Về bài văn xuôi cuối cùng của Hàn Mặc Tử

14:55 25/07/2025
LTS: Trân trọng cám ơn nhà văn Trần Thanh Địch và tác giả Tuệ Quang, đã cung cấp cho tạp chí chúng tôi tư liệu quý giá này, xin giới thiệu cùng bạn đọc.

Mấy năm gần đây, khởi nguồn từ cõi lòng thương yêu quý trọng nhà thơ thiên tài Hàn Mặc Tử, một số bạn trẻ thời nay đã có công tìm tòi, giới thiệu trên báo "bài thơ cuối cùng" của Hàn viết tại nhà thương Quy Hòa, trước lúc Anh đi vào cõi Vĩnh Hằng.

Tác phẩm cuối cùng ấy của Hàn Mặc Tử mà các bạn trẻ ngưỡng mộ là có thực.

Tuy nhiên, đó không phải là "một bài thơ" mà là áng văn xuôi được viết bằng tiếng Pháp. Bài "prose" này (có thể gọi là tản văn) dẫu mang nhiều chất thơ, giai điệu thơ, vẫn không thể gọi là "một bài thơ" được. Bạn đọc lớp cũ chắc dễ dàng nhận ra bài prose này đã được nhà văn Trần Thanh Mại sưu tầm, cho in toàn văn trong cuốn Hàn Mặc Tử - trang 254, ra năm 1942... có kèm theo bản dịch tiếng Việt của ông.

Cho tới ngày nay, để góp phần đính chính lại "bài thơ cuối cùng" này, nhà văn Trần Thanh Địch, em ruột nhà văn quá cố Trần Thanh Mại, hiện đã gần bước tới tuổi 80, là bạn thân thiết của Hàn Mặc Tử lúc sinh thời, đã công phu chép tay lại toàn văn bài prose "La pureté de l'âme" của François Trí (Hàn Mặc Tử) và bản dịch Việt văn "Tấm linh hồn thanh khiết" của Trần Thanh Mại... trân trọng gửi tới Tạp chí Sông Hương...

Đây là một dịp may mắn tình cờ để bạn đọc thời nay, giữa lúc tiếng Pháp đang hồi xuân trở lại Việt Nam, được hiểu biết đầy đủ về một áng văn chương bất hủ của Hàn Mặc Tử.

Vào những năm 40 trước đây, khi bài prose cuối cùng này của Hàn được công bố, không ít người đọc đã phải bàng hoàng, ngạc nhiên trước một tài năng giấu kín, bất thần đột xuất, dẫu còn non trẻ vẫn xiết bao kỳ lạ của thi sĩ Hàn Mặc Tử. Người Việt viết văn Pháp, qua hơn nửa thế kỷ, vào thời ấy (và còn là chuyện về dài lâu) quả không phải là chuyện đơn giản, dễ dàng được thừa nhận. Tuy nhiên, Thượng Đế hiền minh đã sinh ra Hàn Mặc Tử để làm thơ, nên anh đã phải sống thiêng và chết trẻ; con người tột cùng đau khổ và tài hoa này có phải chăng vì thế lại cũng được Thượng Đế gia ân một lần nữa, phú cho anh trí lực viết văn bằng tiếng Pháp, đặng giúp anh có thể trút được hơi thở cuối cùng giã biệt trần gian với "Tấm linh hồn thanh khiết"...?

Ước mong rằng từ đây bạn đọc sẽ cảm nhận được sự hài hòa thiêng liêng cao khiết giữa Đạo và Đời, mối giao lưu tươi mát nồng ấm của hai nền văn hóa đông - tây, nguồn sống trong sáng cao sang của ngôn ngữ Pháp từ Baudelaire, Verlaine, Rimbaud, Valeri, Claudel... tới Hàn Mặc Tử thân thương của chúng ta.

Thành phố Hồ chí Minh
tháng Chạp Tây năm 1993

T.Q.

 

La Pureté de I’ âme!

Anges du ciel, anges de Dieu, anges de paix et de gaieté, apportez - moi une couronne.

Je veux me baigner dans l’Océan de lumière et d’amour divin.

Car ici - bas s'accomplissent des miracles qui tiennent les hommes muets d'admirations en contemplant l’oeuvre mystique du Très Haut.

Anges du ciel, anges de Dieu, anges de paix et de gaieté, voyez - vous cette lueur diaphane qui se précise, cette blancheur de neige, cette forme immaculée, cette âme apparue au monde? Je crois dès le premier abord que c’est l’esprit des saints, la poésie, la quintessence de la prière, qui au lieu de s’exhaler en parfum et en êther, prend la modeste résolution de se faire créature!

Anges du ciel, anges de Dieu, anges de paix et de gaieté, applaudissez: car ce sont les Mères et Soeurs de Saint François d'Assise qui descendent au monde pour calmer les douleurs et les peines des faibles mortels, des malades et des lépreux tels que nous sommes.

Je veux chanter des louanges, me désaltérer de leurs douces paroles quand elles chantent: Hosanna! Hosanna!

Je veux toujours admirer cette blancheur immaculée, cette fraicheur, cette lumière, cette poésie, car tout celà est l’emblème de la

Pureté de l’âme!

Anges du ciel, anges de Dieu, anges de paix et de gaieté, lancez-vous des roses et des nénuphards, des chants mélodieux et des notes embaumées et versez avec effusion les vertus, le courage et le bonheur parmi les servantes de Dieu.

                                 François Trí
                                 Déo gratias
(Nuit de Mercredi 24 Octobre 1940)

 

Bản dịch: Tấm linh hồn thanh khiết

Hỡi các vị thiên thần của Trời, thiên thần của Chúa, thiên thần của hòa bình và hoan lạc, xin hãy mang lại cho tôi một vòng hoa.

Tôi muốn tắm trong bể ánh sáng và lòng yêu kính thiêng liêng.

Bởi vì dưới cõi trần gian đã thành tựu nhiều phép lạ nó làm cho người ta phải nghẹn ngào vì khâm phục khi ngưỡng vọng cái sự nghiệp thần bí của đấng Tối Cao.

Hỡi các vị thiên thần của Trời, thiên thần của Chúa, thiên thần hòa bình và hoan lạc, các người có thấy cái ánh sáng trong mờ càng ngày càng rõ rệt, cái mầu sắc trắng tuyết kia, cái hình hài không vết bợn kia, cái linh hồn hiện lên nơi cõi thế kia, ngay khi mới thấy, tôi đã chắc đó là cái hồn phách của các vì Thánh, cái thi tứ, cái tinh hoa của sự cầu nguyện đáng lẽ thì bốc lên hương thơm tinh khí, nhưng đây chỉ khiêm tốn quyết định hóa ra Người.

Hỡi các vị thiên thần của Trời, thiên thần của Chúa, thiên thần hòa bình và hoan lạc, xin hãy vỗ tay lên: bởi vì đó là các Mẹ và các Chị dòng Saint François d' Assise, xuống cõi trần gian để an ủi những đau khổ, lo âu của loài người yếu đuối, của các bệnh nhân tàn tật, của những kẻ phong hủi là chúng tôi đây.

Tôi muốn ca lên những bài khen ngợi, hứng uống cho thật đã những lời êm dịu của các bà, khi các bà đồng hát bài thánh ca: Hosanna! Hosanna (xin cứu với! xin cứu với).

Tôi muốn bao giờ cũng thán thưởng cái hình thể trắng tinh không vết ấy, sức tươi mát, nguồn ánh sáng, bầu thơ ấy, vì tất cả đó là biểu tượng của:

Tấm linh hồn thanh khiết

Hỡi các vị thiên thần của Trời, thiên thần của Chúa, thiên thần hòa bình và hoan lạc, xin hãy ném cho nhau những đóa hoa hồng, hoa súng, những điệu hát réo rắt và những hơi nhạc thơm tho, và xin hãy rưới trút cho tràn trề nào là đức hạnh, can đảm và hạnh phúc cho những vì nữ tỳ của Đức Chúa.

                                 François Trí
                                 Cảm tạ Thượng đế
(Đêm thứ tư 24 tháng 10 năm 1940)

Bản dịch của Trần Thanh Mại trong cuốn Hàn Mặc Tử (năm 1942)

(TCSH60/02-1994)

 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Tin nổi bật
  • TRÚC THÔNGLTS: Cuộc hội thảo Thơ Huế trong mạch nguồn thơ Việt do Hội Nhà văn TT Huế tổ chức nhân dịp Festival Thơ Huế 2006 đã “truy cập” được nhiều nhà thơ, nhà lý luận- phê bình tham dự.Tiếp theo số tháng 6, trong số tháng 7 này, Sông Hương xin trích đăng thêm một số tham luận và ý kiến về cuộc hội thảo nói trên.

  • PHẠM XUÂN NGUYÊNTrước hết tôi muốn phân định một khái niệm thơ Huế, ít nhất là trong bài viết này của tôi. Thơ Huế là một khái niệm tưởng cụ thể nhưng lại khá mơ hồ. Thế nào là thơ Huế? Có phải đó là thơ viết về Huế và thơ của người Huế viết. Mặc nhiên mọi người đều hiểu thế. Thơ viết về Huế thì có của người gốc Huế, người đang sống ở Huế và người ở khắp mọi nơi.

  • INRASARATham luận Festival Thơ Huế lần 2 tại Huế 05 và 06/6/2006Tràn lan cái giống thơ:Cái giống thơ là sản phẩm dễ gây nhầm lẫn và ngộ nhận. Ngộ nhận nên quá nhiều người làm thơ, nhà nhà làm thơ. Rồi tập thơ được in ra hàng loạt để...tặng. Và khốn thay, không ai đọc cả! Vụ lạm phát thơ được báo động mươi năm qua là có thật. Không thể, và cũng không nên chê trách hiện tượng này. Thử tìm nguyên do.

  • TÂM VĂNĐã hơn hai thế kỷ rồi mà nay đọc bài “Lập học chiếu” (Chiếu chỉ thành lập trường học) của Ngô Thời Nhậm vẫn nóng lên như những dòng thời sự.

  • HỒ THẾ HÀVới điểm nhìn ngược chiều từ khởi đầu thế kỷ XXI (2006) hướng về cội nguồn khai sinh vùng đất Thuận Hoá - Phú Xuân - Huế (1306), chúng ta thấy vùng đất này đã có 700 lịch sử thăng trầm, vinh quang và bi tráng.

  • NGUYỄN ĐỨC TÙNGVô thức là những hoạt động tinh thần mà chúng ta không thể nhận thức ra được. Trong tác phẩm nổi tiếng của mình, Diễn dịch các giấc mơ, Freud lần đầu tiên đề nghị khái niệm vô thức (unconscious) để phân biệt với ý thức (conscious) và tiềm thức (preconscious), sau này gọi là lý thuyết topo.

  • VĂN CÔNG HÙNGKính thưa quý vị, tôi phải xin phép nói ngay là những phát biểu của tôi vô cùng cảm tính và chả có một hệ thống gì hết, trong khi trước mặt tôi đây đều là những người lừng danh về cảm nhận, nhận xét, đúc kết, rất giỏi tìm ra những vấn đề, những quy luật của thơ.

  • TRẦN HOÀI ANH1. Có thể nói yêu cầu đổi mới của các thể loại văn học là một yêu cầu tất yếu trong đời sống văn học. Tính tất yếu nầy luôn đặt cho văn học một hành trình cách mạng. Cách mạng trong đời sống văn học và cách mạng trong bản thân từng thể loại văn học.

  • THÁI PHAN VÀNG ANHTừ sau 1986, sự đổi mới tư duy nghệ thuật, sự mở rộng phạm trù thẩm mĩ trong văn học khiến truyện ngắn không những đa dạng về đề tài, phong phú về nội dung mà còn có nhiều thể nghiệm, cách tân về thi pháp. Mỗi nhà văn đều lí giải cuộc sống từ một góc nhìn riêng, với những cách xử lí ngôn ngữ riêng. Hệ quả tất yếu là truyện ngắn Việt đương đại đã gặt hái được nhiều thành công trên nhiều phương diện, trong đó không thể không kể đến ngôn ngữ trần thuật.

  • TRẦN HOÀI ANH              1. Phân tâm học là lý thuyết có nguồn gốc từ y học, do S.Freud (1856-1939) một bác sĩ người Áo gốc Do Thái sáng lập. Đây là học thuyết không chỉ được áp dụng trong lĩnh vực y học mà còn được vận dụng trong nhiều lĩnh vực khác của đời sống xã hội trong đó có lĩnh vực nghệ thuật.

  • NGUYỄN DƯƠNG CÔN   Từ lâu, Bản thể con người đã trở thành vấn đề cơ bản và sâu sắc nhất của mối quan hệ giữa văn học với hiện thực. Trong mối quan hệ đó, hiện thực với tư cách là đối tượng khám phá và trình diễn của văn học không còn và không phải chỉ là hiện thực cuộc sống như là dành cho các khoa học nhân văn và các nghệ thuật khác nữa.

  • LÝ VIỆT DŨNGThiền tông, nhờ lịch sử lâu dài, với những Thiền ngữ tinh diệu kỳ đặc cùng truyền thuyết sinh động, lại chịu ảnh hưởng sâu sắc văn hóa Á đông xưa và thấm nhuần văn hóa Tây phương ngày nay nên đã cấu thành một thế giới Thiền thâm thúy, to rộng.

  • TRẦN HUYỀN SÂM1. Theo tôi, cho đến nay, chúng ta chưa có những đánh giá xác đáng về hiện tượng Xuân Thu nhã tập: Cả trên phương diện lý thuyết lẫn thực tiễn sáng tác. Có phải là nguyên do, nhóm này đã bị khoanh vào hai chữ “BÍ HIỂM”?

  • PHI HÙNGĐỗ Lai Thuý đã từng nói ở đâu đó rằng, anh đến với phê bình (bài in đầu tiên 1986) như một con trâu chậm (hẳn sinh năm Kỷ Sửu?).Vậy mà đến nay (2002), anh đã có 4 đầu sách: Con mắt thơ (Phê bình phong cách thơ mới, 1992, 1994, 1998, 2000 - đổi tên Mắt thơ), Hồ Xuân Hương - hoài niệm phồn thực (Nghiên cứu thơ Hồ Xuân Hương từ tín ngưỡng phồn thực, 1999), Từ cái nhìn văn hoá (Tập tiểu luận, 2000), Chân trời có người bay (Chân dung các nhà nghiên cứu, 2002), ngoài ra còn một số sách biên soạn, giới thiệu, biên dịch...

  • TRẦN ĐỨC ANH SƠNCuối tuần rảnh rỗi, tôi rủ mấy người bạn về nhà làm một độ nhậu cuối tuần. Rượu vào lời ra, mọi người say sưa bàn đủ mọi chuyện trên đời, đặc biệt là những vấn đề thời sự nóng bỏng như: sự sa sút của giáo dục; nạn “học giả bằng thật”; nạn tham nhũng...

  • HỒ VIẾT TƯSau buổi bình thơ của liên lớp cuối cấp III Trường Bổ túc công nông Bình Trị Thiên, dưới sự hướng dẫn của thầy Trần Văn Châu dạy văn, hồi đó (1980) thầy mượn được máy thu băng, có giọng ngâm của các nghệ sĩ là oai và khí thế lắm. Khi bình bài Giải đi sớm.

  • PHAN TRỌNG THƯỞNGLTS: Trong hai ngày 02 và 03 tháng 3 năm 2006, tại thủ đô Hà Nội đã diễn ra Hội nghị lý luận – phê bình văn học nghệ thuật toàn quốc. Trên 150 nhà nghiên cứu, lý luận, phê bình đã tham dự và trình bày các tham luận có giá trị; đề xuất nhiều vấn đề quan trọng, thiết thực của đời sống lý luận, phê bình văn học nghệ thuật hiện đại ở nước ta, trong đối sánh với những thành tựu của lý luận – phê bình văn học nghệ thuật thế giới.

  • NGUYỄN TRỌNG TẠO1. Con người không có thơ thì chỉ là một cái máy bằng xương thịt. Thế giới không có thơ thì chỉ là một cái nhà hoang. Octavio Paz cho rằng: “Nếu thiếu thơ thì đến cả nói năng cũng trở nên ú ớ”.

  • PHẠM PHÚ PHONGTri thức được coi thực sự là tri thức khi đó là kết quả của sự suy nghĩ tìm tòi, chứ không phải là trí nhớ.                       L.Tonstoi