TRẦN VIẾT ĐIỀN
Phò mã Nguyễn Văn Thuyên, con trai của Nguyễn Văn Thành, làm thơ ngông bị tố, bị bắt và bị tra khảo.
Ảnh chỉ mang tính minh họa: internet
Ban đầu Thuyên tranh biện không nhận tội, nhưng bị tra tấn, sức người chịu đựng cũng có hạn, Thuyên phải nhận tội. Còn người cha Nguyễn Văn Thành đang ở tột đỉnh vinh quang, phút chốc bị vua Gia Long tước hết chức tước. Vua Gia Long vốn nghi Nguyễn Văn Thành, nhân “sự cố” Nguyễn Văn Thuyên nhà vua càng nghi ông làm phản. Vua im lặng để các đại thần như Lê Văn Duyệt nghị án, tội Nguyễn Văn Thành càng ngày càng tăng… Bị tước hết quyền, ngồi uống rượu suông, trong tâm cảm tuyệt vọng, u uất ông hạ bút viết hai câu thơ để đời “Chung dải quan hà bao kẻ đứng? Chạnh niềm sương tuyết một mình đi...”, rồi quyết định dùng thuốc độc để tuyệt mệnh. Nguyễn Văn Thành viết thế thôi, ông vẫn biết có người tri kỷ mà ông rất trọng vọng, một người học rộng tài cao đã cùng ông soạn nên “Hoàng Việt luật lệ”, “Quốc triều thực lục”… và nhất là thầy học của con trai Nguyễn Văn Thuyên; đã dũng cảm bênh vực học trò, cùng vào ngục chia khổ với ông khi con trai ông mắc tội, đó là thầy Vũ Trinh.
Vũ Trinh [1759, 1828] thuộc dòng dõi khoa bảng, trọng thần thời Lê-Trịnh, quê quán làng Xuân Lai, huyện Lương Tài, trấn Kinh Bắc, cha là Vũ Chiêu đỗ Hương giải, chức Tham nghị, ông nội là Vũ Miên đỗ Hội nguyên, chức lên đến Tham tụng. Vũ Trinh thông minh từ nhỏ, sách đọc qua là thuộc, nổi tiếng thần đồng. Năm 17 tuổi, Vũ Trinh đỗ đầu khoa thi Hương tiến, được bổ làm Tri phủ Quốc Oai. Ông là anh vợ Nguyễn Du, bạn tâm giao với Ngô Thì Nhậm. Ông thuộc lớp trí thức Bắc hà chủ trương phò Lê, không theo Tây Sơn. Tây Sơn ra Bắc ông ẩn ở Hồ Sơn (Nam Định). Từ năm 1793, triều đình Cảnh Thịnh bị Thái sư Bùi Đắc Tuyên khuynh loát,… Ngô Thị Nhậm cùng người bạn tâm giao Vũ Trinh, Ngô Thì Hoàng, Nguyễn Đăng Sở, Nguyễn Đạm mở Thiền viện Trúc Lâm ở phường Bích Câu (Thăng Long) để nghiên cứu Phật học. Khi Hải Lượng đại thiền sư Ngô Thì Nhậm viết “Trúc lâm tông chỉ nhất nguyên thanh” thì Vũ Trinh tham gia chú giải sách này. Vua Gia Long Bắc phạt, thanh toán Bảo Hưng Nguyễn Quang Toản thì Vũ Trinh là một trong những danh sĩ Bắc Hà như Nguyễn Duy Hợp,… được vua Gia Long thu dụng. Những chế cáo, biểu văn từ mệnh,… đầu đời Gia Long một phần do Vũ trinh chấp bút. Năm 1804, nhân sự kiện đưa hài cốt vua Lê Chiêu Thống về nước, ông xin cáo quan nhưng vua không chấp thuận. Ông từng làm chánh sứ năm 1808 qua Yên Kinh. Tổng trấn Bắc thành Nguyễn Văn Thành, vốn là con quan, có học vấn nên sớm kết giao với Vũ Trinh. Khi quan tổng trấn được vua giao Tổng tài soạn luật và quốc sử, Nguyễn Văn Thành đã tiến cử Vũ Trinh, Trần Hựu cộng tác để soạn “Hoàng Việt luật lệ”, “Quốc triều thực lục”. Nguyễn Du viết “Đoạn trường tân thanh” từng nhờ ông đọc bản thảo và bình…
Tổng trấn Bắc thành Nguyễn Văn Thành rất trọng tài năng và nhân cách của Vũ Trinh, liền cho con Nguyễn Văn Thuyên làm học trò. Thầy Vũ Trinh do nho học xuất thân nên “trọng văn khinh võ” là lẽ thường, không thể không ảnh hưởng người học trò Nguyễn Văn Thuyên. Ngay từ thời Nguyễn vương đang đánh nhau với Tây Sơn, trong nội bộ đã có chia rẽ giữa những quan văn và quan võ mà đứng đầu nhóm văn là Nguyễn Văn Thành, Đặng Trần Thường,… đứng đầu nhóm võ là Lê Văn Duyệt, Lê Chất,… Vì Thuyên là phò mã, cha lại là đại công thần, ông nội là trung tiết công thần nên thù tiếp có phần chủ quan bất cẩn. Nguyễn Văn Thuyên kết giao với những văn nhân Bắc Hà, văn nhân Thanh Nghệ, khi xướng họa thi văn có dụng tửu, trong bối cảnh hàng văn hàng võ có mâu thuẫn, mà thầy học Vũ Trinh là phe hàng văn nên Nguyễn Văn Thuyên quá đề cao bạn văn. Cùng là phò mã nhưng đa phần “anh em cột chèo” là võ quan tập ấm, con của những thống chế, đô thống… làm cho phò mã trọng văn Nguyễn Văn Thuyên không phục. Nguyễn Văn Thuyên muốn thay đổi từ “võ trị” sang “văn trị”, đâu dám tạo phản, với tâm cảm ấy ông viết bài thơ ngông, tặng hai người có tiếng hay chữ xứ Thanh Hóa là Nguyễn Văn Khuê, Nguyễn Đức Nhuận, có đoạn:
“Văn đạo Ái Châu đa tuấn kiệt,
Hư hoài trắc tịch dục cầu ty.
Vô tâm cửu bảo Kinh Sơn phác,
Thiện tướng, phương tri Ký-bắc Kỳ.
U-cốc hữu hương thiên lý viễn,
Cao vương minh-phượng cửu thiên tri.
Thư hồi được đắc Sơn trung tể,
Tá ngã kinh-luân chuyển hóa ky.”
Dịch nghĩa là:
Ái-châu nghe nói lắm người hay,
Ao ước cầu hiền đã bấy nay.
Ngọc phác Kinh-Sơn tài sẵn đó,
Ngựa Kỳ Ký-bắc biết lâu thay.
Mùi hương hang tối xa nghìn dặm,
Tiếng phượng gò cao suốt chín mây.
Sơn tể phen này dù gặp gỡ,
Giúp nhau xoay-đổi hội cơ này.
(Ng.Wikividia)
Cũng như thân phụ, phò mã Thuyên đã làm việc “sửa dép vườn dưa”, “tình ngay lý gian”, những người cố hại cha con Tổng trấn đã căn cứ vào hai câu kết của bài thơ để “làm tội”. Thầy Vũ Trinh, lúc bấy giờ là quan Tham tri Bộ Hình, ra sức “giải oan” cho học trò. Sử chép: “Vua bảo thị thần rằng: “Thuyên không có lòng làm giặc, sao thơ lại bội nghịch”. Trinh nói: “thơ ấy là quê hẹp trái lẽ, nhưng ở trong có câu: u cốc sinh hương thiên lý viễn, nghĩa là lan mọc ở hang sâu mùi hương bay xa nghìn dặm, chữ “hương” nên làm đích chữ, trên có bộ thảo dưới chữ đông, chữ môn bọc ở ngoài, vì tránh quốc húy, đổi làm chữ hương, ngay một chữ ấy còn biết kính tránh có lẽ không phải người thực lòng bội nghịch tự làm được”. Vua giận lắm bảo rằng: “bênh vực như thế, chẳng phải là a dua bè lũ ư! Bèn sai đoạt mất chức giao xuống giam trong ngục, về sau Thành uống thuốc độc chết, người hoặc khuyên Trinh tự phải tính, Trinh bảo rằng: “Nếu phải tội với triều đình, xin đem cổ chịu chém, nếu không có tội, tội gì tự hại thân mình, để mang tiếng xấu”. Chữ “蘭”(hoa lan) là chữ quốc húy, tên của vợ chánh vua Gia Long, theo thầy Vũ Trinh là Nguyễn Văn Thuyên định viết u cốc sinh lan, vì sợ phạm húy nên viết thành u cốc sinh hương (香). Thực vậy, ngay mở đầu bài thơ Nguyễn Văn Thuyên đã dùng cụm từ “Văn đạo”; thế thì trong dòng mạch bài thơ dẫu có “ngựa kì”, “thiện tướng”, “cao vương”, “xoay đổi”, “hội cơ”,… chỉ là khát vọng muốn thay đổi “làng văn trận bút” trong tình hình như sau này Cao Chu Thần nhận định trong lời đề cuối tập thơ của Thi ông Thương Sơn: “Hiện nay lối học khoa cử thấm sâu vào người ta đã mấy trăm năm. Tiếng vang của Phong, Nhã hầu như đã dứt hẳn. Quốc triều ta trị giáo sáng suốt, các tác gia lại nối gót nhau ra đời. Nhưng thói ủy mị yếu ớt còn rơi rớt lại, mấy ai đã vượt ra được. Người yếu thì sa vào thứ tầm thường, dễ dãi; kẻ làm ra thế mạnh lại rơi vào bệnh ăn sống nuốt tươi. Kẻ cậy sức học dồi dào, hý hửng tự đắc, chỉ lăm le vét trăm nhà, thâu tóm mọi thể, thành ra mô phỏng quá nhiều mà phong cốt chưa cao, tô điểm có khéo mà tinh thần không đạt.” (Ngô Văn Phú, Tùng Thiện vương, Nxb. Văn học, Hà Nội, 1991, tr.11). Do vua Gia Long đã ngờ vực Nguyễn Văn Thành từ lâu, do ông sửa mộ mẹ quá phép, táng mẹ ở huyệt đế vương, lại kết giao danh sĩ Bắc Hà (nặng lòng hoài Lê), không được lòng đồng liêu ban võ như Lê Văn Duyệt; hơn nữa Vũ Trinh là cựu thần nhà Lê, lòng ngờ của vua tăng lên bội phần, trong cơn nóng giận nhà vua đã xử nặng Vũ Trinh.
Vũ Trinh, sau 3 năm tù ngục, hơn 13 năm bị “an trí” ở Hội An, Quảng Nam, tự đáy lòng ông chắc rất buồn, mang tâm trạng “Chữ trinh còn lại chút này/ Chẳng cầm cho vững mà giày cho tan”, có thể có những “hành xử” bất cập. Tuy nhiên Vũ Trinh là một người trí dũng, được trau luyện qua những đổi thay “kinh thiên động địa” của thời cuộc, khi đã quyết làm quan triều Nguyễn, họ Vũ đã đem tài học, kinh nghiệm,… để giúp vua trị nước thông qua việc góp phần soạn “Hoàng Việt luật lệ”; vì thế khi bị hàm oan, ông đã nhẫn nhục chấp nhận “án lệnh” của vua không qua xét xử, vẫn ung dung “giảng sách dạy học trò, lấy văn chương sách vở làm vui, như được yên phận, không có dáng uất giận”. Bởi vậy, vào năm Minh Mạng thứ 9, vua Minh Mạng tuần thú Quảng Nam, Vũ Trinh lúc bấy giờ đã già yếu, sai con viết trần tình, vua Minh Mạng cảm thương, đã tha và cho ông về thăm nhà, đến cố hương vài hôm thì mất, thọ 70 tuổi. Do ít nhiều đã giác ngộ triết lý “cư trần lạc đạo” khi cùng Ngô Thì Nhậm trao đổi ở Thiền viện Trúc Lâm (Thăng Long), Vũ Trinh đã “tùy duyên” mà vui sống ở Hội An, Quảng Nam, dưới dạng bị “lưu đày”, để minh chứng ông “không có tội”. Tất nhiên khi vua Minh Mạng tha cho Vũ Trinh về quê thì trong thâm tâm vua Minh Mạng đã thấy tiên đế “nặng tay” đối với cha con đại công thần Nguyễn Văn Thành; do vậy đến thời vua Tự Đức các oan hồn đã được giải oan vậy. “Luật sư” Vũ Xuân Cẩn thành công trong “vụ án Nguyễn Văn Thuyên”, gỡ xích sắt trên “mộ xiềng” Nguyễn Văn Thành, là trên cơ sở mầm “văn trị, pháp trị” đã được một trong những người gieo ban đầu, dẫu quá gian truân, ấy là Vũ Trinh vậy.
T.V.Đ
(SHSDB38/09-2020)
Tải mã QRCode
NGUYỄN THẾ
Văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số bao gồm những giá trị vật chất và tinh thần đã sản sinh trong đời sống, quá trình lao động và sáng tạo của đồng bào dân tộc cư trú từ vùng Tây Bắc trải dài dọc Trường Sơn đến tận cùng phía Nam của tổ quốc.
PHONG LÊ
Bốn tháng sau ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập trên Quảng trường Ba Đình, 25 triệu người dân Việt Nam bước vào năm 1946, năm mở đầu kỷ nguyên Dân chủ - Cộng hòa, bằng một sự kiện vang động lịch sử: Cuộc bầu cử Quốc hội khóa I, cơ quan lập pháp cao nhất của đất nước, vào ngày 6/1/1946.
VÕ VINH QUANG
NGUYỄN DUY TỜ
1.
Không phải đến tận năm 1805, ở tuổi 41, được triều đình nhà Nguyễn bổ chức Đông Các học sĩ, trao cho tước Du Đức hầu, Nguyễn Du mới vào Huế.
PHẠM XUÂN DŨNG
Từ một hòn đảo hoang vu chưa được nhiều người biết đến, bỗng một ngày đầu thế kỷ 20, Phú Quý được cả người trong nước lẫn người Phú-lãng-sa (Pháp) phải chú ý đến mảnh đất này.
NGUYỄN ĐẮC XUÂN
Vì một chữ Liêm
Cuộc đời làm tướng của Nguyễn Tri Phương ít khi ông được sống với gia đình. Không chinh Nam thì phạt Bắc. Quanh năm rong ruỗi không ngừng.
TA DƯR TƯ
Trong các nghi lễ vòng đời, lễ cưới, hỏi được xem là lễ quan trọng nhất và trang trọng nhất trong cuộc đời của mỗi con người Pa cô.
ĐINH VĂN TUẤN
Vào năm 1802 chúa Nguyễn Phúc Ánh chiến thắng Tây Sơn, thống nhất đất nước và lên ngôi, lấy niên hiệu là Gia Long.
NGUYỄN ĐÌNH ĐÍNH - VÕ VINH QUANG
Năm 1790 có một sự kiện ngoại giao tốn nhiều giấy mực, tâm sức của những ai quan tâm đến lịch sử nước nhà giai đoạn Tây Sơn, mà chính sử triều Nguyễn gọi: Giả vương nhập cận.
PHAN THUẬN AN
Không có tư liệu thì không có lịch sử. Nhưng, nếu có tư liệu mà tư liệu thiếu sót, bất nhất và không chắt lọc kỹ thì cũng dễ dẫn đến chỗ nhầm lẫn khi viết lại quá khứ.
TRẦN VIẾT ĐIỀN
Đình làng Phú Xuân từng được các triều vua Nguyễn “quan tâm đặc biệt” và nay được cấp bằng di tích lịch sử quốc gia. Ở đình, dân làng Phú Xuân thờ một số thiên thần, nhân thần như các làng ở Thuận Hóa, ngoài ra còn thờ một số nhân thần bổn thổ là những nhân vật lịch sử thuộc triều Lê, triều Tây Sơn và triều Nguyễn.
VÕ VINH QUANG
LTS: Từ lâu, việc giải mã nơi đặt lăng mộ Hoàng đế Quang Trung, cung điện Đan Dương là những vấn đề khoa học được giới nghiên cứu trong nước chú ý tìm tòi. Tuy nhiên, tất cả các công việc chỉ nằm trên những bài viết, chưa có sự khảo sát thực địa, khai quật để hiển lộ những kiến giải và cả nghi ngờ.
LÊ QUANG THÁI
Nội dung của bài này chỉ nhằm khiêm tốn khơi gợi lại một số di tích tại chốn kinh sư liên quan đến các nhân vật lịch sử, làng xã, chùa quán mà nhà văn lớn Hà Đình Nguyễn Thuật đã ưu ái dành nhiều cảm xúc quan tâm trong sáng tác thơ văn.
TRẦN VIẾT ĐIỀN
Thời gian gần đây các học giả, các nhà nghiên cứu đã bước đầu đánh giá, nhìn nhận lại công lao của các chúa Nguyễn đối với dân tộc, làm sáng vai trò của các chúa Nguyễn trong sự nghiệp mở mang đất nước vào thế kỷ 17, 18.
HUỆ VIÊN
Ngày nay, quá trình đô thị hóa trên toàn thế giới đang diễn ra với tốc độ chóng mặt. Nếu như năm 1800 có 29,3 triệu người sống ở các đô thị (chiếm 3,2% tổng số dân thế giới) thì con số này vào năm 2000 là 3,35 tỉ người (chiếm 51%), dự báo đến năm 2025 là 5,2 tỉ (chiếm 61%).
THÁI DOÃN HIỂU
Hương thơm của đức hạnh và tiếng tăm tài ba vị Trạng nguyên tân khoa Mạc Đĩnh Chi vang sang tận thiên triều. Vua tôi nhà Nguyên ở Yên Kinh xôn xao muốn thử tài xem hư thực ra sao liền gửi thông điệp cho vua nhà Trần yêu cầu cử đích danh Mạc Đĩnh Chi sang sứ Trung Quốc.
TRẦN QUỐC VƯỢNG
Hà Nội âm trầm rồi ào ạt chuẩn bị kỷ niệm 200 năm chiến thắng - Đống Đa, Xuân Lửa diệu kỳ Kỷ Dậu 1789 mà giới quân sự học hiện đại có thể gọi là Chiến dịch Thăng Long, giải phóng kinh thành, miền Bắc...
HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNG
Nhân theo vua Cảnh Thịnh đi thăm lăng vua Quang Trung, Ngô Thì Nhậm có làm một bài thơ (1) với lời chú thích rất lạ, như thế này:
Huyền Trân công chúa là một trong những người phụ nữ nổi tiếng nhất trong lịch sử Việt Nam, được đời sau nhắc đến cùng với những yếu tố đậm chất trữ tình của một cuộc hôn nhân ngoại giao và mối quan hệ ly kỳ, trái khoáy với Thượng thư Tả bộc xạ Trần Khắc Chung. Bài viết của chúng tôi, xuất phát từ việc phân tích các nguồn sử liệu và kế thừa các ý kiến của người đi trước, sẽ thảo luận về những điểm không logic trong những sự kiện được ghi lại về nhân vật lịch sử này.