TỐNG PHƯỚC BẢO
Tòn về thình lình, khi nắng tháng Tư trổ xanh ngọc bích giàn bông ven bờ kinh. Mé sàn lãng chiều hôm ai gội đầu nghe rào rạo tiếng xối nước. Chiếc ghe nhỏ trôi theo dòng rồi neo lại bến cũ. Tòn chẳng vội lên chái bếp, ngồi nhìn chiều tròng trành theo nhịp sóng gợn của con kinh Thất Ngàn.
Minh họa: Nguyễn Duy Linh
Bao nhiêu năm rồi Tòn chẳng biết. Thoảng khi, giữa những chuyến dọc ngang khắp các kinh rạch miệt này, Tòn neo ghe nơi nào cũng thấy bóng quê. Thiên hạ đôi lúc cắc cớ hỏi Tòn người xứ nào sao lạ quắc quơ, Tòn cười hề hà. Chín nhánh sông này là quê, phù sa nuôi lớn, kinh rạch dạy đời Tòn khôn. Chứ thiệt lòng, lang bạt kỳ hồ thì đâu lại hổng là quê. Xứ nào cũng nói tiếng mình, sông nào cũng là nơi tá túc. Chỉ là mình có sống tử tế hay không mà thôi. Tòn nói vậy rồi nhấp ly rượu gạo thở ra cái khà. Bắt chân chữ ngũ, nằm đầu mũi ghe ngó con trăng tròn. Tòn nhớ mấy cái ký ức xưa xa cũ càng. Nhớ khơi khơi vậy thôi rồi không dưng nước mắt rơi. Bạn ghe hay nói Tòn đô mạnh. Nhậu lê vành lết bánh cả bầy bạn bè mà vẫn tỉnh rụi, phủi quần cái rột rồi lừng lững đi về mé sông, chui xuống ghe mình mà ngủ. Sáng mờ trời đã nghe mùi củi mục đốt ngai ngái nấu nước pha trà. Thứ trà lạ kỳ màu trắng xanh trộn năm vị thuốc. Uống vào cay cay, nồng nồng, chát chát, nhưng khỏe re hừng hực khí thế cho một ngày linh đinh muôn nẻo đồng bưng.
Bữa ghe Tòn cập Chẹt Sậy rao muối Bạc Liêu, thấy bạn hàng lâu năm ho húng hắng mùa bấc trở, Tòn chui xuống lòng ghe bốc cho mớ trà gói thành bảy gói nhỏ, nói ông bạn hàng đem về hãm nước mà uống. Tối ngủ nhớ giã mớ tỏi đắp lên lòng bàn chân rồi đeo vớ vào. Cứ y rang vậy mà làm. Đúng bảy ngày hổng hết ho, tui thềnh ông nguyên ghe muối này. Tui chạy xuống tới Bạc Liêu lựa đúng muối Đông Hải. Tui tên Tòn. Tròn con trăng mới đáo lại khúc sông cũ mà rao. Tòn gặp gì bán đó. Nay bán muối Bạc Liêu, mai bán mắm Châu Đốc, mốt bán xoài cát Hòa Lộc. Cũng có khi bán thân, ngặt nỗi hổng ai mua nên cứ lênh đênh hải hồ mình ên.
Tòn xuống ghe mà giọng cười còn rớt lại trên bờ. Ông bạn hàng lắc đầu chẳng biết nói gì. Giới ghe tò te quen mặt, nhớ tên, ngoài ra chẳng ai biết thêm gì về Tòn. Thể như lục bình xứ này, từ đâu, về đâu là chuyện của riêng loài miên di lữ thứ. Đời nhiều cái bận tâm hơn mắc gì để ý chuyện hổng phải của mình.
*
Mót nói chắc nịch Tòn sẽ chẳng còn một miếng đất cắm dùi. Mầy hiền queo. Hiền đến độ ngu. Ngu đến độ nói chẳng vô đầu. Từ lỗ tai này, chui qua lỗ tai kia rồi rớt hết xuống sông. Sông trôi nước cuốn. Sót lại một mình mầy à! Đất giờ làm gì mà nở ra hoa. Đất nở ra vàng. Người ta cắm mốc làm lộ giới, mở đường nhựa, xây cái cầu bắc qua Thất Ngàn, đất sốt còn người thì bệnh. Đâu mà điên đến nỗi dâng cả phần đất đắc địa này không lấy một cắc. Rồi mầy còn cái gì? Cái chòi lá cũ kĩ phía cuối con kinh cô liêu tĩnh mịch sao? Người ta ì đùng trồi nhà ra mặt tiền. Người ta cất nhà tường ngói đỏ, cổng cao kiên cố. Mầy lủi thủi với cái ghe đuôi tôm, bếp trấu và cái sàn lãng ngồi ngó sóng vỗ bạc đầu. Bạc đầu mà chẳng có khôn.
Bữa đó, thằng Mót kéo Tòn ra mé vàm ngồi chửi. Chửi một câu nhấp một ly. Nhấp chục ly nó vẫn thấy thằng bạn chí cốt thời băng đồng tắm mưa vẫn im ru. Nó lừng khừng rồi không nói nữa. Vàm sông nổi gió. Gió lay bông sói đương mùa trổ ngan ngát hương. Hương sói thoảng vào hai thằng ngà ngà cơn say, mặt đỏ phừng phừng. Tòn thủ thỉ mình tính kĩ hết trơn, cái gì hổng phải của mình, thì giữ làm chi. Mình từ đâu đến thì mình về lại nơi đó. Hai chục tuổi đời cũng là chừng đó nợ ân tình mình mang nặng. Kệ đi Mót, tao còn cái ghe, sống khỏe mà mậy.
Mót chẳng nói gì thêm, nó nhập ly rượu, chẳng một tiếng thở nào buông ra. Cặp mắt đỏ hoe nhìn mấy ngọn bông xanh màu ngọc bích. Xóm giềng ai mà không biết chuyện của Tòn. Khắp mười bốn ngàn rưỡi mét kinh này đồn rân trời. Lời đồn từ sườn kinh này lan đến sườn kinh kia. Từ xóm ra chợ, từ chợ lên xã, từ xã lên huyện, từ huyện lên tỉnh. Đến nỗi hồi làm khai sinh, ông trên xã lắc đầu ngao ngán, cái bản mặt tía nó ổng hổng thèm dòm. Tui bạn bè anh mấy chục năm, mà tui thấy lần này anh quấy quá chừng. Ông bạn của tía làm khai sinh cho Tòn, phết nhẹ cái tên từ Toàn thành Tòn. Thiếu có mỗi chữ A mà thành trò cười cho thiên hạ.
Nhưng Tòn vẫn được tía má nuôi lớn dẫu gièm pha thị phi cứ thoảng khi ong óc vào tai. Đi học bạn hỏi phải mầy con riêng tía mầy không? Nghe nói ổng lẹo tẹo với bà bán gà. Gà móng đỏ chót, bốn mươi lăm kí. Hay má mầy cho mầy ăn cơm gạo mốc, thứ gạo vét đáy khạp những mùa lũ lụt. Nghe đồn mấy anh chị mầy không cho mầy ngủ chung, mầy chui xuống chuồng heo mà nằm. Tòn lầm lì dí đám bạn chạy vòng sân trường, tiện tay bẻ cây quất túi bụi. Cũng có khi nó trân mình chịu trận đòn của năm bảy đứa một lúc. Tới chừng thằng Mót chạy đến thì đám đông đã tan. Tòn quần áo te tua, mặt mày bầm dập. Hai thằng về lại con kinh, lột đồ nhảy xuống tắm. Người ta nói miền Tây nước ngọt phù sa, nhưng mấy bận như vậy, Tòn thấy sóng nước xứ mình mằn mẵn chát đắng.
Tòn chưa bao giờ hỏi tía má câu nào về mình. Chưa bao giờ dám tranh giành thứ gì cùng anh chị em. Cứ vậy mà cùi cụi lớn. Càng lớn càng đen thui, càng cao to, đôi mắt sâu hoắm, cặp môi dày cui, cái mặt buồn thiu. Buồn như vọng cổ xứ này. Mót nói vậy rồi nghêu ngao hát “Trời mưa lâm râm, ướt dầm bông sói. Bậu đi lấy chồng sao hổng nói qua hay”.
*
Đó là năm hai thằng con trai vừa tròn mười tám tuổi. Bên kia sườn kinh Thất Ngàn, cổng lá dừa đỏ bời hoa lồng đèn. Chị hai Tuyết hơn Tòn năm ba tuổi gì đó. Chị trắng như bông bưởi. Tóc chị dài chấm lưng thon. Mắt chị to tròn ướt nước. Chị đẹp nhất Thất Ngàn. Mỗi mùa bông sói đương thì nhuộm xanh sườn kinh, chị hay cùng tụi nó hái bông đem phơi khô ướp trà. Trà nhà chị hai Tuyết nổi tiếng khắp xứ. Chị hai Tuyết lấy chồng. Thằng công tử con nhà bán vàng nào đó nhà trên thị xã. Nghe đâu mối lái đưa duyên chứ chưa lần chị xa Thất Ngàn.
Năm đó, lần đầu tiên mùa bông sói Tòn không ruổi rong ven sườn kinh nữa. Bông sói tàn rụng lắt lay trôi luềnh loáng trên dòng nước.
*
Một mùa lũ nào đó nước lút mái nhà, tía má không kịp về. Xác nương vào đám cây nơi ven sườn kinh. Từ cuối con kinh về giữa Thất Ngàn chẳng bao xa nhưng Tòn thấp thỏm từ đêm tới sáng. Mấy anh chị nói mầy lo cái gì. Tía bơi giỏi nhất xứ. Mầy sợ cái gì. Ngày nào còn tía má mầy cứ ở yên đây. Đêm mưa vần vũ như trút xuống đồng bưng những giọt nước mắt trời. Mưa tạo một vùng cô lập Thất Ngàn với gò cao phía đầu con kinh. Nước bắt đầu dâng khi chiều nhá nhem. Tía má kẹt nơi mảnh đất với đám ruộng lúa đang trổ đòng. Anh hai, chị ba, anh tư cứ vậy mà kê đồ theo nước dâng. Nước dâng quá thì trèo lên cột, kèo ngồi lắt lẻo. Mỗi Tòn bơi ra nghe ngóng, bơi vào thấp thỏm. Người ướt nhẹp. Lạnh và run. Hai con mắt không dám nhắm, hướng về cuối kinh chờ một ánh đèn pin.
Chẳng có ánh đèn pin nào từ phía cuối kinh cả. Đến sáng hôm sau thì xuồng cứu hộ cập nhà hốt mấy đứa con nít lên xã tránh lũ. Ba ngày sau lũ rút, xác tía má được đưa về. Lạ kỳ là khi ấy Tòn không khóc, mặc cho anh chị gào rống thảm thiết. Người ta nói tía ôm chặt má cứng ngắc. Phải bóp rượu, phải khấn vái lầm rầm cả buổi mới gỡ tay tía ra được. Bên trong người tía còn mấy cây bông sói. Tòn lặng lẽ ra mé sàn lãng. Nghe vết roi tía mới quất hồi mấy ngày trước dường như giờ mới đau nhói lên.
Tòn xin mấy anh chị về nhà chòi nơi ruộng tía má cuối kinh để ở. Mấy anh chị phủi tay cái rột. Khuất mắt thì đỡ chướng. Từ đâu thì về đấy. Tòn cúi đầu lạy bàn thờ ba cái rồi nổ máy đuôi tôm.
Tòn mới mười bốn, tự mình vườn tược ruộng đồng. Xếp cái áo trắng vào giỏ đệm, treo cạnh bàn thờ tía má. Căn chòi bắt đầu leo lét ánh đèn. Bàn thờ nhỏ xíu tự kê bằng hai cái ghế cao. Chẳng có hình tía má, Tòn lấy đại tấm hình hồi tía má dẫn lên thị xã năm mười hai tuổi chụp trong một tiệm ngay chợ nhà lồng. Tòn thượng lên bàn thờ. Thắp nhang mỗi ngày. Cúng cơm với cá, tự mình ên lót lá nằm ngủ trước bàn thờ. Đó là đêm ngủ bình yên nhất của Tòn.
*
Bình yên của Tòn là bao nhiêu huê lợi đều cắm cúi đem về nộp lại cho các anh chị. Bình yên của Tòn là ngồi mé sàn lãng nhìn ra sóng nước nhấp rượu gạo và nghe Mót nói chuyện tào lao. Bình yên là thoảng khi gặp chị hai Tuyết giữa buổi chợ, chị len lén nhét vào tay Tòn gói trà. Cũng có bận chị chạy ghe về cuối con kinh đưa Tòn hũ mắm tép. Hôm tết nhứt chị để lại chái bếp mớ tung lò mò, mớ mắm muối đường tiêu, thêm trái dưa hấu đỏ. Cũng có lần chị len lén thảy vào nhà cái giỏ đệm, biểu Tòn mặc đi, con trai lớn rồi, mặc mấy cái áo sứt bâu vá vai con gái nó cười. Mặc đi con trai lớn rồi phải kĩ càng, để khỏi mắc cỡ lúc giữa đàng giữa sá. Tòn mở giỏ đệm, thấy mấy cái áo thun mới, cái quần tây đen dài, thêm cái quần con nhỏ xíu hình tam giác. Tòn chạy vội ra mé sông thì ghe chị hai Tuyết đã rẽ nước cuối kinh về lại Thất Ngàn.
Nhưng, đời này làm gì có bình yên vĩnh cửu. Cả khi đã chết rồi cũng vẫn còn phải chứng kiến những ồn ào ráo hoảnh tranh giành. Tòn thất thần bên bàn thờ một sớm căn chòi cuối kinh nghe tiếng mấy anh chị vào cắm mốc chia đất. Đất nở ra vàng khi trúng quy hoạch. Đất bị lóc lên như người ta đánh vẩy cá. Đất tỉnh bơ mà người thì điên. Thất Ngàn trắng đêm mơ thành tỷ phú. Tòn đặt bút ký. Còn căn chòi, căn chòi này bán luôn. Mầy không tiền mua lại thì bán cho cò cho lái. Mầy con ai? Thì tự mà đi tìm. Thứ con hoang bị bỏ trên sóng nước của cuộc hoan lạc hải hồ đời ghe bẹo. Mầy sinh ra trên ghe bẹo thì về lại ghe bẹo. Cái bàn thờ gì mà kì khôi, ai dạy mầy thờ trên ghế, ai cho mầy để hình tía má lên. Trời, rồi mầy để cái hình mầy với tía má lên đây mầy trù ếm tụi tao hay gì? Mầy đi, đi ngay. Đống quần áo Tòn bị anh chị hốt liệng ra phía cách bếp nhà. Mé sàn lãng chiếc ghe côi cút dập dềnh theo từng đợt sóng.
Đất nứt nẻ thành vết cắt trong lòng người xứ này. Tòn chỉ kịp chụp lấy tấm hình và chạy về phía sông. Phía sông mù khơi. Lòng sông thì rộng. Lòng người đâu thể chứa nổi phù sa. Châu thổ mùa đất nở vàng nhưng mang mang như vọng cổ xứ chín nhánh. Tòn cho ghe chạy về nhà Mót. Chiều bên ven kinh hai thằng ngồi nhậu. Chiều đó, chị hai Tuyết lạy công cô để sớm mai xuất giá.
*
Tòn lên sàn lãng, mở cái cửa phủ đầy mạng nhện lẫn mùi ẩm mốc vào chái bếp. Dễ chừng từ hồi Tòn đi đến giờ chắc căn chòi cũng mốc meo theo thời gian. Mấy ông anh bà chị tỉ phú cầm vàng bỏ đời bưng biền lên thị tứ. Thị tứ xanh đỏ đèn vàng nướng người châu thổ vào mấy ổ cờ bạc. Dắt dây từ số đề sang đến tiền ảo. Mấy năm thôi của thiên về lại với địa. Tay lấm lem bùn phèn làm sao giữ nổi tiền. Bận Mót điện thoại bảo Tòn về ký cái căn chòi để tao làm sổ đỏ coi mậy. Mấy ông anh bà chị mầy giờ nợ tiền tụi cho vay nặng lãi, nó dí quánh bầm mình bầm mẩy, u đầu sẩy trán hết trơn. Mấy ổng bả bán căn chòi cho tao. Mấy ổng bả bán mắc như bán vàng, nhưng tao thích tao mua. Tao chỉ mua với điều kiện mầy phải ký tên đồng ý. Tòn cúp điện thoại. Dong ghe một mạch từ tận cùng sông Hậu về lại cuối khúc kinh Thất Ngàn.
Bếp trấu mới un còn ngái nồng. Ấm trà mới pha còn thoảng dịu mùi bông sói ướp với năm vị thuốc mà hồi đó chị hai Tuyết chỉ Tòn. Trà bông sói năm vị uống định thần, uống vào trị ho cảm mạo. Mình xứ quê đâu phải có bệnh là chạy ra kịp trạm xá hay bệnh viện. Cứ cây cỏ thảo thơm miệt đồng mà theo ông bà để lại cho cách trị. Bông sói phơi đủ ba nắng ướp trà, xáo thêm tiểu hồi, đại hồi, cam thảo, quế chi và phá cố mới ra được đặc tính trị bệnh của loại trà này. Người đồng bưng trái gió trở trời dễ lạnh cuống họng, nhấp ngụm trà là thấy êm ngay. Hay như bữa rượu say bí tỉ chỉ cần uống năm ba ngụm trà là người ra mồ hôi, giải rượu dễ dàng mà đầu chẳng đau nhức. Lời chị hai Tuyết khiến Tòn nhớ mãi. Nhớ tận những lúc xuôi ghe khắp miệt đồng bưng vẫn cứ y như bài chị hai Tuyết dạy. Nhấp ngụm trà nhớ chuyện xưa. Là trà đưa Tòn về ký ức. Hay ký ức của Tòn chẳng thể thiếu loại trà độc đáo này của chị hai Tuyết?
Tòn chưa kịp vọng trọn cái ký ức thì nghe ì đùng ngoài rào thưa. Ai đó nắm níu nhau vào tận căn chòi. Ngay cái bàn thờ cũ kĩ khuyết tấm hình. Mót đưa cái giấy bắt mấy ông anh bà chị Tòn ký. Ký lẹ tui đưa tiền. Không là bị tụi nó đánh. Nè mầy chưng hửng gì đó. Mót kéo tay Tòn lại. Mầy ký luôn cho xong. Rồi ai về nhà nấy. Tòn run run đưa tay ký. Thằng Mót cầm tờ giấy cười hả hê. Nó rót trà vào ly, tu cái ực. Thằng quỷ sứ, mầy bỏ đi mấy năm mà trà pha vẫn ngon.
Tòn không nói gì, lặng lẽ quay vào chái bếp đâm nát thân mấy cây bông sói ra rồi đưa cho anh hai. Anh đem về đắp vô mấy cái chỗ bị đánh bầm tím này đi. Mấy cái chỗ rỉ máu còn phơn phớt đỏ. Hồi đó mỗi lần, ừ mỗi lần em bị người ta đánh, tía hay hái cây bông sói đâm nát ra rồi đắp lên cho em. Một hai ngày sau là vết bầm xẹp ngay, lành liền không sẹo. Trong đầu Tòn hiện lên cái hình ảnh tấm lưng mình đầy vết sẹo hôm tía đánh trước cơn lũ. Đó là lần duy nhất Tòn xin tía trả Tòn về với sông nước. Tòn không phải con tía. Tòn ở đây thì tía thêm khổ. Tía vụt roi vào Tòn. Vết hằn in lên bờ lưng. Má chụp cây roi rồi kéo tía xuống ghe, từ nhà chạy về phía chòi cuối kinh Thất Ngàn hái bông sói đem về đắp cho Tòn. Bàn tay tía lúc bị lũ cuốn vẫn nắm chặt mấy cây bông sói.
*
Đêm chênh chao ánh trăng. Mé sàn lãng Mót ngồi nhấp ly rượu thở ra cái khà. Thằng quỷ tiền tao để dành mấy năm trời mới mua lại căn chòi này cho mầy. Linh đinh xứ nào cũng không bằng đất mình. Đời ai cũng trăm sông ngàn rạch để đi, nhưng chỉ một nẻo về nghen mậy. Mầy về, chị hai Tuyết cũng về. Chị hai Tuyết gặp thằng công tử ó đâm lắm mầy ơi. Thằng đó trăng hoa rồi bạc bẽo phụ tình thêm thói vũ phu. Trời thần, hôm tao lên thị tứ, thấy nó đánh chị hai Tuyết giữa chợ. Tức khí tao đập một trận, tao lôi chị hai Tuyết về. Tao nói không ở nữa. Ly dị đi, tao lo cho chị hai Tuyết. Thằng đó nó thấy tao làm công an nó sợ xanh mặt. Hai bên gia đình nói chuyện rồi giải quyết chia tay êm đẹp. Chị hai Tuyết về lại bên kia con kinh. Trời tự dưng tao thèm mỗi chiều nhìn chị hai Tuyết gội đầu, nghe chị hai Tuyết ca.
Bây giờ xứ chín nhánh sông bắt đầu mưa lâm râm. Trời mưa ướt dầm bông sói. Đêm ngà ngà cơn say, hai thằng con trai ngó về bên kia kinh, hình như có tiếng xối nước rào rạo. Vẳng xa tiếng ca ngọt lừ xàng xê.
“Trách chi câu thề khi nào cầu quay nọ hết quay.
Thì qua với bậu mới đứt dây cang thường”*.
Câu ca rót vào lòng sông. Lòng sông lăn tăn nước. Sóng vỗ dạ Tòn thắt lại.
T.P.B
(TCSH411/05-2023)
-----------------------
* Lý con sáo Bạc Liêu - Phan Ni Tấn
- Một số từ địa phương trong truyện: kinh: kênh; y rang: y chang, như; mình ên: một mình, lẻ loi.
Tải mã QRCode
KHẢI NGUYÊN Pa-ri, mùa hạ năm 198...Vườn Bách thảo giữa thành phố kề sông Xen phía tả ngạn. Ông đến đây như một kẻ lánh đời, sợ nơi đông người. Thật ra, phần lớn đường phố Pa-ri trong giờ làm việc không ồn, không thừa thãi người đi nhong như ở Việt Nam. Em ông ở quê ra Hà Nội chơi đứng ngắm dòng người và xe nườm nượp qua lại cứ tự hỏi: những con người này đi đâu, về đâu mà tuôn mãi như là chẳng ai về nhà cả, như là cái "nghiệp" trời đày phải đi.
ĐỖ KIM CUÔNGNhiều năm trôi qua tôi đã trở thành người đàn ông đứng tuổi. Có một mái ấm gia đình, vợ con hạnh phúc. Nhưng mỗi lần nghĩ về nàng, một người đàn bà chỉ kịp quen trên chuyến đò từ Huế ra Phong Điền, chia tay nàng để nhiều năm sau, tôi mới được gặp lại nàng trong một hoàn cảnh khác, tôi vẫn giữ nguyên một cảm giác hết sức lạ lùng. Một ý nghĩa luôn ám ảnh tôi khá kỳ quặc rằng: Tôi đã bị nàng hiểu lầm, là một chàng lính giải phóng “hám gái, dại khờ”... Bởi vì sau vụ việc ấy, chính tôi cũng rủa thầm mình là ngu ngốc.
NGUYỄN VIỆT HÀVọng đi vào núi. Tại sao phải đi vào núi thì Vọng mong manh biết, còn sẽ đi vào núi như thế nào thì anh không biết. Nắng của chiều ngần ngừ trên một đường mòn và đường mòn heo hút cỏ dại đến đây thì chia hai.
HÀ KHÁNH LINHGiáo sư tiến sĩ Hoàng Lập Xuân thường nói với các sinh viên của mình thuở còn ấu thơ bà tin những chuyện cổ tích là có thật, từ đó bà đã sống và hành động theo tinh thần cổ tích. Khi đã thành danh, bà thường ngẫm nghĩ đối chiếu mình với các nhân vật trong cổ tích. Nhiều người lấy làm ngạc nhiên khi thấy chuyện cổ tích đã đóng một vai trò quan trọng trong việc hình thành nhân cách của một con người như giáo sư tiến sĩ Hoàng Lập Xuân. Càng ngạc nhiên hơn, khi biết rằng những chuyện cổ tích bà được nghe kể khi còn nhỏ không phải do ông bà nội ngoại, không phải do cha mẹ...
HƯỚNG DƯƠNGTết đã gần đến rồi. Những ngày này mọi người chỉ nghĩ đến một việc là chơi gì trong ngày Tết? Trước đây, cuộc sống thiếu thốn thì Tết là dịp để ăn uống cho no say đầy đủ - Vậy mới gọi là ăn Tết. Còn giờ, mọi sự dinh dưỡng thừa mứa, đàn ông bụng phệ nhan nhản, đàn bà đi hút mỡ thường kỳ, bệnh béo phì của trẻ em gia tăng. Ăn uống là kẻ thù của con người. Vậy nên, Tết không còn là ăn Tết nữa mà là vui Tết, chơi tết.
PHẠM ĐÌNH TRỌNGChưa bao giờ Ngay có ý nghĩ rời Hà Nội đến sống ở vùng đất khác thế mà anh đã đột ngột đưa cái gia đình bé nhỏ không còn nguyên vẹn của anh đi vào thành phố phía Nam cách Hà Nội ngót hai ngàn cây số. Anh đi như chạy trốn để rồi càng ngày anh càng nhớ quay quắt nơi anh đã để lại cả một thời tuổi trẻ đẹp đẽ.
THU NGUYỆTTrắng và trắng. Muột thơm và tinh khiết. Mặt đất dường như đỏ và mịn hơn khi được trải mình ra đón nhận sự nương tựa dịu dàng của những cánh hoa sứ ấy. Tôi khẽ khàng nhặt một bông sứ nhỏ, không đưa lên mũi ngửi như thói thường mà trang trọng áp vào tai. Trong làn hương tràn ngập, tôi nghe vẳng tiếng chuông ngân đẫm mát. Ai đó ơi, hãy một lần thử xem, nhặt một bông sứ nhỏ sân chùa, nhè nhẹ áp vào tai, sẽ nghe thấy những âm thanh và làn hương kỳ diệu! Cái cảm giác lạ lùng mà tôi đoán chắc rằng ai đó sẽ bất ngờ thấy mình khác hẳn đi.
PHẠM THỊ ANH NGAVới tôi mạ không có công ơn mang nặng đẻ đau, nhưng mạ đã thực sự ban cho tôi sự sống: sau khi lần lượt sinh bốn người con gái đầu lòng, lần thứ năm chín tháng cưu mang và "vượt cạn mồ côi một mình" mạ đã sinh ra anh, người sau này sẽ là "một nửa" của đời tôi.
PHẠM THỊ XUÂNTừ ngày Hoạt được đề bạt lên phó giám đốc, Mùi bắt đầu tiến hành một cuộc cách mạng trong gia đình. Nhìn vào đâu, vào cái gì, Mùi cũng chưa thấy nó xứng đáng với địa vị mới của chồng. Ngôi nhà ba gian vừa xây cách đây không lâu, bây giờ nó đã trở nên lạc hậu trong mắt Mùi. Mùi nghĩ, giá như hồi ấy mà làm theo kiểu nhà hộp thì bây giờ có phải đã lên thêm được một tầng như một số người quanh đây không.
HƯƠNG LANTuấn nhìn đồng hồ, rồi lại đi lui, đi tới không biết là lần thứ bao nhiêu trong buổi sáng này trên hành lang của Tòa án nhân dân Thành phố. Vẫn còn 5 phút nữa mới đến giờ, nhưng Tuấn có cảm giác giận Hương, có lẽ cô ta không đến, cô ta muốn gây khó dễ cho mình... Tuấn thầm nghĩ và lòng anh hiện lên một chút đay nghiến với người phụ nữ đang còn là vợ anh trong vài tiếng đồng hồ nữa.
BÙI MINH QUỐCNgày hôm ấy là một ngày không có gì đặc biệt trong cuộc sống cực nhọc, buồn tẻ của giáo sư Lê Khương- một ông già ngót sáu mươi tuổi mà vẫn sống độc thân. Nhưng rồi có một sự đặc biệt đến với ông vào lúc gần nửa đêm. Sau khi rà sửa lại lần thứ ba mấy chục trang cuối tập bản thảo một công trình mới nhất của mình, giáo sư đặt lưng xuống giường ngủ thiếp đi. Và, như thường lệ, ông bắt đầu thấy chiêm bao.
DƯƠNG THÀNH VŨBuổi sớm maiSông thức dậyMột mìnhTrôi mải miết (René Char)
ĐOÀN BÍCH HỒNGBà lão ngồi bất động nơi cây cầu giơ một khúc gỗ khẳng khiu đỡ lấy sàn nhà. Trong lúc liếc nhìn bóng mình lao chao trong cái màu xanh rêu đùng đục của dòng sông đang gắng gỏi vài mét nước cuối cùng trước khi nhập vào lòng biển, bà cố ghi nhận cái thời khắc quan trọng mà bà cảm thấy nó đang đến gần.
NHƯ BÌNH1. Đực và cái. Một đứa con trai đứng bên một đứa con gái là giống đực đặt bên giống cái. Còn nhỏ chúng là những đứa trẻ, không ngại ngùng bởi vấn đề giới tính. Trưởng thành, hai giống bên nhau tạo sức hút và nảy sinh cái gọi là tình yêu. Các cụ ta xưa rất hiểu quy luật giới tính này. Chả thế mà cứ nhốt hai giống vào một phòng là thành vợ chồng.Bố mẹ tôi cũng là một cặp như thế.
NGUYỄN VĂN ĐỆThuần ra bến thuyền vào lúc thuỷ triều đang lên. Lúc này là nửa đêm. Trăng hạ tuần trong như con cá mòi tháng bảy nhảy hất lên từ mặt biển treo mình giữa nền trời xanh ngát. Gió tây se lạnh, gió thổi từ đất liền ra giộng rừng phi lao reo lên cùng với tiếng vi vu, vi vút, gió thổi vào ngọn sóng làm hắt lên những tia sáng.
NGUYỄN THANH MỪNGĐã bát tuần, ông vẫn chưa nghĩ đến cái già. Đó là ông nói vậy, bô lô ba la trước bàn dân thiên hạ, trong đó tất nhiên không thiếu cả bạn bè, nhất là những người đáng tuổi con cháu nhưng được ông tôn vinh là thần tượng của quốc gia, thậm chí quốc tế nữa.
NHẤT LÂM Truyện ngụ ngôn hiện đạiTrong đàn chó săn của ông Mỗ thì Fóc vào loại anh cả đỏ. Ngoài chân cao, mũi thính, mình dài, chạy như tên bắn... nói chung những gì cần cho một con chó săn đích thực thì Fóc có cả.
NGUYỄN TRƯỜNG Nơi hầm tối là nơi sáng nhất (Thơ Dương Hương Ly)
TRẦN THUỲ MAINăm nay mùa đông lạnh hơn hẳn mọi năm. Gió cao nguyên cứ tràn qua, tràn qua từng đợt, những bông quỳ chấp chới vàng như sóng. Quỳnh bảo tôi: Gió ở đây một đi không trở lại, khác ở Huế. Gió từ sông Hương thổi lên là gió rất đa mang, thổi tà áo bay dùng dằng, như trong câu hát ngày xưa "Gió bay từ muôn phía...".
HẢI THITôi lớn lên ở một ngôi nhà nhỏ ven sông. Con sông nhỏ chảy qua một vùng quê hẻo lánh. Nhà tôi và nhà Khan đối diện nhau trên dòng trôi quê mùa ấy, chỉ có điều nhà tôi thì quay mặt ra sông, còn nhà Khan thì quay lưng ra sông, chính vì thế mà thuở nhỏ, mỗi lần tắm sông cười đùa ầm ỉ, tôi hay bị ba tôi rầy la nhiều hơn, vì ba tôi chỉ cần ngồi trên nhà đưa mắt là thấy ngay tôi đang trèo lên những bè lục bình để làm công chúa, còn ba Khan thì chỉ trông thấy Khan ném bùn đất vào cô công chúa kỳ khôi mỗi khi ông có việc phải ra đằng sau bếp.