Từ đặc trưng của nghề nghĩ về tổ chức và hoạt động của Hội

10:06 15/03/2010
PHẠM QUANG TRUNGHội Nhà văn Việt Nam, bên cạnh tính chính trị- xã hội, trước hết là một tổ chức nghề nghiệp. Muốn có sức mạnh, cơ cấu và hoạt động của Hội phải tương thích với đặc thù nghề viết văn.

Nghề văn là một nghề sáng tạo. Mục đích cao nhất của người cầm bút là tạo ra những tác phẩm văn chương có giá trị làm giàu có đời sống tinh thần của dân tộc, nhân dân và thời đại.

Sự sáng tạo của nghề văn bộc lộ ở hai đặc tính căn bản: Một là, sản phẩm của nhà văn phải luôn độc đáo; và hai là, lao động nhà văn là lao động của từng cá nhân. Xa rời những đặc tính này, hiệu quả hoạt động của Hội sẽ thấp, sức sống của tổ chức Hội sẽ giảm. Đó là điều chắc chắn.

Hơn 40 năm tồn tại, tổ chức và hoạt động của Hội Nhà văn đã gắng bám vào đặc thù nghề nghiệp, tạo ra bầu sinh khí sáng tạo cho từng nhà văn và cả đội ngũ. Nhiều tác phẩm xuất sắc của những nhà văn ưu tú được đông đảo quần chúng ưa thích và am hiểu văn chương đón nhận và thừa nhận là những minh chứng hùng hồn phần nào khẳng định đóng góp to lớn và quý giá của Hội đối với nền văn chương dân tộc.

Tuy nhiên, nếu trung thực và thẳng thắn mà nhìn nhận, thì cho tới nhiệm kỳ V sắp kết thúc, cơ cấu và hoạt động của Hội Nhà văn còn tỏ ra nhiều bất cập, cản trở không nhỏ tới sức sáng tạo của hội viên. Theo tôi, phải xem đây là một trong những nguyên do chính yếu làm cho nền văn chương đương đại Việt Nam chưa có những đỉnh cao, vì vậy, chưa đáp ứng được những đòi hỏi chính đáng, ngày một lớn của bạn đọc, chưa thỏa mãn được lòng mong mỏi da diết của mỗi người cầm bút chúng ta.

Điều đó chắc gây ra không ít phiền lòng cho những nhà văn có trách nhiệm cao nhất của Hội. Tôi muốn nói tới các thành viên của Ban chấp hành khóa V bao gồm những nhà văn đáng nể trọng về tài năng, đáng cảm phục về nhiệt huyết, đáng chia sẻ về tâm tư. Với số lượng quá ít ỏi, năm rồi bảy, trước một chuỗi công việc đồ sộ, phức tạp và tế nhị, Ban chấp hành đã phải gồng mình lên, linh hoạt, chủ động triển khai những chương trình hoạt động sao cho có hiệu quả nhất, nghĩa là phát huy đến mức cao nhất tiềm năng sáng tạo của các thế hệ cầm bút. Nỗi trăn trở của từng thành viên và của cả Ban chấp hành có thể dễ nhận ra ở từng việc làm nhỏ nhặt nhất. Đó là sự thật hiển nhiên không ai chối cãi, bác bỏ cho nổi.

Nhưng ở đời có nhiều cái nằm ngoài tầm tay với của chúng ta. Có cái ta nhận thức ra, khổ nỗi lực bất tòng tâm. Cũng có cái nằm ngoài nhận thức của mỗi người. Ở đây rất cần được trao đổi cho sáng nhẽ, tất thảy đều nhằm thúc đẩy hoạt động của Hội theo yêu cầu mới, cao hơn nhiều. Vậy, đâu là điều bất cập lớn nhất, trầm trọng nhất trong tổ chức và hoạt động của Hội Nhà văn hiện giờ?

Tính hành chính, có lẽ là nặng nề và dễ thấy hơn cả. Chẳng hạn, việc tổ chức các chi hội. Đến giờ, Hội đã có nhiều chi hội trực thuộc theo ngành nghề (Chi hội Nhà văn Quân đội, Chi hội Nhà văn Công an), theo địa phương (Chi hội Nhà văn Thanh Hóa, Chi hội Nhà văn Hải Phòng, Chi hội Nhà văn Thừa Thiên- Huế...), và theo giới tính (Chi hội Nhà văn nữ). Sắp tới chắc sẽ còn ra đời nhiều chi hội nữa nếu nơi nào nghề nào có đủ điều kiện. Thú thật, tôi chưa thật thông lắm về cách tổ chức này. Mặt mạnh cơ bản của nó là dễ quản lý; dễ triển khai phương hướng hoạt động nghề nghiệp chung; dễ phát huy được kinh nghiệm của các nhà văn có nhiều điểm gần gũi về đời sống, về các vấn đề thường quan tâm, trăn trở. Nhưng theo tôi, không có cái gọi là “nhà văn quân đội”, “nhà văn công an”, “nhà văn xứ Thanh”, “nhà văn Vùng mỏ”... Chỉ có một danh hiệu duy nhất là “nhà văn Việt Nam”. Mặt đáng băn khoăn nhất là cách thức tổ chức này rất dễ tạo ra sự tương đồng ở các nhà văn trong chi hội- một trong những điều tối kỵ trong sáng tạo nghệ thuật. Nếu để ý một chút, chúng ta sẽ thấy đội ngũ các cây bút chủ lực hiện nay của Hội có quá trình sống và viết khá giống nhau. Hoặc họ được đào tạo ở miền Bắc, tham gia các cuộc chiến tranh, sau 1975 chuyên làm báo- viết văn, quản lý các hội địa phương. Số này đông nhất. Hoặc họ là người miền Nam tập kết ra Bắc, trở về Nam hoạt động tuyên truyền và văn nghệ trong kháng chiến chống Mỹ, sau ngày toàn thắng lại kiên trì theo đuổi nghề viết. Số này ít hơn. Ngoài ra, có thể kể đến các nhà văn từng có đóng góp cho trào lưu văn chương yêu nước và tiến bộ ở các đô thị miền Nam thời tạm chiếm, hiện vẫn đang ấp ủ những dự đồ sáng tác lớn. Các cây bút kế cận trưởng thành sau 1975 dồi dào sức trẻ và sức sáng tạo, tuy có đa dạng hơn, song cũng còn khá giống nhau về điểm xuất phát và cách thức hành nghề. Cách tổ chức mạng lưới chi hội vô tình càng làm gia tăng sự giống nhau giữa các nhà văn, cản trở tới sự sáng tạo đích thực. Nên chăng ta để các nhà văn thuộc các vùng lãnh thổ và các ngành nghề khác nhau có sự tương hợp về phương hướng tìm tòi nghệ thuật, hoặc về xu hướng thể tài, tự giác tìm đến với nhau, ban đầu là những nhóm bút dần dần trở thành các trào lưu văn chương? Thật lành mạnh cho sự phát triển biết bao, nếu trong sự chỉ đạo tập trung cao độ của Hội Nhà văn, ta lại được chứng kiến sự đua tài đua sức của các trào lưu sáng tạo đa dạng, như nhóm các nhà văn viết kịch bản, các nhà văn viết tiểu thuyết hình sự, các cây bút thơ thể nghiệm, các nhà văn viết tiểu thuyết sử thi, các nhà văn viết tiểu thuyết thế sự, vân vân và vân vân... Ở các nhóm, nếu có thể, sẽ có các nhà sáng tác cùng các nhà lý luận, phê bình của mình. Hội có thể tạo điều kiện thủ tục và kinh phí cho các nhóm bút ra báo nếu thật sự có nhu cầu và khả năng. Tôi xin nhấn mạnh là các nhóm bút chỉ được hoạt động trong tính thống nhất về tư tưởng và tổ chức của Hội Trung ương, mọi ý định ly tán đều phải sớm được phát hiện và ngăn chặn kịp thời. Điều lệ Hội, nhất là điều 3 quy định rõ: “Hội Nhà văn Việt Nam tự nguyện hoạt động dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và trong khuôn khổ phát luật, thể chế của Nhà nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam” sẽ là cơ sở pháp lý ràng buộc và ngăn ngừa mọi nguy cơ ly tán.

Đến đây, tôi xin bàn đến tính hành chính trong hoạt động của các Ban chuyên môn và Ban chức năng. Chỉ xin có ý kiến về Ban sáng tác- một ban chủ chốt và trong nhiệm kỳ vừa qua có lẽ đã làm được nhiều việc nhất như: tổ chức trại, đi tham quan và thực tế; xét giải văn chương hàng năm; xét đầu tư cho các nhà văn... Tuy nhiên, khách quan mà nói, Ban sáng tác chưa làm tốt một nhiệm vụ quan trọng (nếu không nói là quan trọng hàng đầu) là tổ chức đánh giá, rút kinh nghiệm, nêu bài học cho sáng tác từng năm và cả nhiệm kỳ. Có thể là do Ban biên chế ít người; cũng có thể do các nhà văn trong Ban ngoài công việc quản lý bất đắc dĩ ra, họ còn lo hoàn thành những dự đồ sáng tác của bản thân mình. Hoàn toàn cảm thông được với họ! Nhà văn tồn tại bằng tác phẩm, chứ đâu ở cương vị, chức tước này nọ. Trong khi bao công việc tổ chức sáng tác của cả Hội đổ lên đầu họ. Thời gian bị rút tỉa và xé vụn. Tôi nhớ tới trại viết mới đây ở Đà Lạt vào tháng 8 vừa rồi. Đây là trại phối hợp giữa Hội Nhà văn và Bộ Công an. Vậy mà Trưởng, Phó Ban sáng tác của Hội- nhà văn Ma Văn Kháng và nhà văn Nguyễn Trọng Tân ngày 7/8 bay ra và rồi ngày 22/8 lại bay vào. Vắng mặt các anh không được. Tự các anh thấy có gì đó áy náy không yên. Mà đi là mất thời giờ. Ở nhà còn túc tắc viết được, đi là chỉ có công việc của Hội. Đấy là chưa nói bao nhiêu chuyện xã giao, hoan hỉ kèm theo, không thể khước từ. Mệt mỏi lắm, cả sức lực lẫn tâm lực. Tôi nói vậy cho thấu tình thấu lý. Nhưng mong mỏi thì vẫn không thể đừng. Giá như các anh chọn được một cây bút lý luận, phê bình có trách nhiệm với Hội đảm đương công việc theo dõi, đánh giá sáng tác, rồi cứ định kỳ nửa năm, một năm lại có bản tổng kết, phân tích rõ những tác phẩm mới xuất hiện, đưa ra các xem xét, đánh giá của Ban, có thể mạnh dạn lý giải và đề ra giải pháp tháo gỡ vướng mắc, nhân rộng những bài học tích cực- thiết tưởng như vậy sẽ rất có ích cho hoạt động sáng tạo của từng nhà văn. Nếu được, Ban sáng tác đi vào từng vấn đề, từng đề tài, từng khu vực (như Tây Nguyên, đồng bằng sông Cửu Long...), có chấn chỉnh, có định hướng cụ thể, thiết thực. Đối với những hiện tượng văn chương có ý kiến khác nhau (như các bài phê bình của Trần Mạnh Hảo, cuốn sách “Chân dung và đối thoại” của Trần Đăng Khoa hay như tiểu thuyết “Cơ hội của Chúa”...), Ban sáng tác nên chủ động tổ chức các cuộc hội thảo, trên cơ sở đó, đưa ra nhưng bản tổng thuật kèm theo chủ kiến của mình, góp phần lành mạnh hóa công luận theo những chuẩn mực thẩm mỹ tiên tiến. Điều này chắc sẽ dần dần làm chấm dứt cái nghịch lý trớ trêu sau đây: hướng dẫn bạn đọc lại do một vài phóng viên văn hóa của một số tờ báo không chuyên về văn chương đảm trách. Đời sống văn chương do thế mà rối tung lên, chẳng biết lần tìm đầu mối từ đâu!

Vậy là tính hành chính nặng nề, hậu quả của thời kỳ bao cấp, của việc ít chú trọng tới đặc thù của nghề văn đã cản trở không nhỏ tới hoạt động sáng tạo của các nhà văn. Hệ quả tất yếu của nó là ý hướng tìm tòi, khả năng khám phá nghệ thuật của từng nhà văn không được khuyến khích phát huy. Đây có lẽ là điều cần quan tâm nhất. Hội sáng tạo mà không kích thích được mong muốn chiếm lĩnh những đỉnh cao nghệ thuật thường đi liền với những thử thách gieo neo lắm khi hiểm nguy, thì cần nghiêm chỉnh tự rà soát lại toàn bộ cơ cấu tổ chức và phương hướng hoạt động của mình. Chỉ xin nêu một ví dụ: chất lượng của tuần báo “Văn Nghệ”- cơ quan ngôn luận chính thức có truyền thống nhất của Hội. Một lần ở Hà Nội, vào đầu năm 1999 này, tôi có được tiếp kiến với một nhà văn giữ trọng trách ở báo “Văn Nghệ”. Ông buồn rầu phàn nàn về số lượng phát hành quá thấp của báo. Nguyên do vì đâu? Ban biên tập đã nhiều lần họp và cùng trao đổi về vấn đề cốt tử này, và sau đó không ít giải pháp đã được thực thi. Ta thấy "Văn Nghệ" có thêm những chuyên trang, chuyên mục mới thể hiện ro quyết tâm đổi mới của tòa soạn. Nhưng tôi nghĩ tinh thần chung của báo vẫn chưa thay đổi mấy. Ấy là chưa có những bài thật sự mới mẻ về cách nhìn nghệ thuật đặng đưa lại cách nhìn mới mẻ về đời sống đang vươn tới theo xu thế tốt đẹp, đầy triển vọng nhưng hiện vẫn còn ngổn ngang bao điều trớ trêu đến mức đau lòng. Hình như Báo rất ngại đụng chạm. Thôi thì cứ trơn tru, suôn sẻ để mà tồn tại trong yên ổn hơn là có vấn đề thêm đau đầu, rắc rối. Đã vậy thì cứ nói theo đúng câu chữ của Chỉ thị, Nghị quyết. Có vận dụng thì cũng suy tính đắn đo, thà chưa thật hay mà ngay đường thẳng lối còn hơn hay mà nổi cộm đến mức gai góc. Như thế sẽ dễ sinh chuyện rầy rà. Tôi nhớ tới nhận xét nửa đùa nửa thật của một nhà văn ở Đồng Nai: “Chỉ cần phấn đấu thêm một chút nữa thì báo Văn Nghệ của ta sẽ thành báo Nhân Dân đấy!”. Nếu đúng như vậy thì buồn quá. Một nhà văn khác đến từ Hà Nội bình luận thêm vào: “Đảng chỉ cần báo Nhân Dân là đủ. Văn Nghệ mà phấn đấu để thành báo Nhân Dân, thì Đảng chả cần đến làm gì, nó trở nên thừa, không chỉ vô bổ mà còn gây vướng víu, khó chịu”.

Tôi nghĩ là các bạn chỉ nói đùa, nhưng quả thật khả năng chấp nhận những cái mới lạ trong sáng tác và trong phê bình của Ban biên tập “Văn Nghệ” là rất có giới hạn. Một lần, bạn tôi, là hội viên Hội Nhà văn từ cuối những năm 80, gửi bài tới tuần báo của Hội mình, Ban biên tập đăng những chữa khá nhiều, cả ý tứ lẫn giọng điệu. Ôi! Sinh ra nghề biên tập là phải đẽo gọt thôi. Nhưng đẽo gọt đến mức ấy, thì làm sao cộng tác viên có đủ nhiệt tình và can đảm để tiếp tục giửi bài. Đành nhờ tới những tờ khác vậy. Cũng may, hiện giờ Hội ta ngoài “Văn Nghệ” ra, hàng tháng cũng còn có nhiều tờ báo và tạp chí khác để hội viên có thể chọn nơi mà ủy thác sinh mệnh những hài nhi tinh thần, vừa mới sinh ra, thường yếu ớt, rất cần bàn tay khéo léo, nhất là tấm lòng quảng đại của những bà đỡ khả kính. Bài viết của một hội viên mà còn bị cắt xén vậy, không biết bản thảo của các cộng tác viên khác số phận sẽ như thế nào! Không, tôi tuyệt nhiên không có ý nói đã là hội viên thì chỉ có viết đúng và hay, bài của hội viên thì Ban biên tập không có quyền thò bút vào sửa. Tôi chỉ muốn nói rằng, đã được công nhận là một nhà văn thì chúng ta bao giờ cũng phải chịu trách nhiệm rất cao với tất cả những con chữ mình viết ra- trách nhiệm trước bạn đọc đương thời và cả với bạn đọc mai hậu. Chúng từng được thai nghén dài lâu đầy ưu tư trong tâm trong trí chúng ta mà. Chúng hành hạ ta không cho ta sống yên ổn đến một giây cho nổi. Viết được ra, ta được giải tỏa, giải thoát. Vậy mà người khác đã cư xử với chúng cứ như không ấy, lạnh lùng và khắc nghiệt. Sao chúng tôi không nhức nhối cho được.

Vì vậy, theo ý tôi, muốn đổi mới báo “Văn Nghệ” trước nhất phải đổi mới tư duy của người biên tập báo. Họ phải biết đau trước nỗi đau của người sáng tạo vốn là đồng nghiệp thân thiết của họ, đâu có cách ngăn xa lạ. Điều cốt yếu là biên tập viên phải biết cảm thông, chia sẻ với những ý tưởng táo bạo, những cách thức thể hiện ý tưởng mới mẻ. Thế giới này tồn tại đến 90 % là theo cách nhìn của con người. Vấn đề là phải luyện cách nhìn sao cho đúng mà mới, nghĩa là phù hợp với sự biến đổi không ngừng của đời sống và của văn chương. Ôi! Thật khó khăn thay! Nhưng không thể có con đường nào khác thế, nếu như ai đó còn muốn góp tay góp sức thúc đẩy sự nghiệp sáng tạo của Hội đi xa về phía trước...

Cuối cùng, tôi xin có một đôi lời về việc đầu tư sáng tác. Một vài năm gần đây Nhà nước đã quan tâm tài trợ cho mọi hoạt động sáng tạo trong khoa học và nghệ thuật. Số tiền đầu tư chưa nhiều, nhưng đó thật sự là một khích lệ lớn. Ban chấp hành Hội ta đã gắng sử dụng những đồng tiền ít ỏi ấy sao cho công bằng và thiết thực. Riêng ở điểm ấy có lẽ không có điều tiếng gì lớn. Tôi chỉ muốn chúng ta phân biệt việc đầu tư cho sáng tác với việc giải quyết khó khăn của một số nhà văn, nhất là những nhà văn cao niên từng có cống hiến lớn lao cho nền văn chương cách mạng dân tộc trong những bước đầu tiên. Tấm lòng ơn sâu nghĩa nặng của mỗi chúng ta đối với những nhà văn mở đường từng gặp thiệt thòi do chiến tranh và cơ chế cũ gây ra- tấm lòng ấy là không thể diễn tả bằng lời cho hết được. Tuy nhiên, Hội ta nên mở quỹ riêng nhằm đền ơn đáp nghĩa như các ngành nghề khác trong xã hội đang làm. Quỹ này cần có quy chế trong đóng góp và trong chi phí. Không nên nhập nhằng với quỹ đầu tư cho sáng tác vốn chỉ dành cho những nhà văn hoặc đang thực hiện những ý đồ nghệ thuật dang dở hoặc đang có nhu cầu công bố tác phẩm. Được vậy thì bất cứ ai khi cầm đồng tiền của Nhà nước cấp trong tay cũng đều cảm thấy yên lòng. Mà Hội đồng đầu tư sáng tác của Hội cũng đỡ áy náy: sao nhận tiền rồi mà suốt cả năm trời đề cương vẫn chỉ là đề cương! Đối với một vài nhà văn tuổi già sức yếu, thậm chí ta không nên giục họ viết để có cơ sở nghiệm thu hợp đồng. Nếu số tiền không phải rút từ Quỹ đầu tư mà từ Quỹ đền ơn đáp nghĩa, thì mọi chuyện có lẽ đỡ phiền hà hơn nhiều.

Trên đây, tôi mạnh dạn trình bày một số điều bấy lâu suy nghĩ về tổ chức và hoạt động của Hội Nhà văn- một Hội sáng tạo danh giá mà tôi được vinh dự gia nhập vào đầu năm 1997. Chắc sẽ có người chê trách. Tôi chỉ mong phần đông các đồng nghiệp sẽ hiểu cho nỗi lòng của tôi. Tất cả chỉ vì tình yêu lớn của tôi luôn đặt nơi Hội của mình. Có tình yêu lớn nào lại không đi cùng một đòi hỏi cao đâu, thưa các anh các chị. Đó cũng là cơ sở khiến tôi vững tin vào triển vọng của nền văn chương dân tộc trước thềm thiên niên kỷ mới.

Đà Lạt, 6/9/99
P.Q.T
(133/03-2000)



 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • PHONG LÊBây giờ, sau 60 năm - với bao là biến động, phát triển theo gia tốc lớn của lịch sử trong thế kỷ XX - từ một nước còn bị nô lệ, rên xiết dưới hai tầng xiềng xích Pháp-Nhật đã vùng dậy làm một cuộc Cách mạng tháng Tám vĩ đại, rồi tiến hành hai cuộc kháng chiến trong suốt 30 năm, đi tới thống nhất và phát triển đất nước theo định hướng mới của chủ nghĩa xã hội, và đang triển khai một cuộc hội nhập lớn với nhân loại; - bây giờ, sau bao biến thiên ấy mà nhìn lại Đề cương về văn hoá Việt Nam năm 1943(1), quả không khó khăn, thậm chí là dễ thấy những mặt bất cập của Đề cương... trong nhìn nhận và đánh giá lịch sử dân tộc và văn hoá dân tộc, từ quá khứ đến hiện tại (ở thời điểm 1943); và nhìn rộng ra thế giới, trong cục diện sự phát triển của chủ nghĩa tư bản hiện đại; và gắn với nó, văn hoá, văn chương - học thuật cũng đang chuyển sang giai đoạn Hiện đại và Hậu hiện đại...

  • TƯƠNG LAITrung thực là phẩm chất hàng đầu của một người dám tự nhận mình là nhà khoa học. Mà thật ra, đâu chỉ nhà khoa học mới cần đến phẩm chất ấy, nhà chính trị, nhà kinh tế, nhà văn hoá... và bất cứ là "nhà" gì đi chăng nữa, trước hết phải là một con người biết tự trọng để không làm những việc khuất tất, không nói dối để cho mình phải hổ thẹn với chính mình. Đấy là trường hợp được vận dụng cho những người chưa bị đứt "dây thần kinh xấu hổ", chứ khi đã đứt mất cái đó rồi, thì sự cắn rứt lương tâm cũng không còn, lấy đâu ra sự tự phản tỉnh để mà còn biết xấu hổ. Mà trò đời, "đã trót thì phải trét", đã nói dối thì rồi cứ phải nói dối quanh, vì "dại rồi còn biết khôn làm sao đây".

  • MÃ GIANG LÂNVăn học tồn tại được nhiều khi phụ thuộc vào độc giả. Độc giả tiếp nhận tác phẩm như thế nào? Tiếp nhận và truyền đạt cho người khác. Có khi tiếp nhận rồi nhưng lại rất khó truyền đạt. Trường hợp này thường diễn ra với tác phẩm thơ. Thực ra tiếp nhận là một quá trình. Mỗi lần đọc là một lần tiếp nhận, phát hiện.

  • HÀ VĂN LƯỠNGTrong dòng chảy của văn học Nga thế kỷ XX, bộ phận văn học Nga ở hải ngoại chiếm một vị trí nhất định, tạo nên sự thống nhất, đa dạng của thế kỷ văn học này (bao gồm các mảng: văn học đầu thế kỷ, văn học thời kỳ Xô Viết, văn học Nga ở hải ngoại và văn học Nga hậu Xô Viết). Nhưng việc nhận chân những giá trị của mảng văn học này với tư cách là một bộ phận của văn học Nga thế kỷ XX thì dường như diễn ra quá chậm (mãi đến những thập niên 70, 80 trở đi của thế kỷ XX) và phức tạp, thậm chí có ý kiến đối lập nhau.

  • TRẦN THANH MẠILTS: Nhà văn Trần Thanh Mại (1908-1965) là người con xứ Huế. Tên ông đã được đặt cho một con đường ở đây và một con đường ở thành phố Hồ Chí Minh. Trần Thanh Mại toàn tập (ba tập) cũng đã được Nhà xuất bản Văn học phát hành năm 2004.Vừa rồi, nhà văn Hồng Diệu, trong dịp vào thành phố Hồ Chí Minh dự lễ kỷ niệm 100 năm ngày sinh nhà văn Trần Thanh Mại, đã tìm thấy trang di cảo lưu tại gia đình. Bài nghiên cứu dưới đây, do chính nhà văn Trần Thanh Mại viết tay, có nhiều chỗ cắt dán, thêm bớt, hoặc mờ. Nhà văn Hồng Diệu đã khôi phục lại bài viết, và gửi cho Sông Hương. Chúng tôi xin cám ơn nhà văn Hồng Diệu và trân trọng giới thiệu bài này cùng bạn đọc.S.H

  • TRẦN HUYỀN SÂMLý luận văn học và phê bình văn học là những khái niệm đã được xác định. Đó là hai thuật ngữ chỉ hai phân môn trong Khoa nghiên cứu văn học. Mỗi khi khái niệm đã được xác định, tức là chúng đã có đặc trưng riêng, phạm trù riêng. Và vì thế, mục đích và ý nghĩa của nó cũng rất riêng.

  • TRẦN THÁI HỌCCó lẽ chưa bao giờ các vấn đề cơ bản của lý luận văn nghệ lại được đưa lên diễn đàn một cách công khai và dân chủ như khi đất nước bước vào thời kỳ đổi mới. Vấn đề tuyên truyền trong nghệ thuật tuy chưa nêu thành một mục riêng để thảo luận, nhưng ở nhiều bài viết và hội nghị, chúng ta thấy vẫn thường được nhắc tới.

  • NGUYỄN TRỌNG TẠO...Một câu ngạn ngữ Pháp nói rằng: “Khen đúng là bạn, chê đúng là thầy”. Câu ngạn ngữ này đúng trong mọi trường hợp, và riêng với văn học, Hoài Thanh còn vận thêm rằng: “Khen đúng là bạn của nhà văn, chê đúng là thầy của nhà văn”...

  • BẢO CHI                 (lược thuật)Từ chiều 13 đến chiều 15-8-2003, Hội nghị Lý luận – Phê bình văn học (LL-PBVH) toàn quốc do Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức đã diễn ra tại khu nghỉ mát Tam Đảo có độ cao 1.000 mét và nhiệt độ lý tưởng 23oc. Đây là hội nghị nhìn lại công tác LL-PBVH 28 năm qua kể từ ngày đất nước thống nhất và sau 54 năm Hội nghị tranh luận Văn nghệ tại Việt Bắc (1949). Gần 200 nhà LL-PB, nhà văn, nhà thơ, nhà báo và khách mời họp mặt ở đây đã làm nóng lên chút đỉnh không khí ôn hoà của xứ lạnh triền miên...

  • ĐỖ LAI THÚY                Văn là người                                  (Buffon)Cuốn sách thứ hai của phê bình văn học Việt Nam, sau Phê bình và cảo luận (1933) của Thiếu Sơn, thuộc về Trần Thanh Mại (1911 - 1965): Trông dòng sông Vị (1936). Và, mặc dù đứng thứ hai, nhưng cuốn sách lại mở đầu cho một phương pháp phê bình văn học mới: phê bình tiểu sử học.

  • ĐẶNG TIẾNThuật ngữ Thi Học dùng ở đây để biểu đạt những kiến thức, suy nghĩ về Thơ, qua nhiều dạng thức và trong quá trình của nó. Chữ Pháp là Poétique, hiểu theo nghĩa hẹp và cổ điển, áp dụng chủ yếu vào văn vần. Dùng theo nghĩa rộng và hiện đại, theo quan điểm của Valéry, được Jakobson phát triển về sau, từ Poétique được dịch là Thi Pháp, chỉ chức năng thẩm mỹ của ngôn từ, và nới rộng ra những hệ thống ký hiệu khác, là lý thuyết về tính nghệ thuật nói chung. Thi Học, giới hạn trong phạm vi thi ca, là một bộ phận nhỏ của Thi Pháp.

  • TRẦN CAO SƠNTriều Nguyễn tồn tại gần 150 năm, kể từ khi Nguyễn Ánh lên ngôi hoàng đế với niên hiệu Gia Long - năm1802, tạo dựng một đế chế tập quyền trên toàn bộ lãnh thổ mà trước đó chưa hề có. Trải qua một thế kỷ rưỡi tồn tại, vinh hoa và tủi nhục, Triều đại Nguyễn là một thực thể cấu thành trong lịch sử Đại Việt. Những cái do triều đình Nhà Nguyễn mang lại cũng rất có ý nghĩa, đó là chấm dứt cuộc nội chiến, tranh giành quyền lực, xương trắng máu đào liên miên mấy thế kỷ, kiến tạo bộ máy quản lý hành chính trung ương tập quyền thống nhất mà Quang Trung - Nguyễn Huệ đã dày công vun đắp gây dựng trước đó. Dân tộc đã phải trải qua những năm tháng bi hùng với nhiều điều nuối tiếc, đáng bàn đáng nói ngay ở chính hôm nay. Song lịch sử là lịch sử, đó là một hiện thực khách quan.

  • TRẦN HUYỀN SÂMNếu nghệ thuật là một sự ngạc nhiên thì chính tiểu thuyết Thập giá giữa rừng sâu là sự minh định rõ nhất cho điều này. Tôi bàng hoàng nhận ra rằng, luận thuyết: con người cao quý và có tình hơn động vật đã không hoàn toàn đúng như lâu nay chúng ta vẫn tin tưởng một cách hồn nhiên. Con người có nguy cơ sa xuống hàng thú vật, thậm chí không bằng thú vật, nếu không ý thức được giá trị đích thực của Con Người với cái tên viết hoa của nó. Phải chăng, đây chính là lời nói tối hậu với con người, về con người của tác phẩm này?

  • HOÀNG NGỌC HIẾN           ...Từ những nguồn khác nhau: đạo đức học, mỹ học, triết học xã hội-chính trị, triết học xã hội-văn hoá... cảm hứng triết luận trong nghiên cứu, phê bình văn học là nỗ lực vượt lên trên những thành kiến và định kiến hẹp hòi trong sinh hoạt cũng như trong học thuật. Những thành kiến, định kiến này có khi lại được xem như những điều hiển nhiên. Mà đã là “hiển nhiên” thì khỏi phải bàn. Đây cũng là một thói quen khá phổ biến trong nhân loại. Cảm hứng triết luận trong nghiên cứu, phê bình có khi bắt nguồn từ suy nghĩ về chính những điều “hiển nhiên” như vậy...

  • THÁI DOÃN HIỂUVào đời, Lưu Quang Vũ bắt đầu làm thơ, viết truyện, rồi dừng lại nơi kịch. Ở thể loại nào, tài năng của Vũ cũng in dấu ấn đậm đà làm cho bạn đọc cả nước đi từ ngạc nhiên đến sửng sốt. Thơ Lưu Quang Vũ một thời được lớp trẻ say sưa chép và thuộc. Kịch Lưu Quang Vũ một thời gần như thống trị sân khấu cả nước.

  • TRẦN THANH ĐẠMTrong lịch sử nước ta cũng như nhiều nước khác, thời cổ - trung đại cũng như thời cận - hiện đại, mỗi khi một quốc gia, dân tộc bị xâm lược và chinh phục bởi các thế lực bên ngoài thì trong nước bao giờ cũng phát sinh hai lực lượng: một lực lượng tìm cách kháng cự lại nạn ngoại xâm và một lực lượng khác đứng ra hợp tác với kẻ ngoại xâm.

  • ĐỖ LAI THUÝLTS: Trong số tháng 5-2003, Sông Hương đã dành một số trang để anh em văn nghệ sĩ Huế "tưởng niệm" nhà văn Nguyễn Đình Thi vừa qua đời. Song, đấy chỉ mới là việc nghĩa.Là một cây đại thụ của nền văn nghệ cách mạng Việt Nam, Nguyễn Đình Thi toả bóng trên nhiều lĩnh vực nghệ thuật. Bằng chứng qua các bài viết về ông sau đây, Sông Hương xin trân trọng dành thêm trang để giới thiệu sâu hơn, có hệ thống hơn về Nguyễn Đình Thi cùng bạn đọc.

  • ĐẶNG TIẾN…Nguyễn Đình Thi quê quán Hà Nội, nhưng sinh tại Luang Prabang, Lào, ngày 20/12/1924. Từ 1931 theo gia đình về nước, học tại Hải Phòng, Hà Nội. Năm 1941 tham gia Thanh Niên cưú quốc, 1943 tham gia Văn hóa cứu quốc, bị Pháp bắt nhiều lần. Năm 1945, tham dự Quốc Dân Đại hội Tân Trào, vào Ủy ban Giải phóng Dân tộc. Năm 1946, là đại biểu Quốc hội trẻ nhất, làm Ủy viên Thường trực Quốc hội, khóa I…

  • HỒ THẾ HÀ          Hai mươi lăm năm thơ Huế (1975 - 2000) là một chặng đường không dài, nhưng nó diễn ra trong một bối cảnh lịch sử - thi ca đầy phức tạp. Cuộc sống hàng ngày đặt ra cho thể loại những yêu cầu mới, mà thơ ca phải làm tròn sứ mệnh cao cả với tư cách là một hoạt động nhận thức nhạy bén nhất. Những khó khăn là chuyện đương nhiên, nhưng cũng phải thấy rằng bí quyết sinh tồn của chính thể loại cũng không chịu bó tay. Hơn nữa, đã đặt ra yêu cầu thì chính cuộc sống cũng đã chuẩn bị những tiền đề để thực hiện. Nếu không, mối quan hệ này bị phá vỡ.

  • JAMES REEVESGần như điều mà tôi hoặc bất kỳ nhà văn nào khác có thể nói về một bài thơ đều giống nhau khi nêu ra ấn tượng về điều gì đấy được in trên giấy. Tôi muốn nhấn mạnh rằng đây không phải là toàn bộ sự thật. Việc in trên giấy thực ra là một bài thơ gián tiếp. Sẽ dễ dàng thấy điều này nếu chúng ta đang nói về hội hoạ hoặc điêu khắc.