Từ đặc trưng của nghề nghĩ về tổ chức và hoạt động của Hội

10:06 15/03/2010
PHẠM QUANG TRUNGHội Nhà văn Việt Nam, bên cạnh tính chính trị- xã hội, trước hết là một tổ chức nghề nghiệp. Muốn có sức mạnh, cơ cấu và hoạt động của Hội phải tương thích với đặc thù nghề viết văn.

Nghề văn là một nghề sáng tạo. Mục đích cao nhất của người cầm bút là tạo ra những tác phẩm văn chương có giá trị làm giàu có đời sống tinh thần của dân tộc, nhân dân và thời đại.

Sự sáng tạo của nghề văn bộc lộ ở hai đặc tính căn bản: Một là, sản phẩm của nhà văn phải luôn độc đáo; và hai là, lao động nhà văn là lao động của từng cá nhân. Xa rời những đặc tính này, hiệu quả hoạt động của Hội sẽ thấp, sức sống của tổ chức Hội sẽ giảm. Đó là điều chắc chắn.

Hơn 40 năm tồn tại, tổ chức và hoạt động của Hội Nhà văn đã gắng bám vào đặc thù nghề nghiệp, tạo ra bầu sinh khí sáng tạo cho từng nhà văn và cả đội ngũ. Nhiều tác phẩm xuất sắc của những nhà văn ưu tú được đông đảo quần chúng ưa thích và am hiểu văn chương đón nhận và thừa nhận là những minh chứng hùng hồn phần nào khẳng định đóng góp to lớn và quý giá của Hội đối với nền văn chương dân tộc.

Tuy nhiên, nếu trung thực và thẳng thắn mà nhìn nhận, thì cho tới nhiệm kỳ V sắp kết thúc, cơ cấu và hoạt động của Hội Nhà văn còn tỏ ra nhiều bất cập, cản trở không nhỏ tới sức sáng tạo của hội viên. Theo tôi, phải xem đây là một trong những nguyên do chính yếu làm cho nền văn chương đương đại Việt Nam chưa có những đỉnh cao, vì vậy, chưa đáp ứng được những đòi hỏi chính đáng, ngày một lớn của bạn đọc, chưa thỏa mãn được lòng mong mỏi da diết của mỗi người cầm bút chúng ta.

Điều đó chắc gây ra không ít phiền lòng cho những nhà văn có trách nhiệm cao nhất của Hội. Tôi muốn nói tới các thành viên của Ban chấp hành khóa V bao gồm những nhà văn đáng nể trọng về tài năng, đáng cảm phục về nhiệt huyết, đáng chia sẻ về tâm tư. Với số lượng quá ít ỏi, năm rồi bảy, trước một chuỗi công việc đồ sộ, phức tạp và tế nhị, Ban chấp hành đã phải gồng mình lên, linh hoạt, chủ động triển khai những chương trình hoạt động sao cho có hiệu quả nhất, nghĩa là phát huy đến mức cao nhất tiềm năng sáng tạo của các thế hệ cầm bút. Nỗi trăn trở của từng thành viên và của cả Ban chấp hành có thể dễ nhận ra ở từng việc làm nhỏ nhặt nhất. Đó là sự thật hiển nhiên không ai chối cãi, bác bỏ cho nổi.

Nhưng ở đời có nhiều cái nằm ngoài tầm tay với của chúng ta. Có cái ta nhận thức ra, khổ nỗi lực bất tòng tâm. Cũng có cái nằm ngoài nhận thức của mỗi người. Ở đây rất cần được trao đổi cho sáng nhẽ, tất thảy đều nhằm thúc đẩy hoạt động của Hội theo yêu cầu mới, cao hơn nhiều. Vậy, đâu là điều bất cập lớn nhất, trầm trọng nhất trong tổ chức và hoạt động của Hội Nhà văn hiện giờ?

Tính hành chính, có lẽ là nặng nề và dễ thấy hơn cả. Chẳng hạn, việc tổ chức các chi hội. Đến giờ, Hội đã có nhiều chi hội trực thuộc theo ngành nghề (Chi hội Nhà văn Quân đội, Chi hội Nhà văn Công an), theo địa phương (Chi hội Nhà văn Thanh Hóa, Chi hội Nhà văn Hải Phòng, Chi hội Nhà văn Thừa Thiên- Huế...), và theo giới tính (Chi hội Nhà văn nữ). Sắp tới chắc sẽ còn ra đời nhiều chi hội nữa nếu nơi nào nghề nào có đủ điều kiện. Thú thật, tôi chưa thật thông lắm về cách tổ chức này. Mặt mạnh cơ bản của nó là dễ quản lý; dễ triển khai phương hướng hoạt động nghề nghiệp chung; dễ phát huy được kinh nghiệm của các nhà văn có nhiều điểm gần gũi về đời sống, về các vấn đề thường quan tâm, trăn trở. Nhưng theo tôi, không có cái gọi là “nhà văn quân đội”, “nhà văn công an”, “nhà văn xứ Thanh”, “nhà văn Vùng mỏ”... Chỉ có một danh hiệu duy nhất là “nhà văn Việt Nam”. Mặt đáng băn khoăn nhất là cách thức tổ chức này rất dễ tạo ra sự tương đồng ở các nhà văn trong chi hội- một trong những điều tối kỵ trong sáng tạo nghệ thuật. Nếu để ý một chút, chúng ta sẽ thấy đội ngũ các cây bút chủ lực hiện nay của Hội có quá trình sống và viết khá giống nhau. Hoặc họ được đào tạo ở miền Bắc, tham gia các cuộc chiến tranh, sau 1975 chuyên làm báo- viết văn, quản lý các hội địa phương. Số này đông nhất. Hoặc họ là người miền Nam tập kết ra Bắc, trở về Nam hoạt động tuyên truyền và văn nghệ trong kháng chiến chống Mỹ, sau ngày toàn thắng lại kiên trì theo đuổi nghề viết. Số này ít hơn. Ngoài ra, có thể kể đến các nhà văn từng có đóng góp cho trào lưu văn chương yêu nước và tiến bộ ở các đô thị miền Nam thời tạm chiếm, hiện vẫn đang ấp ủ những dự đồ sáng tác lớn. Các cây bút kế cận trưởng thành sau 1975 dồi dào sức trẻ và sức sáng tạo, tuy có đa dạng hơn, song cũng còn khá giống nhau về điểm xuất phát và cách thức hành nghề. Cách tổ chức mạng lưới chi hội vô tình càng làm gia tăng sự giống nhau giữa các nhà văn, cản trở tới sự sáng tạo đích thực. Nên chăng ta để các nhà văn thuộc các vùng lãnh thổ và các ngành nghề khác nhau có sự tương hợp về phương hướng tìm tòi nghệ thuật, hoặc về xu hướng thể tài, tự giác tìm đến với nhau, ban đầu là những nhóm bút dần dần trở thành các trào lưu văn chương? Thật lành mạnh cho sự phát triển biết bao, nếu trong sự chỉ đạo tập trung cao độ của Hội Nhà văn, ta lại được chứng kiến sự đua tài đua sức của các trào lưu sáng tạo đa dạng, như nhóm các nhà văn viết kịch bản, các nhà văn viết tiểu thuyết hình sự, các cây bút thơ thể nghiệm, các nhà văn viết tiểu thuyết sử thi, các nhà văn viết tiểu thuyết thế sự, vân vân và vân vân... Ở các nhóm, nếu có thể, sẽ có các nhà sáng tác cùng các nhà lý luận, phê bình của mình. Hội có thể tạo điều kiện thủ tục và kinh phí cho các nhóm bút ra báo nếu thật sự có nhu cầu và khả năng. Tôi xin nhấn mạnh là các nhóm bút chỉ được hoạt động trong tính thống nhất về tư tưởng và tổ chức của Hội Trung ương, mọi ý định ly tán đều phải sớm được phát hiện và ngăn chặn kịp thời. Điều lệ Hội, nhất là điều 3 quy định rõ: “Hội Nhà văn Việt Nam tự nguyện hoạt động dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và trong khuôn khổ phát luật, thể chế của Nhà nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam” sẽ là cơ sở pháp lý ràng buộc và ngăn ngừa mọi nguy cơ ly tán.

Đến đây, tôi xin bàn đến tính hành chính trong hoạt động của các Ban chuyên môn và Ban chức năng. Chỉ xin có ý kiến về Ban sáng tác- một ban chủ chốt và trong nhiệm kỳ vừa qua có lẽ đã làm được nhiều việc nhất như: tổ chức trại, đi tham quan và thực tế; xét giải văn chương hàng năm; xét đầu tư cho các nhà văn... Tuy nhiên, khách quan mà nói, Ban sáng tác chưa làm tốt một nhiệm vụ quan trọng (nếu không nói là quan trọng hàng đầu) là tổ chức đánh giá, rút kinh nghiệm, nêu bài học cho sáng tác từng năm và cả nhiệm kỳ. Có thể là do Ban biên chế ít người; cũng có thể do các nhà văn trong Ban ngoài công việc quản lý bất đắc dĩ ra, họ còn lo hoàn thành những dự đồ sáng tác của bản thân mình. Hoàn toàn cảm thông được với họ! Nhà văn tồn tại bằng tác phẩm, chứ đâu ở cương vị, chức tước này nọ. Trong khi bao công việc tổ chức sáng tác của cả Hội đổ lên đầu họ. Thời gian bị rút tỉa và xé vụn. Tôi nhớ tới trại viết mới đây ở Đà Lạt vào tháng 8 vừa rồi. Đây là trại phối hợp giữa Hội Nhà văn và Bộ Công an. Vậy mà Trưởng, Phó Ban sáng tác của Hội- nhà văn Ma Văn Kháng và nhà văn Nguyễn Trọng Tân ngày 7/8 bay ra và rồi ngày 22/8 lại bay vào. Vắng mặt các anh không được. Tự các anh thấy có gì đó áy náy không yên. Mà đi là mất thời giờ. Ở nhà còn túc tắc viết được, đi là chỉ có công việc của Hội. Đấy là chưa nói bao nhiêu chuyện xã giao, hoan hỉ kèm theo, không thể khước từ. Mệt mỏi lắm, cả sức lực lẫn tâm lực. Tôi nói vậy cho thấu tình thấu lý. Nhưng mong mỏi thì vẫn không thể đừng. Giá như các anh chọn được một cây bút lý luận, phê bình có trách nhiệm với Hội đảm đương công việc theo dõi, đánh giá sáng tác, rồi cứ định kỳ nửa năm, một năm lại có bản tổng kết, phân tích rõ những tác phẩm mới xuất hiện, đưa ra các xem xét, đánh giá của Ban, có thể mạnh dạn lý giải và đề ra giải pháp tháo gỡ vướng mắc, nhân rộng những bài học tích cực- thiết tưởng như vậy sẽ rất có ích cho hoạt động sáng tạo của từng nhà văn. Nếu được, Ban sáng tác đi vào từng vấn đề, từng đề tài, từng khu vực (như Tây Nguyên, đồng bằng sông Cửu Long...), có chấn chỉnh, có định hướng cụ thể, thiết thực. Đối với những hiện tượng văn chương có ý kiến khác nhau (như các bài phê bình của Trần Mạnh Hảo, cuốn sách “Chân dung và đối thoại” của Trần Đăng Khoa hay như tiểu thuyết “Cơ hội của Chúa”...), Ban sáng tác nên chủ động tổ chức các cuộc hội thảo, trên cơ sở đó, đưa ra nhưng bản tổng thuật kèm theo chủ kiến của mình, góp phần lành mạnh hóa công luận theo những chuẩn mực thẩm mỹ tiên tiến. Điều này chắc sẽ dần dần làm chấm dứt cái nghịch lý trớ trêu sau đây: hướng dẫn bạn đọc lại do một vài phóng viên văn hóa của một số tờ báo không chuyên về văn chương đảm trách. Đời sống văn chương do thế mà rối tung lên, chẳng biết lần tìm đầu mối từ đâu!

Vậy là tính hành chính nặng nề, hậu quả của thời kỳ bao cấp, của việc ít chú trọng tới đặc thù của nghề văn đã cản trở không nhỏ tới hoạt động sáng tạo của các nhà văn. Hệ quả tất yếu của nó là ý hướng tìm tòi, khả năng khám phá nghệ thuật của từng nhà văn không được khuyến khích phát huy. Đây có lẽ là điều cần quan tâm nhất. Hội sáng tạo mà không kích thích được mong muốn chiếm lĩnh những đỉnh cao nghệ thuật thường đi liền với những thử thách gieo neo lắm khi hiểm nguy, thì cần nghiêm chỉnh tự rà soát lại toàn bộ cơ cấu tổ chức và phương hướng hoạt động của mình. Chỉ xin nêu một ví dụ: chất lượng của tuần báo “Văn Nghệ”- cơ quan ngôn luận chính thức có truyền thống nhất của Hội. Một lần ở Hà Nội, vào đầu năm 1999 này, tôi có được tiếp kiến với một nhà văn giữ trọng trách ở báo “Văn Nghệ”. Ông buồn rầu phàn nàn về số lượng phát hành quá thấp của báo. Nguyên do vì đâu? Ban biên tập đã nhiều lần họp và cùng trao đổi về vấn đề cốt tử này, và sau đó không ít giải pháp đã được thực thi. Ta thấy "Văn Nghệ" có thêm những chuyên trang, chuyên mục mới thể hiện ro quyết tâm đổi mới của tòa soạn. Nhưng tôi nghĩ tinh thần chung của báo vẫn chưa thay đổi mấy. Ấy là chưa có những bài thật sự mới mẻ về cách nhìn nghệ thuật đặng đưa lại cách nhìn mới mẻ về đời sống đang vươn tới theo xu thế tốt đẹp, đầy triển vọng nhưng hiện vẫn còn ngổn ngang bao điều trớ trêu đến mức đau lòng. Hình như Báo rất ngại đụng chạm. Thôi thì cứ trơn tru, suôn sẻ để mà tồn tại trong yên ổn hơn là có vấn đề thêm đau đầu, rắc rối. Đã vậy thì cứ nói theo đúng câu chữ của Chỉ thị, Nghị quyết. Có vận dụng thì cũng suy tính đắn đo, thà chưa thật hay mà ngay đường thẳng lối còn hơn hay mà nổi cộm đến mức gai góc. Như thế sẽ dễ sinh chuyện rầy rà. Tôi nhớ tới nhận xét nửa đùa nửa thật của một nhà văn ở Đồng Nai: “Chỉ cần phấn đấu thêm một chút nữa thì báo Văn Nghệ của ta sẽ thành báo Nhân Dân đấy!”. Nếu đúng như vậy thì buồn quá. Một nhà văn khác đến từ Hà Nội bình luận thêm vào: “Đảng chỉ cần báo Nhân Dân là đủ. Văn Nghệ mà phấn đấu để thành báo Nhân Dân, thì Đảng chả cần đến làm gì, nó trở nên thừa, không chỉ vô bổ mà còn gây vướng víu, khó chịu”.

Tôi nghĩ là các bạn chỉ nói đùa, nhưng quả thật khả năng chấp nhận những cái mới lạ trong sáng tác và trong phê bình của Ban biên tập “Văn Nghệ” là rất có giới hạn. Một lần, bạn tôi, là hội viên Hội Nhà văn từ cuối những năm 80, gửi bài tới tuần báo của Hội mình, Ban biên tập đăng những chữa khá nhiều, cả ý tứ lẫn giọng điệu. Ôi! Sinh ra nghề biên tập là phải đẽo gọt thôi. Nhưng đẽo gọt đến mức ấy, thì làm sao cộng tác viên có đủ nhiệt tình và can đảm để tiếp tục giửi bài. Đành nhờ tới những tờ khác vậy. Cũng may, hiện giờ Hội ta ngoài “Văn Nghệ” ra, hàng tháng cũng còn có nhiều tờ báo và tạp chí khác để hội viên có thể chọn nơi mà ủy thác sinh mệnh những hài nhi tinh thần, vừa mới sinh ra, thường yếu ớt, rất cần bàn tay khéo léo, nhất là tấm lòng quảng đại của những bà đỡ khả kính. Bài viết của một hội viên mà còn bị cắt xén vậy, không biết bản thảo của các cộng tác viên khác số phận sẽ như thế nào! Không, tôi tuyệt nhiên không có ý nói đã là hội viên thì chỉ có viết đúng và hay, bài của hội viên thì Ban biên tập không có quyền thò bút vào sửa. Tôi chỉ muốn nói rằng, đã được công nhận là một nhà văn thì chúng ta bao giờ cũng phải chịu trách nhiệm rất cao với tất cả những con chữ mình viết ra- trách nhiệm trước bạn đọc đương thời và cả với bạn đọc mai hậu. Chúng từng được thai nghén dài lâu đầy ưu tư trong tâm trong trí chúng ta mà. Chúng hành hạ ta không cho ta sống yên ổn đến một giây cho nổi. Viết được ra, ta được giải tỏa, giải thoát. Vậy mà người khác đã cư xử với chúng cứ như không ấy, lạnh lùng và khắc nghiệt. Sao chúng tôi không nhức nhối cho được.

Vì vậy, theo ý tôi, muốn đổi mới báo “Văn Nghệ” trước nhất phải đổi mới tư duy của người biên tập báo. Họ phải biết đau trước nỗi đau của người sáng tạo vốn là đồng nghiệp thân thiết của họ, đâu có cách ngăn xa lạ. Điều cốt yếu là biên tập viên phải biết cảm thông, chia sẻ với những ý tưởng táo bạo, những cách thức thể hiện ý tưởng mới mẻ. Thế giới này tồn tại đến 90 % là theo cách nhìn của con người. Vấn đề là phải luyện cách nhìn sao cho đúng mà mới, nghĩa là phù hợp với sự biến đổi không ngừng của đời sống và của văn chương. Ôi! Thật khó khăn thay! Nhưng không thể có con đường nào khác thế, nếu như ai đó còn muốn góp tay góp sức thúc đẩy sự nghiệp sáng tạo của Hội đi xa về phía trước...

Cuối cùng, tôi xin có một đôi lời về việc đầu tư sáng tác. Một vài năm gần đây Nhà nước đã quan tâm tài trợ cho mọi hoạt động sáng tạo trong khoa học và nghệ thuật. Số tiền đầu tư chưa nhiều, nhưng đó thật sự là một khích lệ lớn. Ban chấp hành Hội ta đã gắng sử dụng những đồng tiền ít ỏi ấy sao cho công bằng và thiết thực. Riêng ở điểm ấy có lẽ không có điều tiếng gì lớn. Tôi chỉ muốn chúng ta phân biệt việc đầu tư cho sáng tác với việc giải quyết khó khăn của một số nhà văn, nhất là những nhà văn cao niên từng có cống hiến lớn lao cho nền văn chương cách mạng dân tộc trong những bước đầu tiên. Tấm lòng ơn sâu nghĩa nặng của mỗi chúng ta đối với những nhà văn mở đường từng gặp thiệt thòi do chiến tranh và cơ chế cũ gây ra- tấm lòng ấy là không thể diễn tả bằng lời cho hết được. Tuy nhiên, Hội ta nên mở quỹ riêng nhằm đền ơn đáp nghĩa như các ngành nghề khác trong xã hội đang làm. Quỹ này cần có quy chế trong đóng góp và trong chi phí. Không nên nhập nhằng với quỹ đầu tư cho sáng tác vốn chỉ dành cho những nhà văn hoặc đang thực hiện những ý đồ nghệ thuật dang dở hoặc đang có nhu cầu công bố tác phẩm. Được vậy thì bất cứ ai khi cầm đồng tiền của Nhà nước cấp trong tay cũng đều cảm thấy yên lòng. Mà Hội đồng đầu tư sáng tác của Hội cũng đỡ áy náy: sao nhận tiền rồi mà suốt cả năm trời đề cương vẫn chỉ là đề cương! Đối với một vài nhà văn tuổi già sức yếu, thậm chí ta không nên giục họ viết để có cơ sở nghiệm thu hợp đồng. Nếu số tiền không phải rút từ Quỹ đầu tư mà từ Quỹ đền ơn đáp nghĩa, thì mọi chuyện có lẽ đỡ phiền hà hơn nhiều.

Trên đây, tôi mạnh dạn trình bày một số điều bấy lâu suy nghĩ về tổ chức và hoạt động của Hội Nhà văn- một Hội sáng tạo danh giá mà tôi được vinh dự gia nhập vào đầu năm 1997. Chắc sẽ có người chê trách. Tôi chỉ mong phần đông các đồng nghiệp sẽ hiểu cho nỗi lòng của tôi. Tất cả chỉ vì tình yêu lớn của tôi luôn đặt nơi Hội của mình. Có tình yêu lớn nào lại không đi cùng một đòi hỏi cao đâu, thưa các anh các chị. Đó cũng là cơ sở khiến tôi vững tin vào triển vọng của nền văn chương dân tộc trước thềm thiên niên kỷ mới.

Đà Lạt, 6/9/99
P.Q.T
(133/03-2000)



 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • NGUYỄN ĐĂNG ĐIỆP...Nguyễn Huy Thiệp không phải là người duy nhất đổi mới phương thức trần thuật. Trước ông đã có Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải, Ma Văn Kháng... tích cực mở đường. Nhưng phải đến Nguyễn Huy Thiệp thì sự khai phóng về tư tưởng nghệ thuật mới được thể hiện một cách đậm nét. Tất cả được Nguyễn Huy Thiệp kiến tạo qua một trò chơi đầy tính bất ngờ. Giống như người nghệ sĩ ba lê tài năng, Nguyễn Huy Thiệp trình diễn một thế giới đa sắc trên đầu những đầu mũi ngón chân. Những ngón chân ấy bám trụ vào hiện thực một cách tinh diệu, xoay chuyển một cách nhịp nhàng với những vòng quay, những vũ điệu ngôn từ...

  • PHAN NGỌC THUTrong nền văn học Việt Nam thế kỷ XX, Xuân Diệu (1916-1985) là một trong những nhà thơ nổi tiếng nhất, đồng thời cũng là nhà phê bình văn học kiệt xuất. Từ những bài tranh luận văn học sôi nổi thời Thơ Mới (1932-1945) đến Tiếng thơ (1951), Những bước đường tư tưởng của tôi (1958); từ Phê bình giới thiệu thơ (1960) đến Trò chuyện với các bạn làm thơ trẻ (1961), Dao có mài mới sắc (1963), Lượng thông tin và những kỹ sư tâm hồn ấy (1978), Các nhà thơ cổ điển Việt Nam, tập I (1981), tập II (1982) và Công việc làm thơ (1984)... "chỉ tính riêng các tác phẩm lý luận phê bình, đã có thể gọi Xuân Diệu là một đại gia"(1)

  • BÙI QUANG TUYẾNThơ mới là một hiện tượng nổi bật của văn học Việt Nam nói chung và thơ ca nói riêng trong thế kỷ XX. Nó vừa ra đời đã nhanh chóng khẳng định vị trí xứng đáng trong nền văn học dân tộc với các "hoàng tử thơ": Thế Lữ, Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên, Hàn Mặc Tử v..v...

  • HÀ KHÁNH CHINgày 20 - 3 - 2003, siêu cường lớn nhất mọi thời đại là đế quốc Hoa Kỳ đã mở đầu cuộc chiến tranh kỳ quái nhất trong lịch sử bằng cách tấn công Iraq sau khi đã bắt quốc gia này phải tự phá huỷ vũ khí tự vệ của chính họ. Đó là bài học chưa hề thấy về chút hy vọng cuối cùng mà lương tri nhân loại có thể đòi hỏi. Để có thể hiểu rõ hơn những gì đang xảy ra hôm nay - có lẽ cũng rất cần ôn lại một trong những vấn đề lớn nhất mà loài người có thể nghĩ tới: cuộc chiến tranh Việt Nam đã kết thúc cách đây gần 30 năm.

  • HOÀNG ĐĂNG KHOA Văn học Việt từ sau 1975, nhất là từ thời kỳ đổi mới, là một quá trình văn học rất phong phú, đa dạng và không ít phức tạp, lại còn đang tiếp diễn. Cuốn sách Văn học Việt Nam sau 1975 - Những vấn đề nghiên cứu và giảng dạy ra đời đáp ứng nhu cầu mang tính thời sự: nhu cầu nhìn nhận, đánh giá một cách khách quan, toàn diện về tiến trình văn học ba mươi năm qua, chuẩn bị cho sự ra đời của những công trình văn học sử và những chuyên khảo về giai đoạn văn học này.

  • NGUYỄN QUANG HÀTrong đời có những bài thơ người ta quên, mà chỉ nhớ một câu nằm lòng. Bởi đó là những câu thơ thực sự, những câu thơ thi sĩ. Từ xưa đến nay, đã có rất nhiều định nghĩa về thơ: Thơ là tiếng hát của trái tim; Thơ là hạt muối kết tinh của tình cảm; Thơ là phút giây rung động của tâm hồn... Nói chung, những định nghĩa ấy cho ta hiểu rằng ở đâu có được sự rung động của trái tim thì ở đó có thơ.

  • ĐỖ LAI THUÝPhê bình văn học Việt Nam, sau sự khởi nguồn của Thiếu Sơn với Phê bình và Cảo luận (1933) chia thành hai ngả. Một xuất phát từ Phê bình để trở thành lối phê bình chủ quan ấn tượng với Hoài Thanh và Thi nhân Việt Nam (1942). Lối kia bắt nguồn từ Cảo luận tạo nên phê bình khách quan khoa học với Vũ Ngọc Phan của Nhà văn hiện đại (1942), Trần Thanh Mai của Hàn Mặc Tử (1941), Trương Tửu của Nguyễn Du và Truyện Kiều (1942), Tâm lý và tư tưởng Nguyễn Công Trứ (1945). Sự phân chia này, dĩ nhiên, không phải là hành chính, mà là khoa học, tức sự phân giới dựa trên những yếu tố chủ đạo, nên không phải là không thể vượt biên. Bởi, mọi biên giới đều mơ hồ hơn ta tưởng, nhất là ở khoa học văn chương.

  • LTS: Marcel Reich-Ranicki, sinh năm 1920, người ở Đức được mệnh danh là "Giáo hoàng văn học", là nhà phê bình văn học đương đại quan trọng nhất của CHLB Đức. "Một lời biện hộ cho thơ" là bài thuyết trình đọc vào ngày 30.11.1980 nhân dịp ra mắt Tập 5 của "Tuyển thơ Frankfurt" trong khuôn khổ chuyên mục thơ của nhật báo "Frankfurter Allgemeine Zeitung" (FAZ) mà tác giả là chủ biên phần văn học từ 1973 đến 1988.Sông Hương xin trân trọng giới thiệu bài "Một lời biện hộ cho thơ" của ông sau đây do dịch giả Trương Hồng Quang thực hiện.

  • TRẦN HUYỀN SÂMGeorge Sand (1804-1876) là một gương mặt độc đáo trên văn đàn Pháp thế kỷ XIX. Cùng thời với những cây bút nổi tiếng như: A.Lamartine, V.Hugo, A.Vigny, A.Musset... nữ sĩ vẫn tạo cho mình một tầm vóc riêng không chìm khuất. George Sand bước vào thế giới nghệ thuật bằng một thái độ tự tin và một khát vọng sáng tạo mãnh liệt. Với hơn hai mươi cuốn tiểu thuyết đồ sộ, G.Sand đã trở thành một tên tuổi lừng danh ngay từ đương thời. Dĩ nhiên, bà lừng danh còn bởi nhiều mối tình bất tử, trong đó có nhà thơ Pháp nổi tiếng A.Musset và nhạc sĩ thiên tài Chopin người Ba Lan.

  • PHẠM QUANG TRUNGCó lần, dăm ba người có thiên hướng lý luận chúng tôi gặp nhau, một câu hỏi có thể nói là quan thiết được nêu ra: trong quan niệm văn chương, e ngại nhất là thiên hướng nào? Rất mừng là ý kiến khá thống nhất, tuy phải trải qua tranh biện, không đến nỗi quyết liệt, cũng không phải hoàn toàn xuôi chiều hẳn. Có lẽ thế mới hay!

  • NGUYỄN HỮU HỒNG MINH1- "Thơ trẻ- Những giá trị mới" là một "mưu mô" của nhà phê bình trẻ Nguyễn Thanh Sơn và nhóm "Văn nghệ mới" (bao gồm Nguyễn Hữu Hồng Minh, Văn Cầm Hải, Phan Huyền Thư, Ly Hoàng Ly, Nguyễn Vĩnh Tiến, Dạ Thảo Phương... và một số người khác) dự tính tập hợp, tuyển chọn 1 tuyển thơ của 10 (hay nhiều hơn) tác giả trẻ từ 30 tuổi trở xuống, xuất hiện trong vòng 3 năm cuối cùng của thế kỉ để trình làng giới thiệu chân dung thế hệ mình.

  • NGUYỄN HOÀN Trịnh Công Sơn là một hiện tượng độc đáo của âm nhạc và văn hoá Việt Nam được ái mộ không chỉ ở trong nước mà cả ở nước ngoài. Vì thế mà từ khi ông qua đời đến nay đã có trên chục đầu sách viết về ông, một số lượng hiếm thấy đối với các nhạc sĩ khác. Gần đây có cuốn “Trịnh Công Sơn vết chân dã tràng” của Ban Mai do Nhà xuất bản Lao Động, Trung tâm Văn hoá Ngôn ngữ Đông Tây xuất bản, Hà Nội, 2008. Với niềm ngưỡng mộ tài hoa và nhân cách nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, tôi đã hăm hở tìm đọc cuốn sách mới này nhưng tiếc thay, chưa kịp trọn nỗi mừng đã phải thất vọng về những trang viết đánh giá đầy sai lệch và thiếu sót, phiến diện về Trịnh Công Sơn và chiến tranh Việt Nam.

  • HOÀNG QUỐC HẢIThơ Lý - Trần có mạch nguồn từ Đinh - Lê, nếu không muốn nói trước nữa. Rất tiếc, nguồn tư liệu còn lại cho chúng ta khảo cứu quá nghèo nàn.Nghèo nàn, nhưng cũng đủ tạm cho ta soi chiếu lại tư tưởng của tổ tiên ta từ cả ngàn năm trước.

  • NGUYỄN VĂN THUẤN          (Nhóm nghiên cứu - lý luận phê bình trẻ)Thời gian gần đây, tại Việt , các tác phẩm của nhà văn Nhật Bản H.Murakami thường xuyên được dịch và xuất bản. Là một giọng nói hấp dẫn trên văn đàn thế giới, sáng tác của ông thu hút đông đảo công chúng và dành được nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu, phê bình. Một trong những tiểu thuyết làm nên danh tiếng của ông là Rừng Nauy.

  • PHAN TÂMQuê hương Phan Đăng Lưu, xã Hoa Thành, huyện Yên Thành, cách Kim Liên, Nam Đàn, quê hương Hồ Chí Minh khoảng 60 km.Hai nhân cách lớn của đất Nghệ An. Không hẹn mà gặp, xuất phát từ lương tri dân tộc, chủ nghĩa yêu nước Việt Nam, đến chủ nghĩa Mac - Lê nin, thành hai chiến sĩ cộng sản Việt Nam nổi tiếng.

  • THÁI DOÃN HIỂUNhà thơ Võ Văn Trực thuộc loại tài thì vừa phải nhưng tình thì rất lớn. Chính cái chân tình đó đã giúp anh bù đắp được vào năng lực còn hạn chế và mong manh của mình, vươn lên đạt được những thành tựu mới đóng góp cho kho tàng thi ca hiện đại của dân tộc 4 bài thơ xuất sắc: “Chị, Vĩnh viễn từ nay, Thu về một nửa và Nghĩa địa làng, người ta sẽ còn đọc mãi.

  • HÀ  ÁNH MINHBài thứ nhất, Một cuộc đời "Ngậm ngải tìm trầm" của Vương Trí Nhàn, đăng trên tạp chí Diễn đàn văn nghệ Việt Nam số Xuân Canh Thìn năm 2000, và bài thứ hai "Sư phụ Thanh Tịnh làm báo tết" của Ngô Vĩnh Bình, đăng trên báo Văn Nghệ, số Tết cũng năm Canh Thìn 2000. Bài đầu tiên viết dài, giọng văn trau chuốt điệu nghệ. Bài sau ngắn, mộc mạc.

  • LÊ THỊ HƯỜNGDẫu mượn hình thức của thể kí, dẫu tìm đến vần điệu của thơ, điểm nhất quán trong sáng tác của Hoàng Phủ Ngọc Tường là một cái tôi say đắm thiên nhiên. Đằng sau những tài hoa câu chữ là một cái tôi đa cảm - quá chừng là đa cảm - luôn dành cho cỏ dại những tình cảm lớn lao.  

  • BỬU NAM1. Nếu văn xuôi hư cấu (đặc biệt là tiểu thuyết) chiếm vị trí hàng đầu trong bức tranh thể loại của văn học Mỹ - La tinh nửa sau thế kỷ XX, thì thơ ca của lục địa này ở cùng thời gian cũng phát triển phong phú và rực rỡ không kém, nó tiếp tục đà cách tân và những tìm tòi đổi mới của những nhà thơ lớn ở những năm 30 - 40.

  • NGUYỄN ĐĂNG ĐIỆP1. Khi chạm vào cơn lốc và những điệu rock thơ mang tên Vi Thuỳ Linh, bất chợt tôi nhớ đến câu thơ dịu dàng và sâu thẳm của Paul Eluard: Trái đất màu xanh như một quả cam. Với P. Eluard, tình yêu là một thế giới tinh khiết, rạng rỡ và ngọt ngào: Đến mức tưởng em khỏa thân trước mặt. Còn Vi Thuỳ Linh, nếu ai hỏi thế giới màu gì, tôi đồ rằng nàng Vi sẽ trả lời tắp lự: Màu yêu.