổi mới nghệ thuật thơ của các bậc thầy đi trước và tìm câu trả lời cho là hợp lý trong bao nhiêu ý kiến trái ngược nhau.

  • MẠNH LÊ Thơ ca hiện đại Việt Nam thế kỷ XX đã thu được những thành tựu to lớn đóng góp vào sự phát triển của lịch sử thơ ca dân tộc. Đặc biệt từ ngay sau Cách mạng tháng 8 năm 1945, Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời thay thế chế độ phong kiến thực dân hơn trăm năm đô hộ nước ta cùng với khí thế cách mạng kháng chiến cứu nước theo lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh tháng 12 năm 1946 đã thổi vào đời sống văn học một luồng sinh khí mới để từ đó thơ ca hiện đại Việt Nam mang một âm hưởng mới, một màu sắc mới.

  • NGUYỄN KHẮC THẠCHNếu gọi Huế Thơ với tư cách đối tượng thẩm mĩ thì chủ thể thẩm mĩ của nó trước hết và sau cùng vẫn là sự hoá sinh Thơ Huế. Đương nhiên, không hẳn chỉ có Thơ Huế mới là chủ thể thẩm mĩ của Huế Thơ và cũng đương nhiên không hẳn chỉ có Huế Thơ mới là đối tượng thẩm mĩ của Thơ Huế. Huế Thơ và Thơ Huế vẫn là hai phạm trù độc lập trong chừng mực nào đó và có khi cả hai đều trở thành đối tượng thẩm mĩ của một đối tượng khác.

  • ĐỖ LAI THÚYThanh sơn tự tiếu đầu tương hạc                                  Nguyễn KhuyếnNói đến Dương Khuê là nói đến hát nói. Và nói đến hát nói, thì Hồng Hồng, Tuyết Tuyết làm tôi thích hơn cả. Đấy không chỉ là một mẫu mực của thể loại, mà còn làm một không gian thẩm mỹ nhiều chiều đủ cho những phiêu lưu của cái đọc.

  • NGUYỄN NGỌC THIỆNHải Triều tên thật là Nguyễn Khoa Văn, sinh năm 1908 trong một gia đình Nho học, khoa bảng. Năm 20 tuổi, trở thành đảng viên trẻ của Tân Việt cách mạng Đảng, Nguyễn Khoa Văn bắt đầu cầm bút viết báo với bút danh Nam Xích Tử (Chàng trai đỏ). Điều này đã khiến trong lần gặp gỡ đầu tiên, người trai có "thân hình bé nhỏ và cử chỉ nhanh nhẹn theo kiểu chim chích" (1) ấy đã gây được cảm tình nồng hậu của Trần Huy Liệu- chủ nhiệm Nam Cường thư xã, người bạn cùng trang lứa tuy vừa mới quen biết, nhưng đã chung chí hướng tìm đường giải phóng cho dân tộc, tự do cho đất nước.

  • TÔ VĨNH HÀ Huế đang trở lạnh với "mưa vẫn mưa bay" giăng mờ như hư ảo những gương mặt người xuôi ngược trên con đường tôi đi. Tôi giật mình vì một tà áo trắng vừa trôi qua. Dáng đi êm nhẹ với cánh dù mỏng manh như hơi nghiêng xuống cùng nỗi cô đơn. Những nhọc nhằn của tuổi mơ chưa đến nỗi làm bờ vai trĩu mệt nhưng cũng đủ tạo nên một "giọt chiều trên lá(1), cam chịu và chờ đợi nỗi niềm nào đó hiu hắt như những hạt mưa...

  • NGUYỄN HỒNG DŨNG1. Một cuộc đời lặng lẽ và những truyện ngắn nổi danhO' Henry, tên thật là William Sydney Porter, được đánh giá là người viết truyện ngắn xuất sắc nhất của nước Mỹ những năm đầu thế kỷ XX. Ông sinh tại Greenboro, tiểu bang North Carolina vào năm 1862. Năm 15 tuổi (1877), ông thôi học và vào làm việc trong một hiệu thuốc tây. Vào tuổi hai mươi, ông bị đau nặng và sức khoẻ sa sút nên đã đến dưỡng sức ở một nông trại tại tiểu bang Texas. Ông đã sống ở đấy hai năm, đã làm quen với nhiều người và hiểu rất rõ tính cách miền Tây. Sau này, ông đã kể về họ rất sinh động trong tập truyện ngắn có tựa đề đầy xúc cảm Trái tim miền Tây.

  • MAI KHẮC ỨNGCó thể sau khi dẹp được loạn 12 sứ quân, Đinh Tiên Hoàng (968- 979) thống nhất lãnh thổ và lên ngôi hoàng đế, đã đặt được cơ sở ban đầu và xác định chủ quyền Đại Cồ Việt lên tận miền biên cương Tây Bắc vốn là địa bàn chịu ảnh hưởng Kiểu Công Hãn. Trên cơ sở 10 đạo thời Đinh nhà vua Lý Thái Tổ (1010- 1028) mới đổi thành 24 phủ, lộ. Nguyễn Trãi viết Dư địa chí (thế kỷ XV) vẫn giữ nguyên tên gọi đạo Lâm Tây. Tức vùng Tây- Bắc ngày nay.