Mấy năm gần đây, khởi nguồn từ cõi lòng thương yêu quý trọng nhà thơ thiên tài Hàn Mặc Tử, một số bạn trẻ thời nay đã có công tìm tòi, giới thiệu trên báo "bài thơ cuối cùng" của Hàn viết tại nhà thương Quy Hòa, trước lúc Anh đi vào cõi Vĩnh Hằng.
Tác phẩm cuối cùng ấy của Hàn Mặc Tử mà các bạn trẻ ngưỡng mộ là có thực.
Tuy nhiên, đó không phải là "một bài thơ" mà là áng văn xuôi được viết bằng tiếng Pháp. Bài "prose" này (có thể gọi là tản văn) dẫu mang nhiều chất thơ, giai điệu thơ, vẫn không thể gọi là "một bài thơ" được. Bạn đọc lớp cũ chắc dễ dàng nhận ra bài prose này đã được nhà văn Trần Thanh Mại sưu tầm, cho in toàn văn trong cuốn Hàn Mặc Tử - trang 254, ra năm 1942... có kèm theo bản dịch tiếng Việt của ông.
Cho tới ngày nay, để góp phần đính chính lại "bài thơ cuối cùng" này, nhà văn Trần Thanh Địch, em ruột nhà văn quá cố Trần Thanh Mại, hiện đã gần bước tới tuổi 80, là bạn thân thiết của Hàn Mặc Tử lúc sinh thời, đã công phu chép tay lại toàn văn bài prose "La pureté de l'âme" của François Trí (Hàn Mặc Tử) và bản dịch Việt văn "Tấm linh hồn thanh khiết" của Trần Thanh Mại... trân trọng gửi tới Tạp chí Sông Hương...
Đây là một dịp may mắn tình cờ để bạn đọc thời nay, giữa lúc tiếng Pháp đang hồi xuân trở lại Việt Nam, được hiểu biết đầy đủ về một áng văn chương bất hủ của Hàn Mặc Tử.
Vào những năm 40 trước đây, khi bài prose cuối cùng này của Hàn được công bố, không ít người đọc đã phải bàng hoàng, ngạc nhiên trước một tài năng giấu kín, bất thần đột xuất, dẫu còn non trẻ vẫn xiết bao kỳ lạ của thi sĩ Hàn Mặc Tử. Người Việt viết văn Pháp, qua hơn nửa thế kỷ, vào thời ấy (và còn là chuyện về dài lâu) quả không phải là chuyện đơn giản, dễ dàng được thừa nhận. Tuy nhiên, Thượng Đế hiền minh đã sinh ra Hàn Mặc Tử để làm thơ, nên anh đã phải sống thiêng và chết trẻ; con người tột cùng đau khổ và tài hoa này có phải chăng vì thế lại cũng được Thượng Đế gia ân một lần nữa, phú cho anh trí lực viết văn bằng tiếng Pháp, đặng giúp anh có thể trút được hơi thở cuối cùng giã biệt trần gian với "Tấm linh hồn thanh khiết"...?
Ước mong rằng từ đây bạn đọc sẽ cảm nhận được sự hài hòa thiêng liêng cao khiết giữa Đạo và Đời, mối giao lưu tươi mát nồng ấm của hai nền văn hóa đông - tây, nguồn sống trong sáng cao sang của ngôn ngữ Pháp từ Baudelaire, Verlaine, Rimbaud, Valeri, Claudel... tới Hàn Mặc Tử thân thương của chúng ta.
Thành phố Hồ chí Minh
tháng Chạp Tây năm 1993
T.Q.
La Pureté de I’ âme!
Anges du ciel, anges de Dieu, anges de paix et de gaieté, apportez - moi une couronne.
Je veux me baigner dans l’Océan de lumière et d’amour divin.
Car ici - bas s'accomplissent des miracles qui tiennent les hommes muets d'admirations en contemplant l’oeuvre mystique du Très Haut.
Anges du ciel, anges de Dieu, anges de paix et de gaieté, voyez - vous cette lueur diaphane qui se précise, cette blancheur de neige, cette forme immaculée, cette âme apparue au monde? Je crois dès le premier abord que c’est l’esprit des saints, la poésie, la quintessence de la prière, qui au lieu de s’exhaler en parfum et en êther, prend la modeste résolution de se faire créature!
Anges du ciel, anges de Dieu, anges de paix et de gaieté, applaudissez: car ce sont les Mères et Soeurs de Saint François d'Assise qui descendent au monde pour calmer les douleurs et les peines des faibles mortels, des malades et des lépreux tels que nous sommes.
Je veux chanter des louanges, me désaltérer de leurs douces paroles quand elles chantent: Hosanna! Hosanna!
Je veux toujours admirer cette blancheur immaculée, cette fraicheur, cette lumière, cette poésie, car tout celà est l’emblème de la
Pureté de l’âme!
Anges du ciel, anges de Dieu, anges de paix et de gaieté, lancez-vous des roses et des nénuphards, des chants mélodieux et des notes embaumées et versez avec effusion les vertus, le courage et le bonheur parmi les servantes de Dieu.
François Trí
Déo gratias
(Nuit de Mercredi 24 Octobre 1940)
Bản dịch: Tấm linh hồn thanh khiết
Hỡi các vị thiên thần của Trời, thiên thần của Chúa, thiên thần của hòa bình và hoan lạc, xin hãy mang lại cho tôi một vòng hoa.
Tôi muốn tắm trong bể ánh sáng và lòng yêu kính thiêng liêng.
Bởi vì dưới cõi trần gian đã thành tựu nhiều phép lạ nó làm cho người ta phải nghẹn ngào vì khâm phục khi ngưỡng vọng cái sự nghiệp thần bí của đấng Tối Cao.
Hỡi các vị thiên thần của Trời, thiên thần của Chúa, thiên thần hòa bình và hoan lạc, các người có thấy cái ánh sáng trong mờ càng ngày càng rõ rệt, cái mầu sắc trắng tuyết kia, cái hình hài không vết bợn kia, cái linh hồn hiện lên nơi cõi thế kia, ngay khi mới thấy, tôi đã chắc đó là cái hồn phách của các vì Thánh, cái thi tứ, cái tinh hoa của sự cầu nguyện đáng lẽ thì bốc lên hương thơm và tinh khí, nhưng đây chỉ khiêm tốn quyết định hóa ra Người.
Hỡi các vị thiên thần của Trời, thiên thần của Chúa, thiên thần hòa bình và hoan lạc, xin hãy vỗ tay lên: bởi vì đó là các Mẹ và các Chị dòng Saint François d' Assise, xuống cõi trần gian để an ủi những đau khổ, lo âu của loài người yếu đuối, của các bệnh nhân tàn tật, của những kẻ phong hủi là chúng tôi đây.
Tôi muốn ca lên những bài khen ngợi, hứng uống cho thật đã những lời êm dịu của các bà, khi các bà đồng hát bài thánh ca: Hosanna! Hosanna (xin cứu với! xin cứu với).
Tôi muốn bao giờ cũng thán thưởng cái hình thể trắng tinh không vết ấy, sức tươi mát, nguồn ánh sáng, bầu thơ ấy, vì tất cả đó là biểu tượng của:
Tấm linh hồn thanh khiết
Hỡi các vị thiên thần của Trời, thiên thần của Chúa, thiên thần hòa bình và hoan lạc, xin hãy ném cho nhau những đóa hoa hồng, hoa súng, những điệu hát réo rắt và những hơi nhạc thơm tho, và xin hãy rưới trút cho tràn trề nào là đức hạnh, can đảm và hạnh phúc cho những vì nữ tỳ của Đức Chúa.
François Trí
Cảm tạ Thượng đế
(Đêm thứ tư 24 tháng 10 năm 1940)
Bản dịch của Trần Thanh Mại trong cuốn Hàn Mặc Tử (năm 1942)
(TCSH60/02-1994)
Tải mã QRCode
NHỤY NGUYÊN thực hiện
Thi nhân Việt Nam hiện đại - bộ bản thảo trường thiên hoành tráng về nền thi ca Việt hiện đại dự tính 4.000 trang khổ 15,5 x 20,5 cm, bao gồm 2.200 trang tiểu luận và 1.800 trang tuyển thơ của nhà phê bình văn học Thái Doãn Hiểu.
NGUYỄN VĂN THUẤNLTS: Nhóm nghiên cứu, lý luận phê bình trẻ” bao gồm sinh viên và cán bộ giảng dạy trẻ đến từ các trường đại học ở Huế (chủ yếu là Khoa Ngữ văn - ĐHSP Huế), với sự chủ trì của Ts. Trần Huyền Sâm. Nhóm hình thành trong tháng 6 - 2008 vừa qua với sự giúp đỡ của Tạp chí Sông Hương và Nhà sách Cảo Thơm.
Trong hoạt động văn học, cùng với mối quan hệ giữa tác phẩm với hiện thực, tác phẩm với nhà văn, mối quan hệ giữa tác phẩm và bạn đọc cũng đóng một vai trò rất quan trọng trong quy trình vận hành từ hiện thực - nhà văn - tác phẩm đến bạn đọc.
LTS: Ngày 19/12/2007, Ban Bí thư Trung ương Đảng quyết định thành lập Hội đồng lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật. Sau một thời gian chuẩn bị chu đáo, Hội đã có buổi ra mắt nhân dịp gặp mặt thân mật đại biểu cơ quan báo chí toàn quốc vào ngày 20/5/2008.Chúng tôi xin lược trích bài phát biểu của đồng chí Phùng Hữu Phú - Ủy viên Trung ương Đảng, Chủ tịch Hội đồng lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật Trung ương.
Thuyết phân tâm học của S.Freud và về sau là C.G.Jung và các người kế nghiệp đã có ảnh hưởng sâu rộng đến tư tưởng của con người hiện đại, bao gồm cả nhiều lĩnh vực, đặc biệt là lĩnh vực văn học nghệ thuật. Tuy vậy, ở ta, do nhiều lý do chủ quan và khách quan, chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu về sự ảnh hưởng của phân tâm học trong văn học - nhất là văn học hiện đại Việt .
Trong thập niên 1970 danh từ thi pháp (poétique) trở thành thông dụng, thi pháp học dần dần trở thành một khoa học phổ biến, dính liền với ngành ngữ học, trong một khung cảnh học thuật rộng lớn hơn, là khoa ký hiệu học.
Bản chất nhận thức của văn học đã được biết đến từ lâu. Hễ nói đến văn học là người ta không quên nói tới các chức năng nhận thức, giáo dục, thẩm mĩ.
Mới đây, trong khi tìm tài liệu ở Thư viện quốc gia, tôi tình cờ đọc bài báo thuộc thể loại văn hóa - giáo dục: “Giáo sư Vũ Khiêu - Học chữ để làm người” trên chuyên mục Trò chuyện cuối tháng báo An ninh Thế giới số tháng 9/2005, do Hồng Thanh Quang thực hiện.
(Muốn khẳng định cuộc đời của mình không ai không thêm vào đó chút ít huyền thoại) - M. Jourhandeau -
Văn học, từ xưa đến nay là sự khám phá không ngừng nghỉ về con người, đặc biệt về tâm hồn con người. Khám phá đó giúp cho con người hiểu rõ về bản thân mình hơn, cũng có nghĩa là con người sẽ biết sống tốt đẹp hơn, chất lượng sống do đó sẽ được nâng cao.
Một phương diện giúp khẳng định phong cách của bất cứ nhà văn nào, mà chúng ta không thể bỏ qua, đó là nghiên cứu yếu tố ngôn từ - chất liệu cơ bản để sáng tạo nên tác phẩm văn chương mà nhà văn đã vận dụng một cách nghệ thuật.
Trong lời Nhỏ to... cuối sách Thi nhân Việt (1942), Hoài Thanh - Hoài Chân viết: “Tôi đã đọc một vạn bài thơ và trong số ấy có non một vạn bài dở. Nếu làm xong quyển sách này, mà không chê chán vì thơ, ấy là điều tôi rất mong mỏi”.
Gần đây, đọc một vài truyện ngắn trên tạp chí Sông Hương, tôi vô cùng cảm động. Trước số phận của các nhân vật, tôi muốn nói lên những suy nghĩ của mình và chỉ mong được coi đây là lời trò chuyện của người được "nhận và cho":
Ông Eđuar Điujacđen là một nhà thơ có tài và có thể nói là được hâm mộ trong số các nhà thơ thuộc thế hệ già - người vẫn giữ được tình cảm và sự khâm phục cuồng nhiệt của lớp trẻ, đã mở đầu một cuộc thảo luận về thơ.
Việc mở rộng phong trào giải phóng tư tưởng trên văn đàn thời kỳ mới, lãnh vực phê bình và lý luận văn nghệ đã xuất hiện cục diện vô cùng sống động.
"Văn hóa bao gồm tất cả những gì làm cho dân tộc này khác với dân tộc khác từ những sản phẩm tinh vi hiện đại nhất cho đến tín ngưỡng, phong tục tập quán, lối sống và lao động" (Trần Ngọc Thêm, Cơ sở văn hóa Việt Nam, Trường ĐHTH TP.HCM, 1995, trang 19).
Phê bình văn học là giải minh cho văn chương. Văn chương hay hoặc dở, giản đơn hay phức tạp, nó được thiết lập trên thi pháp này hay thi pháp khác, thể loại này hay thể loại khác, thời này hay thời khác v.v... đều phải được làm sáng tỏ bằng những lập luận khoa học chứ không phải bằng cảm tính của người phê bình.
LTS: Sau khi Sông Hương đăng bài “Khủng hoảng ngay trong nhận thức và niềm tin đi tìm lối thoát cuộc khủng hoảng văn học” của nhà văn Nguyễn Dương Côn, chúng tôi nhận được ý kiến “phản biện” của 2 nhà văn Phương Lựu và Trần Thanh Đạm.
LTS: Có nhiều cách hiểu về câu thơ trên. Y kiến của cụ Thanh Huy - Cử nhân Văn khoa Việt Hán, sinh 1916 tại Huế, cũng là một ý có thể tham khảo đối với những ai quan tâm Truyện Kiều, để hiểu thêm và đi đến kết luận về cách tính thước tấc của người xưa.
SH
Từ thơ ca truyền thống đến Thơ mới là một sự đột phá vĩ đại trong quan điểm thẩm mỹ của thơ ca. Chính sự cách tân trong quan niệm về cái đẹp này đã làm một "cú hích" quan trọng cho tiến trình phát triển của thơ ca Việt . Nó đã giúp thơ ca dân tộc nhanh chóng phát triển theo con đường hiện đại hóa. Và từ đây, thơ ca Việt có thể hội nhập vào thơ ca nhân loại.