TỐNG PHƯỚC BẢO
Tòn về thình lình, khi nắng tháng Tư trổ xanh ngọc bích giàn bông ven bờ kinh. Mé sàn lãng chiều hôm ai gội đầu nghe rào rạo tiếng xối nước. Chiếc ghe nhỏ trôi theo dòng rồi neo lại bến cũ. Tòn chẳng vội lên chái bếp, ngồi nhìn chiều tròng trành theo nhịp sóng gợn của con kinh Thất Ngàn.
Minh họa: Nguyễn Duy Linh
Bao nhiêu năm rồi Tòn chẳng biết. Thoảng khi, giữa những chuyến dọc ngang khắp các kinh rạch miệt này, Tòn neo ghe nơi nào cũng thấy bóng quê. Thiên hạ đôi lúc cắc cớ hỏi Tòn người xứ nào sao lạ quắc quơ, Tòn cười hề hà. Chín nhánh sông này là quê, phù sa nuôi lớn, kinh rạch dạy đời Tòn khôn. Chứ thiệt lòng, lang bạt kỳ hồ thì đâu lại hổng là quê. Xứ nào cũng nói tiếng mình, sông nào cũng là nơi tá túc. Chỉ là mình có sống tử tế hay không mà thôi. Tòn nói vậy rồi nhấp ly rượu gạo thở ra cái khà. Bắt chân chữ ngũ, nằm đầu mũi ghe ngó con trăng tròn. Tòn nhớ mấy cái ký ức xưa xa cũ càng. Nhớ khơi khơi vậy thôi rồi không dưng nước mắt rơi. Bạn ghe hay nói Tòn đô mạnh. Nhậu lê vành lết bánh cả bầy bạn bè mà vẫn tỉnh rụi, phủi quần cái rột rồi lừng lững đi về mé sông, chui xuống ghe mình mà ngủ. Sáng mờ trời đã nghe mùi củi mục đốt ngai ngái nấu nước pha trà. Thứ trà lạ kỳ màu trắng xanh trộn năm vị thuốc. Uống vào cay cay, nồng nồng, chát chát, nhưng khỏe re hừng hực khí thế cho một ngày linh đinh muôn nẻo đồng bưng.
Bữa ghe Tòn cập Chẹt Sậy rao muối Bạc Liêu, thấy bạn hàng lâu năm ho húng hắng mùa bấc trở, Tòn chui xuống lòng ghe bốc cho mớ trà gói thành bảy gói nhỏ, nói ông bạn hàng đem về hãm nước mà uống. Tối ngủ nhớ giã mớ tỏi đắp lên lòng bàn chân rồi đeo vớ vào. Cứ y rang vậy mà làm. Đúng bảy ngày hổng hết ho, tui thềnh ông nguyên ghe muối này. Tui chạy xuống tới Bạc Liêu lựa đúng muối Đông Hải. Tui tên Tòn. Tròn con trăng mới đáo lại khúc sông cũ mà rao. Tòn gặp gì bán đó. Nay bán muối Bạc Liêu, mai bán mắm Châu Đốc, mốt bán xoài cát Hòa Lộc. Cũng có khi bán thân, ngặt nỗi hổng ai mua nên cứ lênh đênh hải hồ mình ên.
Tòn xuống ghe mà giọng cười còn rớt lại trên bờ. Ông bạn hàng lắc đầu chẳng biết nói gì. Giới ghe tò te quen mặt, nhớ tên, ngoài ra chẳng ai biết thêm gì về Tòn. Thể như lục bình xứ này, từ đâu, về đâu là chuyện của riêng loài miên di lữ thứ. Đời nhiều cái bận tâm hơn mắc gì để ý chuyện hổng phải của mình.
*
Mót nói chắc nịch Tòn sẽ chẳng còn một miếng đất cắm dùi. Mầy hiền queo. Hiền đến độ ngu. Ngu đến độ nói chẳng vô đầu. Từ lỗ tai này, chui qua lỗ tai kia rồi rớt hết xuống sông. Sông trôi nước cuốn. Sót lại một mình mầy à! Đất giờ làm gì mà nở ra hoa. Đất nở ra vàng. Người ta cắm mốc làm lộ giới, mở đường nhựa, xây cái cầu bắc qua Thất Ngàn, đất sốt còn người thì bệnh. Đâu mà điên đến nỗi dâng cả phần đất đắc địa này không lấy một cắc. Rồi mầy còn cái gì? Cái chòi lá cũ kĩ phía cuối con kinh cô liêu tĩnh mịch sao? Người ta ì đùng trồi nhà ra mặt tiền. Người ta cất nhà tường ngói đỏ, cổng cao kiên cố. Mầy lủi thủi với cái ghe đuôi tôm, bếp trấu và cái sàn lãng ngồi ngó sóng vỗ bạc đầu. Bạc đầu mà chẳng có khôn.
Bữa đó, thằng Mót kéo Tòn ra mé vàm ngồi chửi. Chửi một câu nhấp một ly. Nhấp chục ly nó vẫn thấy thằng bạn chí cốt thời băng đồng tắm mưa vẫn im ru. Nó lừng khừng rồi không nói nữa. Vàm sông nổi gió. Gió lay bông sói đương mùa trổ ngan ngát hương. Hương sói thoảng vào hai thằng ngà ngà cơn say, mặt đỏ phừng phừng. Tòn thủ thỉ mình tính kĩ hết trơn, cái gì hổng phải của mình, thì giữ làm chi. Mình từ đâu đến thì mình về lại nơi đó. Hai chục tuổi đời cũng là chừng đó nợ ân tình mình mang nặng. Kệ đi Mót, tao còn cái ghe, sống khỏe mà mậy.
Mót chẳng nói gì thêm, nó nhập ly rượu, chẳng một tiếng thở nào buông ra. Cặp mắt đỏ hoe nhìn mấy ngọn bông xanh màu ngọc bích. Xóm giềng ai mà không biết chuyện của Tòn. Khắp mười bốn ngàn rưỡi mét kinh này đồn rân trời. Lời đồn từ sườn kinh này lan đến sườn kinh kia. Từ xóm ra chợ, từ chợ lên xã, từ xã lên huyện, từ huyện lên tỉnh. Đến nỗi hồi làm khai sinh, ông trên xã lắc đầu ngao ngán, cái bản mặt tía nó ổng hổng thèm dòm. Tui bạn bè anh mấy chục năm, mà tui thấy lần này anh quấy quá chừng. Ông bạn của tía làm khai sinh cho Tòn, phết nhẹ cái tên từ Toàn thành Tòn. Thiếu có mỗi chữ A mà thành trò cười cho thiên hạ.
Nhưng Tòn vẫn được tía má nuôi lớn dẫu gièm pha thị phi cứ thoảng khi ong óc vào tai. Đi học bạn hỏi phải mầy con riêng tía mầy không? Nghe nói ổng lẹo tẹo với bà bán gà. Gà móng đỏ chót, bốn mươi lăm kí. Hay má mầy cho mầy ăn cơm gạo mốc, thứ gạo vét đáy khạp những mùa lũ lụt. Nghe đồn mấy anh chị mầy không cho mầy ngủ chung, mầy chui xuống chuồng heo mà nằm. Tòn lầm lì dí đám bạn chạy vòng sân trường, tiện tay bẻ cây quất túi bụi. Cũng có khi nó trân mình chịu trận đòn của năm bảy đứa một lúc. Tới chừng thằng Mót chạy đến thì đám đông đã tan. Tòn quần áo te tua, mặt mày bầm dập. Hai thằng về lại con kinh, lột đồ nhảy xuống tắm. Người ta nói miền Tây nước ngọt phù sa, nhưng mấy bận như vậy, Tòn thấy sóng nước xứ mình mằn mẵn chát đắng.
Tòn chưa bao giờ hỏi tía má câu nào về mình. Chưa bao giờ dám tranh giành thứ gì cùng anh chị em. Cứ vậy mà cùi cụi lớn. Càng lớn càng đen thui, càng cao to, đôi mắt sâu hoắm, cặp môi dày cui, cái mặt buồn thiu. Buồn như vọng cổ xứ này. Mót nói vậy rồi nghêu ngao hát “Trời mưa lâm râm, ướt dầm bông sói. Bậu đi lấy chồng sao hổng nói qua hay”.
*
Đó là năm hai thằng con trai vừa tròn mười tám tuổi. Bên kia sườn kinh Thất Ngàn, cổng lá dừa đỏ bời hoa lồng đèn. Chị hai Tuyết hơn Tòn năm ba tuổi gì đó. Chị trắng như bông bưởi. Tóc chị dài chấm lưng thon. Mắt chị to tròn ướt nước. Chị đẹp nhất Thất Ngàn. Mỗi mùa bông sói đương thì nhuộm xanh sườn kinh, chị hay cùng tụi nó hái bông đem phơi khô ướp trà. Trà nhà chị hai Tuyết nổi tiếng khắp xứ. Chị hai Tuyết lấy chồng. Thằng công tử con nhà bán vàng nào đó nhà trên thị xã. Nghe đâu mối lái đưa duyên chứ chưa lần chị xa Thất Ngàn.
Năm đó, lần đầu tiên mùa bông sói Tòn không ruổi rong ven sườn kinh nữa. Bông sói tàn rụng lắt lay trôi luềnh loáng trên dòng nước.
*
Một mùa lũ nào đó nước lút mái nhà, tía má không kịp về. Xác nương vào đám cây nơi ven sườn kinh. Từ cuối con kinh về giữa Thất Ngàn chẳng bao xa nhưng Tòn thấp thỏm từ đêm tới sáng. Mấy anh chị nói mầy lo cái gì. Tía bơi giỏi nhất xứ. Mầy sợ cái gì. Ngày nào còn tía má mầy cứ ở yên đây. Đêm mưa vần vũ như trút xuống đồng bưng những giọt nước mắt trời. Mưa tạo một vùng cô lập Thất Ngàn với gò cao phía đầu con kinh. Nước bắt đầu dâng khi chiều nhá nhem. Tía má kẹt nơi mảnh đất với đám ruộng lúa đang trổ đòng. Anh hai, chị ba, anh tư cứ vậy mà kê đồ theo nước dâng. Nước dâng quá thì trèo lên cột, kèo ngồi lắt lẻo. Mỗi Tòn bơi ra nghe ngóng, bơi vào thấp thỏm. Người ướt nhẹp. Lạnh và run. Hai con mắt không dám nhắm, hướng về cuối kinh chờ một ánh đèn pin.
Chẳng có ánh đèn pin nào từ phía cuối kinh cả. Đến sáng hôm sau thì xuồng cứu hộ cập nhà hốt mấy đứa con nít lên xã tránh lũ. Ba ngày sau lũ rút, xác tía má được đưa về. Lạ kỳ là khi ấy Tòn không khóc, mặc cho anh chị gào rống thảm thiết. Người ta nói tía ôm chặt má cứng ngắc. Phải bóp rượu, phải khấn vái lầm rầm cả buổi mới gỡ tay tía ra được. Bên trong người tía còn mấy cây bông sói. Tòn lặng lẽ ra mé sàn lãng. Nghe vết roi tía mới quất hồi mấy ngày trước dường như giờ mới đau nhói lên.
Tòn xin mấy anh chị về nhà chòi nơi ruộng tía má cuối kinh để ở. Mấy anh chị phủi tay cái rột. Khuất mắt thì đỡ chướng. Từ đâu thì về đấy. Tòn cúi đầu lạy bàn thờ ba cái rồi nổ máy đuôi tôm.
Tòn mới mười bốn, tự mình vườn tược ruộng đồng. Xếp cái áo trắng vào giỏ đệm, treo cạnh bàn thờ tía má. Căn chòi bắt đầu leo lét ánh đèn. Bàn thờ nhỏ xíu tự kê bằng hai cái ghế cao. Chẳng có hình tía má, Tòn lấy đại tấm hình hồi tía má dẫn lên thị xã năm mười hai tuổi chụp trong một tiệm ngay chợ nhà lồng. Tòn thượng lên bàn thờ. Thắp nhang mỗi ngày. Cúng cơm với cá, tự mình ên lót lá nằm ngủ trước bàn thờ. Đó là đêm ngủ bình yên nhất của Tòn.
*
Bình yên của Tòn là bao nhiêu huê lợi đều cắm cúi đem về nộp lại cho các anh chị. Bình yên của Tòn là ngồi mé sàn lãng nhìn ra sóng nước nhấp rượu gạo và nghe Mót nói chuyện tào lao. Bình yên là thoảng khi gặp chị hai Tuyết giữa buổi chợ, chị len lén nhét vào tay Tòn gói trà. Cũng có bận chị chạy ghe về cuối con kinh đưa Tòn hũ mắm tép. Hôm tết nhứt chị để lại chái bếp mớ tung lò mò, mớ mắm muối đường tiêu, thêm trái dưa hấu đỏ. Cũng có lần chị len lén thảy vào nhà cái giỏ đệm, biểu Tòn mặc đi, con trai lớn rồi, mặc mấy cái áo sứt bâu vá vai con gái nó cười. Mặc đi con trai lớn rồi phải kĩ càng, để khỏi mắc cỡ lúc giữa đàng giữa sá. Tòn mở giỏ đệm, thấy mấy cái áo thun mới, cái quần tây đen dài, thêm cái quần con nhỏ xíu hình tam giác. Tòn chạy vội ra mé sông thì ghe chị hai Tuyết đã rẽ nước cuối kinh về lại Thất Ngàn.
Nhưng, đời này làm gì có bình yên vĩnh cửu. Cả khi đã chết rồi cũng vẫn còn phải chứng kiến những ồn ào ráo hoảnh tranh giành. Tòn thất thần bên bàn thờ một sớm căn chòi cuối kinh nghe tiếng mấy anh chị vào cắm mốc chia đất. Đất nở ra vàng khi trúng quy hoạch. Đất bị lóc lên như người ta đánh vẩy cá. Đất tỉnh bơ mà người thì điên. Thất Ngàn trắng đêm mơ thành tỷ phú. Tòn đặt bút ký. Còn căn chòi, căn chòi này bán luôn. Mầy không tiền mua lại thì bán cho cò cho lái. Mầy con ai? Thì tự mà đi tìm. Thứ con hoang bị bỏ trên sóng nước của cuộc hoan lạc hải hồ đời ghe bẹo. Mầy sinh ra trên ghe bẹo thì về lại ghe bẹo. Cái bàn thờ gì mà kì khôi, ai dạy mầy thờ trên ghế, ai cho mầy để hình tía má lên. Trời, rồi mầy để cái hình mầy với tía má lên đây mầy trù ếm tụi tao hay gì? Mầy đi, đi ngay. Đống quần áo Tòn bị anh chị hốt liệng ra phía cách bếp nhà. Mé sàn lãng chiếc ghe côi cút dập dềnh theo từng đợt sóng.
Đất nứt nẻ thành vết cắt trong lòng người xứ này. Tòn chỉ kịp chụp lấy tấm hình và chạy về phía sông. Phía sông mù khơi. Lòng sông thì rộng. Lòng người đâu thể chứa nổi phù sa. Châu thổ mùa đất nở vàng nhưng mang mang như vọng cổ xứ chín nhánh. Tòn cho ghe chạy về nhà Mót. Chiều bên ven kinh hai thằng ngồi nhậu. Chiều đó, chị hai Tuyết lạy công cô để sớm mai xuất giá.
*
Tòn lên sàn lãng, mở cái cửa phủ đầy mạng nhện lẫn mùi ẩm mốc vào chái bếp. Dễ chừng từ hồi Tòn đi đến giờ chắc căn chòi cũng mốc meo theo thời gian. Mấy ông anh bà chị tỉ phú cầm vàng bỏ đời bưng biền lên thị tứ. Thị tứ xanh đỏ đèn vàng nướng người châu thổ vào mấy ổ cờ bạc. Dắt dây từ số đề sang đến tiền ảo. Mấy năm thôi của thiên về lại với địa. Tay lấm lem bùn phèn làm sao giữ nổi tiền. Bận Mót điện thoại bảo Tòn về ký cái căn chòi để tao làm sổ đỏ coi mậy. Mấy ông anh bà chị mầy giờ nợ tiền tụi cho vay nặng lãi, nó dí quánh bầm mình bầm mẩy, u đầu sẩy trán hết trơn. Mấy ổng bả bán căn chòi cho tao. Mấy ổng bả bán mắc như bán vàng, nhưng tao thích tao mua. Tao chỉ mua với điều kiện mầy phải ký tên đồng ý. Tòn cúp điện thoại. Dong ghe một mạch từ tận cùng sông Hậu về lại cuối khúc kinh Thất Ngàn.
Bếp trấu mới un còn ngái nồng. Ấm trà mới pha còn thoảng dịu mùi bông sói ướp với năm vị thuốc mà hồi đó chị hai Tuyết chỉ Tòn. Trà bông sói năm vị uống định thần, uống vào trị ho cảm mạo. Mình xứ quê đâu phải có bệnh là chạy ra kịp trạm xá hay bệnh viện. Cứ cây cỏ thảo thơm miệt đồng mà theo ông bà để lại cho cách trị. Bông sói phơi đủ ba nắng ướp trà, xáo thêm tiểu hồi, đại hồi, cam thảo, quế chi và phá cố mới ra được đặc tính trị bệnh của loại trà này. Người đồng bưng trái gió trở trời dễ lạnh cuống họng, nhấp ngụm trà là thấy êm ngay. Hay như bữa rượu say bí tỉ chỉ cần uống năm ba ngụm trà là người ra mồ hôi, giải rượu dễ dàng mà đầu chẳng đau nhức. Lời chị hai Tuyết khiến Tòn nhớ mãi. Nhớ tận những lúc xuôi ghe khắp miệt đồng bưng vẫn cứ y như bài chị hai Tuyết dạy. Nhấp ngụm trà nhớ chuyện xưa. Là trà đưa Tòn về ký ức. Hay ký ức của Tòn chẳng thể thiếu loại trà độc đáo này của chị hai Tuyết?
Tòn chưa kịp vọng trọn cái ký ức thì nghe ì đùng ngoài rào thưa. Ai đó nắm níu nhau vào tận căn chòi. Ngay cái bàn thờ cũ kĩ khuyết tấm hình. Mót đưa cái giấy bắt mấy ông anh bà chị Tòn ký. Ký lẹ tui đưa tiền. Không là bị tụi nó đánh. Nè mầy chưng hửng gì đó. Mót kéo tay Tòn lại. Mầy ký luôn cho xong. Rồi ai về nhà nấy. Tòn run run đưa tay ký. Thằng Mót cầm tờ giấy cười hả hê. Nó rót trà vào ly, tu cái ực. Thằng quỷ sứ, mầy bỏ đi mấy năm mà trà pha vẫn ngon.
Tòn không nói gì, lặng lẽ quay vào chái bếp đâm nát thân mấy cây bông sói ra rồi đưa cho anh hai. Anh đem về đắp vô mấy cái chỗ bị đánh bầm tím này đi. Mấy cái chỗ rỉ máu còn phơn phớt đỏ. Hồi đó mỗi lần, ừ mỗi lần em bị người ta đánh, tía hay hái cây bông sói đâm nát ra rồi đắp lên cho em. Một hai ngày sau là vết bầm xẹp ngay, lành liền không sẹo. Trong đầu Tòn hiện lên cái hình ảnh tấm lưng mình đầy vết sẹo hôm tía đánh trước cơn lũ. Đó là lần duy nhất Tòn xin tía trả Tòn về với sông nước. Tòn không phải con tía. Tòn ở đây thì tía thêm khổ. Tía vụt roi vào Tòn. Vết hằn in lên bờ lưng. Má chụp cây roi rồi kéo tía xuống ghe, từ nhà chạy về phía chòi cuối kinh Thất Ngàn hái bông sói đem về đắp cho Tòn. Bàn tay tía lúc bị lũ cuốn vẫn nắm chặt mấy cây bông sói.
*
Đêm chênh chao ánh trăng. Mé sàn lãng Mót ngồi nhấp ly rượu thở ra cái khà. Thằng quỷ tiền tao để dành mấy năm trời mới mua lại căn chòi này cho mầy. Linh đinh xứ nào cũng không bằng đất mình. Đời ai cũng trăm sông ngàn rạch để đi, nhưng chỉ một nẻo về nghen mậy. Mầy về, chị hai Tuyết cũng về. Chị hai Tuyết gặp thằng công tử ó đâm lắm mầy ơi. Thằng đó trăng hoa rồi bạc bẽo phụ tình thêm thói vũ phu. Trời thần, hôm tao lên thị tứ, thấy nó đánh chị hai Tuyết giữa chợ. Tức khí tao đập một trận, tao lôi chị hai Tuyết về. Tao nói không ở nữa. Ly dị đi, tao lo cho chị hai Tuyết. Thằng đó nó thấy tao làm công an nó sợ xanh mặt. Hai bên gia đình nói chuyện rồi giải quyết chia tay êm đẹp. Chị hai Tuyết về lại bên kia con kinh. Trời tự dưng tao thèm mỗi chiều nhìn chị hai Tuyết gội đầu, nghe chị hai Tuyết ca.
Bây giờ xứ chín nhánh sông bắt đầu mưa lâm râm. Trời mưa ướt dầm bông sói. Đêm ngà ngà cơn say, hai thằng con trai ngó về bên kia kinh, hình như có tiếng xối nước rào rạo. Vẳng xa tiếng ca ngọt lừ xàng xê.
“Trách chi câu thề khi nào cầu quay nọ hết quay.
Thì qua với bậu mới đứt dây cang thường”*.
Câu ca rót vào lòng sông. Lòng sông lăn tăn nước. Sóng vỗ dạ Tòn thắt lại.
T.P.B
(TCSH411/05-2023)
-----------------------
* Lý con sáo Bạc Liêu - Phan Ni Tấn
- Một số từ địa phương trong truyện: kinh: kênh; y rang: y chang, như; mình ên: một mình, lẻ loi.
Tải mã QRCode
NGUYỄN VIỆT HÀThư viện, nơi mà tôi sẽ tả kỹ, là một nơi tôi đã nhớ và bị nhớ rất lâu. Không phải ở đó tôi đã lần đầu yêu và lần đầu hôn. Tôi nhớ nó vì có một truyện kỳ dị, cái truyện đó rồi sẽ đẩy tôi suýt nữa trở thành một thứ bải hoải rẻ rách.
XUÂN ĐÀITôi làm đơn xin thôi việc, dù biết làm như vậy là phá vỡ hợp đồng đã ký kết với công ty. Tôi phải bồi hoàn. Là nhân viên kiểm toán, tôi không thể tiếp tục làm theo sự chỉ đạo của sếp, cộng tác với doanh nghiệp, đồng lõa với doanh nghiệp, sáng tác ra những con số ma để đối phó với thanh tra. Có tờ báo đã giễu cợt việc làm này là quân trộm cắp cộng tác với quân siêu trộm cắp, có lẽ nhà nước nên lập thêm công ty kiểm toán của kiểm toán.
NGUYỄN CẨM HƯƠNGBước ra khỏi lớp học ngoại ngữ anh bỗng thấy đầu óc quay cuồng như muốn ngã. Dắt được chiếc xe đạp địa hình ra khỏi trung tâm, anh cố gắng đạp một cách khó nhọc trên đường phố.
NGUYỄN ĐỨC SĨ TIẾNNgười ta thường nói xem mặt đặt tên, nhưng điều này lại không đúng với thượng tá Kha. Nhìn bề ngoài, ai cũng nghĩ ông là người khô khan, thật ra ông lại là người rất đa cảm.
NGUYỄN THẾ TƯỜNGChấp me?Che muống! / Chấp me? Cuống sắc! / Chấp me? Sắc cạnh? / Chấp me? Hạnh bầu! / Chấp me? Hầu nhảy/Ăn cơm ai? Ăn cơm cha!Uống nước ai? Uống nước mạ!Hú ...Con mau về kẻo quạ tha đi!
HUỲNH THẠCH THẢO- Lành, về bảo bố mày ăn nhậu vừa vừa thôi, đừng như mấy ông mới ngấp nghé vào cấp xã đã phởn, bia ôm gái giếc có ngày...Tôi vừa vào đến cổng đã nghe tiếng mẹ sang sảng với con Lành, đứa con cậu út ở quê. Chưa hết, bà còn thêm hồi nữa nhưng nhỏ hơn, có lẽ nghe tiếng cửa mở bên ngoài.
NGUYỄN TRƯỜNGChiều xuống. Lúc mặt trời sắp lặn sau dãy núi phía tây cũng là lúc người ta thấy ông già xóm Chùa thường mon men tới thả câu ở cái bến sông này.
MÃN ĐƯỜNG HỒNGMùa Xuân lững thững về. Anh cũng lững thững đi ra phố chợ. Hai bàn tay trơ trọi của anh đút sâu vào hai túi quần rỗng trống buồn tênh. Anh mỉm cười thong dong bước đi, hòa vào dòng người nhôn nhao tất tả.
HỒNG NHUNói chính xác là chị dâu. Chính xác hơn, chị dâu thứ của vợ tôi. Thông thường những trường hợp như thế này, trong nhà em út chẳng ai gọi đầy đủ là chị dâu cả, mà chỉ là chị thôi. Ấy là chị Kim.
TRẦN DUY PHIÊN1. Chuông điện thoại reo phải lúc tôi đang tiếp ông tổ trưởng dân phố. Biết tôi ở nhà một mình, ông nói gọn mấy câu rồi từ biệt. Ba chân bốn cẳng chạy như nước rút, tôi mới với được tới máy.
LÊ ĐỨC QUANGMột buổi sáng sớm mùa xuân, bầu trời trong xanh thăm thẳm. Anh nắng vàng vừa rải đều khắp nơi. Gió thổi nhẹ, mơn man vào da thịt con người ta, thật mát mẻ dễ chịu làm sao. Dọc đường phố, cuối năm rồi, dòng người trở nên đông đúc và nhộn nhịp, kẻ thì lo mua sắm áo quần mới, người thì lo bánh mứt, kẻ thì mua những chậu hoa, cây cảnh, trang trí nhà cửa của mình sao cho thật đẹp. Mọi người ai cũng hối hả, vui mừng đón năm mới. Riêng lão xích lô, vẫn công việc bình thường như mọi ngày: sáng ăn qua quýt ổ bánh mì xong rồi đạp xích lô đến ngã ba gần sân ga, chờ những chuyến tàu về, mặt cố gắng hớn hở, tươi cười, đón mời khách.
NGUYỄN VĂN NINHTôi được cơ quan tố tụng chỉ định làm luật sư cho một bị can.Tôi xin kể ra đây, hơi dài dòng một chút, không phải bị cáo mà là cha tôi. Trong cuộc đời làm luật sư, cha tôi luôn thích nhất câu: Thưa quí tòa! Thân chủ tôi hoàn toàn vô tội! Cha tôi muốn tôi sau này mỗi khi đứng trước toà đều nói câu như vậy.
QUẾ HƯƠNG 1. Chị đi qua, tẻ nhạt và cũ kỹ như cái áo đề mốt thơm mùi long não lấy từ hòm gỗ ủ hương kỷ niệm. Khu cư dân tôi ở thì mới toanh, chưa tròn mười. Cơ ngơi phó giám đốc xí nghiệp gỗ sực nức mùi rừng.
PHAN VĂN LỢILTS: Cuộc làm người, khó thay! Dân tộc nào cũng sáng tạo cho mình một ĐỊA NGỤC để răn dạy con người không nguôi hướng đến cái CHÂN - THIỆN - MỸ.Nhuốm màu sắc của Liêu trai chí dị và Việt điện u linh..., câu chuyện là một phần của cuộc đời đầy ám ảnh. Vừa cuốn hút thương cảm với cái nhìn nghiêm khắc lột trần bản chất đời sống, vừa hoang mang đặt ra câu hỏi về ý nghĩa sống đích thực của con người.
(tiếp theo và hết)Chuyến du ngoạn địa ngục đã để lại trong tâm trí ông Thai một ấn tượng hãi hùng. Thật khủng khiếp nếu phải chịu cực hình rồi bị đày xuống đó muôn kiếp. Phải tìm cách tự cứu mình chứ chả lẽ chịu bó tay?
HOÀNG NHẬT TUYÊNI. Chuyện được bắt đầu bằng một quả trứng, thoạt nghe cứ tưởng chuyện cổ tích nhưng nghe rồi mới rõ, ấy là chuyện thời nay, và đúng thế, nếu tường thuật theo lối cổ điển, theo tình tự thời gian thì chuyện không thể bắt đầu bằng chỗ nào khác thích hợp hơn là từ một quả trứng- một quả trứng gà.
MINH ĐỨC TRIỀU TÂM ẢNHHọ là đôi bạn thân kể từ thời còn học ở đại học Sorbonne, sau đó, cùng chọn chuyên ngành khảo cổ học. Jabindu, người Népal; Robinson, người Mỹ. Thời trẻ, cả hai đều say mê công việc khô khan và vất vả của mình. Dấu chân của đôi bạn đã dẫm khắp những di tích lịch sử ở hai bờ sông Nile, sông Hằng, Trung Á, Con Đường Tơ Lụa và cả Nam Mỹ...
NGUYÊN QUÂNTôi đứng lại giữa vườn. Đêm mênh mông oà vỡ ánh trăng. Trăng trên thềm nhà, trăng trên ngọn lá, trên những tàng cây um tùm. “Điêu tàn, hoang vắng quá”- tôi than thầm. Hình như lâu rồi chẳng ai vun xới chăm sóc và hình như cũng lâu lắm rồi tôi mới về lại trong khu vườn đầy kỷ niệm này.
NGUYỄN NGỌC PHÚQuán rượu của o Tam lúc nào cũng đông khách, phần lớn là khách quen. Quán ở gần bến, thuyền câu về cập bờ chỉ nhảy ba bước đã có thể cụng bát với nhau rồi.
NHẤT LÂMKhông biết duyên cớ từ đâu mà cô Ngọc ở Hà Nội chạy lên Thái Nguyên rồi dừng chân dưới chân đèo Nhe mở quán qua ngày.