HỒ VĨNH
Chiếc vạc đúc cuối cùng (1684) đặt bên phải phía trước điện Càn Thành
Cuộc chiến tranh Trịnh Nguyễn kéo dài 45 năm (1627-1672). Đây là một giai đoạn minh chứng của lịch sử: Đàng trong và Đàng ngoài đã trải qua một cuộc qua phân khá lâu dài. Trận chiến kết thúc vào tháng 7 năm Nhâm Thân (1672) và từ đây hai họ lấy sông Gianh làm ranh giới hành chính.
Ở Đàng trong, chúa Nguyễn Phúc Tần đã thành công trong việc tạo dựng cuộc sống ổn định và thanh bình cho Nam Hà nhờ chiến thắng họ Trịnh và tiếp tục mở mang lãnh thổ về phía Nam. Trong 39 năm cầm quyền, chúa Nguyễn Phúc Tần (1648-1687) đã quan tâm phát triển công nghiệp cho Nam Hà mà trong đó việc đúc các vạc đồng và vũ khí đã được coi trọng.
Hiện nay thành phố Huế còn lưu giữ 10 chiếc vạc đồng có giá trị mỹ thuật cao. Công trình ấy do ông Jean de la Croix người Bồ Đào Nha và những người thợ thủ công khéo tay của xứ Đàng trong đảm trách (Jean de la Croix và con là Clément de la Croix đến Thuận Hóa năm 1658 và lập xưởng đúc nơi ngày nay gọi là Phường Đúc, nơi có truyền thống đúc đồng nổi tiếng từ giữa thế kỷ 17). Qua nghiên cứu thực tế, chúng tôi đã lập bảng thống kê (1) sau đây:
Nghiên cứu ở bảng thống kê, chúng tôi tiếp tục tra cứu qua sử liệu và rà soát lại trên thực tế. Chúng tôi đã phát hiện 7 trong số 10 chiếc vạc đã ghi sai về niên hiệu của đời Lê. Trước khi đi vào chi tiết, thiết tưởng cần phải làm một bảng đối chiếu sự việc lịch sử sau đây:
Một bên là niên hiệu - niên đại đã khắc ghi trên vạc. Một bên là niên hiệu niên đại qua kê cứu sử liệu.
BẢNG THỐNG KÊ
|
T/T |
Văn tự trên vạc |
Trọng lượng (cân) |
Năm đúc (dương lịch) |
Đường kính (cm) |
Bề cao (cm) |
Địa điểm đặt vạc (kinh thành Huế) |
|
1 |
Thạnh đức thất niên tạo đỉnh, Đồng nhị thiên nhất bách, ngũ thập tứ cân |
2154 |
1659 |
188 |
93 |
Trước điện Kiến Trung (đại nội Huế) |
|
2 |
Kỷ hợi tứ nguyệt tạo chú, Đồng ngũ bách lục thập cân |
560 |
1659 |
133 |
80 |
Bên phải phía trước viện bảo tàng |
|
3 |
Thạnh đức bát niên, nhị nguyệt tạo đỉnh, Đồng nhị thiên tứ bách bát thập nhị cân |
2482 |
1660 |
222 |
100 |
Trước nhà Tả vu đại nội Huế |
|
4 |
Thạnh đức thập niên tạo đỉnh. Đồng nhị thiên tứ bách nhị thập ngũ cân |
2425 |
1662 |
222 |
104 |
Trước nhà Hữu vu đại nội Huế |
|
5 |
Cảnh trị bát niên cát nguyệt tạo chú Đồng cửu bách tam thập bát cân |
938 |
1670 |
155 |
86 |
Bên phải, phía trước Duyệt Thị Đường (đại nội Huế) |
|
6 |
Cảnh trị thập niên Chính nguyệt cát, nhật tạo Đồng nhất thiên tam bách cửu thập cân |
1390 |
1671 |
168 |
92 |
Bên phải phía trước điện Càn thành (đại nội Huế) |
|
7 |
Cảnh trị thập niên, lục nguyệt tạo chú Đồng bát bách cửu thập lục cân |
896 |
1671 |
142 |
86 |
Xế bên trái sau điện Thái Hòa (đại nội Huế) |
|
8 |
Dương Đức nhị niên, lục nguyệt tạo đỉnh, Đồng nhất thiên thập tam cân |
1013 |
1673 |
160 |
80 |
Lăng Đồng Khánh |
|
9 |
Đinh tỵ tú nguyệt lục nhật tạo chú Đồng ngũ bách lục thập cân |
560 |
1677 |
127 |
70 |
Bên phải, phía trước Viện bảo tàng cổ vật Huế |
|
10 |
Chính hòa ngũ niên, lục nguyệt tạo chú. Đồng nhất thiên tam bách cửu thập lục cân |
1396 |
1684 |
170 |
91 |
Bên phải phía trước điện Càn Thành (đại nội Huế) |
BẢNG ĐỐI CHIẾU
|
Số TT theo bảng TK |
Niên hiệu Niên đại khắc ghi trên vạc |
Niên hiệu niên đại qua kê cứu sử liệu (*) |
Triều đại |
|
1 |
Thạnh Đức. Thất niên tạo đỉnh. |
Vĩnh Thọ Nhị niên tạo đỉnh |
Lê Thần Tông (1649- 1661) |
|
2 |
Niên hiệu không ghi trên vạc Kỷ Hợi tứ nguyệt tạo chú |
Vĩnh Thọ nhị niên - Kỷ Hợi tứ nguyệt tạo chú |
Lê Thần Tông (1649- 1661) |
|
3 |
Thạnh Đức Bát niên nhị nguyệt tạo đỉnh. |
Vĩnh Thọ Tam niên nhị nguyệt tạo đỉnh |
Lê Thần Tông (1649- 1661) |
|
4 |
Thạnh Đức Thập niên tạo đỉnh |
Vạn Khánh Nguyên niên tạo đỉnh |
Lê Huyền Tông (1662- 1670) |
|
6 |
Cảnh trị Thập niên chính nguyệt cát nhật tạo |
Dương Đức Nguyên niên chính nguyệt cát nhật tạo |
Lê Gia Tông (1671-1674) |
|
7 |
Cảnh trị Thập niên lục nguyệt tạo chú |
Dương Đức Nguyên niên lục nguyệt tạo chú |
Lê Gia Tông (1671-1674) |
|
9 |
Niên hiệu không ghi trên vạc. Đinh Tỵ tứ nguyệt lục nhật tạo chú |
Vĩnh Trị Nhị niên đinh tỵ tứ nguyệt tạo chú |
Lê Hy Tông (1675-1704) |
Qua bảng đối chiếu, chúng ta nhìn thấy những sai sót sau:
- Có hai chiếc vạc không ghi niên hiệu (Theo số thứ tự 2,9), năm chiếc vạc ghi sai niên hiệu (1,3,4,6,7).
Những sai lầm trên là do cuộc chiến tranh Trịnh Nguyễn, kể từ năm Đinh Mão (1627) đời vua Thần Tông lần thứ nhất, đến năm Nhâm Tý (1672) đời vua Gia Tông, họ Trịnh, họ Nguyễn đánh nhau cả thảy 7 lần (1627, 1630, 1635, 1648, 1655, 1661, 1672). Trong bấy nhiêu lần, họ Nguyễn chỉ ra đánh họ Trịnh có một lần, đã lấy được 7 huyện ở phía Nam sông Linh Giang (sông Gianh) nhưng vì các tướng họ Nguyễn không đồng lòng với nhau, cho nên phải bỏ về đất cũ (2). Đây là những trận đánh lớn kể từ khi chúa Nguyễn Phúc Nguyên (1613-1635) đã ly khai ở Đàng Ngoài. Tuy nhiên các chúa họ Nguyễn không nhận sắc phong nhưng vẫn trọn đạo quân thần và vẫn dùng niên hiệu vua Lê. Mãi đến thời chúa Nguyễn Phúc Tần, mới thực sự chống cự nổi với họ Trịnh. Một quân sự gia Đông phương cổ, ông Vương An Thạch có nói "dĩ chiến chỉ chiến, tuy chiến khả giả" (lấy chiến tranh để chấm dứt chiến tranh, thì chiến tranh ấy cũng là một sự hợp lý). Trong thời gian chúa Hiền trị vì ở Nam Hà, ở Bắc Hà nhà Lê có năm lần kế tiếp ngôi vua và mười một lần thay đổi niên hiệu. Năm Quý Tỵ (1653) tháng hai, vua Lê Thần Tông đổi niên hiệu là Thạnh Đức. Đến năm Mậu Tuất (1658) tháng giêng, vua Lê đổi niên hiệu là Vĩnh Thọ (3) (theo thứ tự ở bảng đối chiếu 1,3,4 đã ghi sai niên hiệu là Thạnh Đức), ba năm sau (1662) tiếp tục đổi niên hiệu là Vạn Khánh (khác với các vua nhà Nguyễn, niên hiệu không thay đổi. Chúa Nguyễn Phúc Ánh lên ngôi năm 1802, lấy niên hiệu là Gia Long). Sau khi vua Lê Thần Tông mất (1662), Lê Duy Vũ (Huyền Tông) nối ngôi vua cha đặt niên hiệu Vạn Khánh và đến đời vua Lê Hy Tông trước năm 1680 có niên hiệu Vĩnh Trị, nhưng sau năm 1680 mới thực sự thay đổi niên hiệu là Chính Hòa, trị vì đến năm Giáp Thân (1704).
Cho hay các nghệ nhân thời chúa Nguyễn Phúc Tần đã ghi niên hiệu nhà Lê theo ký ức lịch sử.
Trước đây đã có những công trình nghiên cứu của các tác giả L.SOGNY đăng trên Bulletin des Amis du Vieux Hué (B.A.V.H, 1921, p.1-13) Les Vasques en bronze du Palais (những cái vạc đồng của Hoàng Thành) và của Trần Hà Thanh - công cuộc mở mang miền Nam của Nguyễn Phúc Tần (1648-1687) in ronéo, Đại học văn khoa Huế, 1974, trang 81-83). Nay nhằm góp phần cho các văn bản thêm chính xác, chúng tôi xin đính chính một số sơ sót nhỏ để bổ khuyết cho công trình mà hai tác giả trên đã công bố.
Huế 30/3/1992
H.V
(TCSH49/05&6-1992)
------------------------
(*) Nguyễn Trọng Bình - Nguyễn Linh - Bùi Viết Nghị. Bảng đối chiếu âm, dương lịch 2000 năm và niên Biểu lịch sử, Nhà xuất bản khoa học xã hội Hà Nội, 1976, trang 264- 268.
(1) Hồ Vĩnh. Những chiếc vạc đồng thời chúa Nguyễn Phúc Tần, Báo văn hóa du lịch, số tháng 5/90. Kiến thức phổ thông (số mở đầu) tháng 12/90, trang 32-34.
(2) Trần Trọng Kim. Việt Nam sử lược, quyển II bộ Giáo dục - Trung tâm học liệu xuất bản, Sài Gòn, 1971, trang 49-50.
(3) Phan Khoang. Việt sử: xứ Đàng Trong, Nhà sách Khai Trí, Sài Gòn, 1969, trang 199- 213. Xem thêm bảng đối chiếu, âm dương lịch 2000 năm và niên biểu lịch sử.
Tải mã QRCode
Sáng nay, 10-7, ông Lê Bá Hạnh, Phó Giám đốc Bảo tàng tỉnh Hà Tĩnh cho biết, vừa phát hiện tại đền Thượng (ở làng Vân Hải, xã Cổ Đạm, huyện Nghi Xuân) đang lưu giữ 8 đạo sắc phong bằng văn tự Hán - Nôm cổ quý hiếm thời Nguyễn, liên quan đến nhân vật lịch sử thời Lý, Thái úy Tô Hiến Thành.
Gần nửa giờ lái xe từ thủ đô Kabul, tỉnh Logar, phía đông nam thủ đô Kabul, được coi là một trong những nơi nguy hiểm nhất ở Afghanistan. Nó gần khu vực Waziristan biến động của Pakistan, nơi các chiến binh vũ trang tự do qua lại nơi biên giới.
Trong ba lần khai quật (các năm 1993, 2009 và năm 2013) tại khu Di tích lịch sử-văn hóa-khảo cổ đặc biệt Gò Tháp thuộc xã Tân Kiều, huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp, Bảo tàng tỉnh Đồng Tháp đã thu được 49 hiện vật bằng vàng của nền văn hóa Óc Eo.
VÕ VINH QUANG
An Nam quốc thư là hệ thống văn thư ngoại giao rất quan trọng giữa nước ta và Nhật Bản thế kỷ XVI - XVII, thường xuyên được giới nghiên cứu quan tâm tìm hiểu.
HỒ TẤN PHAN - NGUYỄN THỊ NHƯ TRANG
Chúng tôi đọc một cách thú vị bài "Lại nói chuyện cầu Trường Tiền" của Quách Tấn đăng trên Tạp chí Sông Hương số 23.
(SHO) Bộ VHTTDL vừa ban hành Quyết định cho phép Sở VHTTDL tỉnh Thanh Hóa phối hợp với Viện Khảo cổ học khai quật tại Hang Diêm, xã Thành Yên, huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa trong thời gian từ 21/11 - 02/12/2013 trên diện tích là 20m2.
ĐINH VĂN TUẤN
Giữa lúc các nhà nghiên cứu sử học đang sôi nổi, tranh biện về cuộc tìm kiếm di tích lăng mộ Quang Trung nhưng vẫn chưa tìm ra bằng chứng xác thật thì bất ngờ trên Tạp chí Xưa & Nay năm 2005(1), hai nhà nghiên cứu Hồng Phi và Hương Nao đã phát hiện và công bố một bài thơ chữ Hán Kiến Quang Trung linh cữu được chép trong Nam hành tạp vịnh tập 2 của bản chép tay Liên Khê di tập do danh sĩ Thanh Hóa là Lê Ôn Phủ(2), hiệu là Liên Khê (1771 - 1846) trước tác.
HỒ TRUNG TÚ
Trong lịch sử mối quan hệ Việt Chăm có một thời kỳ vô cùng đặc biệt, đó là giai đoạn cùng nhau hợp tác chống lại quân Nguyên Mông.
HỒ VĨNH
Mới đây trong quá trình sưu tầm tư liệu Hán Nôm tại Cố đô Huế, chúng tôi tìm thấy một bản thảo chữ Hán viết dưới đời vua Bảo Đại.
KHẮC DŨNG
Việc ông Đăng Thanh (86, Hoàng Diệu, Đà Lạt, Lâm Đồng) “tuyên bố” mua được một tấm xà rông của vua Chăm khiến chúng tôi phải “vào cuộc” truy tìm nguồn gốc của món hiện vật này. Cũng nói thêm, ông Đăng Thanh là hội viên CLB UNESCO Nghiên cứu bảo tồn cổ vật Việt Nam tỉnh Lâm Đồng (Club for antique research and collection in Lam Dong), một trong những người chơi đồ cổ khá nổi tiếng ở Lâm Đồng. Từ tấm xà rông mà ông Thanh cho rằng “của hoàng tộc Chăm”, chúng tôi về xã Pró (huyện Đơn Dương, tỉnh Lâm Đồng) để tiếp cận với một số gia đình, dòng họ có quan hệ với “vua Chàm” xưa kia.
LTS: Theo thông báo của Hội đồng chung khảo Giải Báo chí Quốc gia 2012, phim tài liệu “Ký ức Hoàng Sa” của nhà báo Bảo Hân - Trung tâm Truyền hình Việt Nam tại Huế, cộng tác viên của Tạp chí Sông Hương - là tác phẩm báo chí duy nhất của Thừa Thiên Huế được Giải Báo chí Quốc gia trong năm nay. Sông Hương xin giới thiệu nội dung kịch bản của phim tài liệu này và chúc mừng tác giả được giải.
LÊ QUANG THÁI
Trong 12 con giáp giữ vai trò "hành khiển" điều hành vòng quay ngày tháng, con rồng là linh vật khác hẳn với 11 loài còn lại mang tính cách hiện thực rõ nét.
ĐẶNG TIẾN
Rồng là một linh vật tưởng tượng, chỉ có trong huyền thoại hay truyền thuyết, nhưng lại là một hình ảnh quen thuộc trong tâm thức người Việt Nam.
PHAN THUẬN ANTrong suốt nửa đầu thế kỷ 19, nhất là vào đầu thời Gia Long (1802 - 1820), nhà Nguyễn đã cố tình giết sạch, đốt sạch, xóa sạch tất cả con người, di tích, sách vở và mọi thứ khác của nhà Tây Sơn.
NGUYỄN THẾPhong Điền là huyện nằm ở phía bắc của tỉnh Thừa Thiên Huế, vùng đất mang nhiều dấu ấn lịch sử văn hóa của các thời kỳ. Sự kiện đáng ghi nhận gần đây là việc tìm thấy trống đồng cổ Đông Sơn có niên đại từ thế kỷ 2- 1 trước công nguyên, di tích văn hóa Chăm Pa, văn hóa Việt cổ... đã tạo sự quan tâm đặc biệt của các nhà nghiên cứu lịch sử trong và ngoài nước.
HỒ VĨNHMới đây trong đợt khảo sát thực địa tại vùng đồi núi thuộc thôn Trường Đá, xã Thủy Biều, thành phố Huế, chúng tôi đã tìm thấy một tấm bia cổ nằm bên ngoài Khiêm lăng (lăng Tự Đức) khoảng 1 km về phía Tây Bắc.
PHAN THANH HẢITrong ca dao xứ Huế, hình ảnh chiếc giếng cổ từ lâu lắm đã đi vào chuyện tình yêu đôi lứa, trở thành biểu tượng để người ta đem làm vật nguyện thề:Nước giếng Hàm Long đã trong lại ngọtAnh thương em rày có Bụt chứng tri
VŨ QUỐC HIỀNQuần thể kiến trúc Cố đô Huế là một di sản văn hoá có giá trị to lớn của Thừa Thiên Huế nói riêng và của Việt Nam nói chung. Giá trị di tích đó thể hiện ở cả văn hoá vật thể và phi vật thể mà bất cứ ai trong chúng ta cũng đều có thể nhận biết được.
NGUYỄN TUẤN LÂMSông Hương - một bộ phận cấu thành của văn hoá Huế đã và đang chứng kiến những bước thăng trầm của Cố đô Huế xưa cũng như đời sống hàng ngày của xứ Huế hiện nay. Dòng sông thơ mộng, ngọt ngào này chắc chắn đang nắm giữ nhiều bí ẩn của vùng đất lịch sử này mà nếu khai thác những bí ẩn đó có thể là những bổ sung quan trọng cho kho tàng lịch sử, văn hoá Huế.
PHAN THANH HẢIVới chủ đề “320 năm Phú Xuân - Huế, nghề truyền thống – bản sắc và phát triển”, Festival nghề truyền thống Huế 2007 sẽ diễn ra từ ngày 8-6 đến 10-6-2007, tập trung vào các nghề chạm khắc, đúc đồng và kim hoàn ở Huế và khắp đất nước.Sông Hương góp thêm một tiếng nói để tôn vinh nghề đúc đồng của Huế thông qua việc trình bày và đánh giá một số cổ vật đồng tiêu biểu của thời kỳ trước Phú Xuân hiện còn được lưu giữ để giúp bạn đọc có cái nhìn đầy đủ hơn về lịch sử phát triển và những thành tựu của nghề đúc đồng xứ Huế.