ELENA PUCILLO TRUONG
Nỗi khắc khoải đã kéo dài từ bao lâu?
Có lẽ một năm. Quá nhiều. Lấy cớ đi vào toilette, hai tay tôi nắm chặt chiếc bồn rửa mặt trong nhà hàng như muốn bẻ làm đôi. Bao nhiêu bức bối đang dồn vào trong... bao nhiêu đau đớn... đau đến nỗi tôi không dám ngẩng mặt nhìn bóng mình trong gương.
Tiến sĩ Elena Pucillo Truong - Ảnh: internet
Nới lỏng chiếc cà vạt, tôi nhìn cái lỗ thoát trong bồn cầu, muốn biến mất theo đường ống như một bãi nước bọt, một thứ đồ phế thải. Thế đấy, tôi tự khinh bỉ mình và lòng căm hận nàng đang dâng lên cực điểm.
Làm sao mà tôi có thể rơi xuống thấp như thế... Đã bao nhiêu lần xảy ra rồi mà tôi vẫn cam lòng chấp nhận mà không phản kháng? Từ bao nhiêu tháng nụ cười và niềm vui của tôi biến mất và, nếu can đảm nhìn mình trong gương, chắc tôi sẽ thấy mặt mình tái nhợt, cái nhìn vô cảm với đôi mắt thật buồn.
Buổi tối, ngay trước lúc chuẩn bị ra khỏi nhà đã chẳng có gì tốt đẹp.
- Người ta mời mình ăn tối mà anh mang cái bản mặt như vậy ra trình diện à?
Đúng rồi! Được mời! Tôi cũng chẳng còn nhớ nổi mặt cái gã mà mình sắp phải gặp ở nhà hàng.
- “Anh sao vậy? Bộ quên rồi à! Chán anh quá! Ông kiến trúc sư thật là tử tế...”
Không quên! Nhưng sự thật là tôi chẳng quan tâm. Hoàn toàn không muốn rời khỏi nhà nhưng tôi đã lỡ nhận lời... Xưa nay tôi luôn phải ép mình chấp nhận mọi chuyện...
Nhớ lại thời gian đầu, ngày tôi và nàng mới quen nhau. Giờ ngẫm lại mới rõ là giữa chúng tôi chưa bao giờ có tình yêu. Nếu có, thì đó chỉ là một chiến thuật được tính toán chi ly nhằm chống đối và làm tiêu hủy sự hiện hữu của tôi. Ai cũng bảo là tôi cần phải lập gia đình, rồi có con, quan tâm đến sự thăng tiến trong công việc... tôi phải làm thế này, tôi phải làm thế kia... và chẳng ai bận tâm là tôi muốn gì, những ước muốn của tôi là gì.
Điều quan trọng theo họ là tôi “cần” hòa nhập vào xã hội, thích ứng một vai trò với tất cả bổn phận và trách nhiệm, hòa mình vào dòng chảy muôn đời của sự việc... Mọi ứng xử đều phải nghĩ đến tính hiệu quả, tạo được sự kính trọng... và tôi đã sống như một con rối, nếu cách đó có thể gọi là cuộc sống. Sau đó những sợi dây làm chuyển động hình nộm đã chuyển qua tay nàng.
Mới đầu tôi cũng vui lòng. Có lẽ đó là những tia chớp cuối của niềm vui thích. Thế rồi chúng tôi lấy nhau, có lẽ cưới vợ cho người khác hơn là cho chính mình nên chỉ sau mấy bữa là đã bắt đầu cho sự tàn phá hằng ngày. Chưa bao giờ có một cử chỉ âu yếm, một lời nói ngọt ngào, một sự quan tâm đến tôi... ngay cả những phút “ấy” cũng chẳng có chút đắm say nào. Chúng tôi sống bên nhau... và chỉ có thế.
Lúc nầy tôi có thể nói rằng tôi đã cố tìm cách sống sót mà không biết là đã làm cho tình trạng mỗi ngày một xấu thêm. Còn em thì sống một cuộc đời mà trong đó không có tôi tham dự. Tôi như một vật chưng bày trên chiếc bàn đêm, mà em chẳng cần quan tâm là lâu lâu cũng cần phủi bụi. Em mặc sức sống theo cái vẻ ngoài, không hề có giá trị thực, tha hồ mua sắm với đồng tiền mà tôi kiếm được - chỉ có tiền của tôi là em không khinh bỉ - em tha hồ gặp bạn, đi Spa, làm tất cả mọi điều để mọi người biết em thuộc tầng lớp thượng lưu, thuộc thế giới mà trong đó mọi thứ đều xinh đẹp, hiệu quả, hoàn toàn. Và không cần con cái, ngay sau đám cưới em đã bảo là em chẳng muốn có con. Thoạt đầu tôi cứ ngỡ là em tính vậy vì muốn ở bên cạnh để giúp tôi trong công việc... nhưng đâu phải thế! Làm gì có chuyện đó! Chúng mình không chia sẻ nổi chiếc bàn con để cùng ăn sáng kia mà! Đó là chưa nói đến chuyện ngủ chung. Chỉ vài tuần sau đám cưới em đã qua ngủ trong phòng khách, sự hiện diện của tôi lấn chỗ và làm em khó chịu nhưng em nói ngủ nơi khác là vì tôi, em hay trở mình khi ngủ nên sợ làm tôi thức giấc. Ôi, sao tôi ngu vậy!
Giờ đây tôi đang nói chuyện một mình trong phòng xí và không đủ can đảm để nhìn vào mặt cái thằng người ngu xuẩn kia trong mặt kính! Một mình. Lúc nào cũng đơn độc. Mẹ tôi, bà con, các đồng nghiệp... tất cả mọi người đều giả tảng và coi như mọi việc đều ổn. Nhưng dần dà tôi phải thu hẹp không gian sống của mình, tránh những tiếp xúc. Tôi tự cô lập để mọi người đừng biết chuyện mình... lúc nào cũng cảm giác như mình là kẻ có tội, dù tôi chẳng có tội tình gì!
Nhưng có lẽ tôi là kẻ có tội: có tội với chính mình. Vì đã để người khác xử tệ với mình như thế, vì đã thụ động chờ đợi, mất rất nhiều thời gian. Chỉ đến bây giờ tôi mới hiểu và chính cái nhìn của em đã mở mắt cho tôi.
Viện một cái cớ tôi đã rời bàn ăn mà tôi, em và gã kiến trúc sư đang ngồi. Tôi không thể chịu nổi, ngồi giữa em và gã, càng lúc càng nhận rõ các cử chỉ đồng lõa của hai người, cách vô tình chạm tay lúc cụng ly, rót rượu cho nhau một cách hữu ý mà lúc đầu tôi cứ tưởng đó chỉ là một người xa lạ. Tôi ngồi đó mà gã vẫn tỉnh bơ tán tỉnh em; còn em thì cười, vui như dự hội. Ôi, sao em có thể nhỏng nhẻo với gã nhiều vậy! Mà lúc nhìn tôi thì tia nhìn lạnh giá: bao nhiêu sự khinh bỉ hiện rõ trong mắt em!
Trong ánh mắt đó có lẽ đôi khi cũng có một chút xót thương? Nhưng mà giờ đây tôi không còn quan tâm nữa. Trước đây tôi nghĩ cần phải xây dựng lại những quan hệ, nhưng bây giờ tôi cần phải chiến đấu để sinh tồn!
Đủ rồi! Tôi, giữa hai người! Chuyện này đã kéo dài từ bao lâu? Có lẽ cũng không phải là chuyện duy nhất, nhưng là chuyện cuối trong rất nhiều chuyện. Tôi đã từng nhắm mắt trước sự thật hiển nhiên. Nhưng điều làm tôi đau nhất không phải là sự phản bội mà chính là sự thiếu tình, cạn nghĩa! Sống bên em lúc nào tôi cũng thấy mình bị hất hủi và khinh rẻ.
Nông nỗi này, may là mình chẳng có con! Đã tránh được một niềm đau khác!
Tôi cúi xuống bồn rửa mặt và mở nước cho chảy qua các kẽ tay. Tôi vốc nước lên rửa đôi mắt đỏ rồi ngẩng đầu lên. Khuôn mặt tôi chẳng tốt hơn lúc trước là bao nhưng ít ra tôi cũng thấy có chút ánh sáng trong tròng mắt. Bây giờ tôi phải quay lại bàn ăn để làm người khách vô hình giữa họ. Tôi ngồi xuống bàn trong khi họ vẫn tiếp tục nói. Chẳng ai thèm hỏi gì: Tôi chỉ là một bóng ma và họ chẳng cần quan tâm.
Rồi cuộc tra tấn cuối cùng cũng chấm dứt. Gã kiến trúc sư trả tiền, bỏ lại một ít tiền boa rồi chúng tôi bước ra ngoài. Chỉ là hình thức nhưng tay của em nằm rất lâu trong lòng bàn tay gã. Sau đó là sự lạnh lùng và yên lặng trong taxi. Về đến nhà em lại oang oang, lặp đi lặp lại là vừa trải qua một buổi tối thật vui, hắn ta điệu nghệ và dễ thương... như thể tôi chẳng là cái quái gì...
Em chưa bao giờ bận tâm đến những gì đang có trong đầu tôi và không thể tưởng tượng những điều tôi nghĩ.
*
Sáng hôm sau, tôi uống cà phê như thường lệ và bước ra khỏi nhà. Nhưng lần này tôi không đi đến phòng mạch của mình. Tôi đã gọi điện trước cho cô y tá và báo là mình bận việc vài hôm. Có nhiều việc quan trọng phải làm.
Tôi ngồi đợi trên xe hơi, đậu không xa nhà lắm. Sau chừng một giờ, đây, em ăn mặc lịch sự, hớn hở bước ra khỏi nhà rồi leo lên một chiếc taxi. Tôi chạy theo đến một khách sạn sang trọng, nằm cách xa khu trung tâm. Dù loay hoay tìm chỗ đậu xe nhưng tôi cũng kịp nhìn thấy hai người, ôm nhau, khi bước vào thang máy. Tôi ngồi đợi trên xe hơi. Khoảng đầu giờ chiều cả hai rời khách sạn, họ ôm nhau lần cuối rồi hắn ta mở cửa taxi cho em. Tôi ngồi nhìn cảnh đó mà chẳng cảm thấy gì... Người ta đâu có thể ghen với một người mà mình chỉ có căm ghét và hận thù.
Hai, ba lần, vẫn là khách sạn đó.
Gần văn phòng của gã, buổi chiều hay buổi tối.
Chiều nay tôi ngồi đợi một lát trên xe hơi rồi sau đó cầm chiếc cặp hồ sơ, tiến đến quầy lễ tân.
- “Xin lỗi, tôi phải giao gấp giấy tờ quan trọng này cho ngài kiến trúc sư... Tôi từ văn phòng của ông ấy đến và cần phải lấy chữ ký của ông ta. Rất gấp...”.
Gã nhân viên lễ tân nhìn tôi lắc đầu:
- “Rất tiếc là tôi không thể để ông lên được, ông phải chờ tôi gọi lên phòng trước đã!”
Vài phút trôi qua. Chuông đổ liên tục nhưng không có trả lời.
- “Việc rất gấp” tôi giải thích. “Tôi chỉ lên một phút để ông ta ký rồi cầm ngay về văn phòng”.
- “Ông đợi đã. Tôi sẽ gọi nhân viên dẫn ông lên phòng. Nhưng tôi sẽ tiếp tục gọi lên đó”.
Chúng tôi đi lên tầng ba. Gã nhân viên lịch sự gõ cửa, không quan tâm lắm đến tấm bảng “Do not disturb” gắn trên nắm đấm.
Tôi chờ vài phút... Gã kiến trúc sư mở hé cửa với vẻ mặt khó chịu.
- Chuyện gì vậy? Giấy tờ gì mà tôi phải ký? Nhưng... ông... ông đến đây làm gì?”
Lách gã nhân viên, tôi đẩy gã kiến trúc sư vào trong, mặt gã lúc này tái mét và hốt hoảng.
- Tôi đây. Các người đừng có bận tâm. Tôi có mang giấy tờ để ký... đúng rồi, nhưng không phải ông ký đâu, thưa ngài kiến trúc sư, vì người phải ký là bà này”. Tôi vừa nói vừa nhìn lên giường, mặt cô ta đỏ như trái gấc và bối rối quấn chiếc drap để che đậy thân thể lõa lồ. “Đây, viết đây, mời cô ký ngay vào đơn ly dị. Tôi phải chuyển ngay cho luật sư và hai người này sẽ làm nhân chứng. Từ lúc này đối với tôi cô không còn hiện hữu nữa. Nhưng thật ra, với cô, xưa nay tôi cũng đâu có hiện hữu.”
Vẫn chưa hoàn hồn, cô ta như vẫn chưa hiểu chuyện, câm miệng, như thể đang nghĩ cách đối phó có lợi nhất...
Nhưng làm gì còn khả năng nào khác.
Lúc ký vào hồ sơ cô ta nhìn tôi bằng ánh mắt căm hờn.
Còn tôi, như vừa giật phắt được con bạch tuộc nằm trong trái tim mình...
Trương Văn Dân dịch
(SDB8/3-13)
Tải mã QRCode
LTS: Mario Bendetti sinh tại Paso de los Toros (Tacuarembó ) ngày 14 tháng 9 năm 1920. Ông theo học tại trường tiểu học tiếng Đức ở Montevideo và trường trung học Miranda, đã từng làm nhiều nghề như nhân viên bán hàng, tốc kí, kế toán, viên chức nhà nước và phóng viên. Từ năm 1938 đến 1941 ông sống chủ yếu ở Buenos Aires . Năm 1945, khi trở về Montevideo, ông viết bài cho tuần báo nổi tiếng Marcha, qua đó trở thành phóng viên bên cạnh Carlos Quijano và rồi trở thành một thành viên trong ê-kíp của ông này cho tới tận năm 1974 khi tuần báo ngừng xuất bản.Năm 1973, vì lí do chính trị, ông phải rời bỏ tổ quốc,bắt đầu cuộc sống lưu vong kéo dài mười hai năm ở những quốc gia: Ác-hen-ti- na và Tây Ban Nha. Quãng thời gian này đã để lại những dấu ấn vô cùng sâu sắc trong cuộc đời ông cũng như trong văn nghiệp.
YUKIO MISHIMA (Nhật Bản)YUKIO MISHIMA tên thật là HIRAOKA KIMITAKE (1925-1970). Sinh tại Tokyo.Tốt nghiệp Đại học Tổng hợp Tokyo . Nhà văn, kịch tác gia, đạo diễn sân khấu và điện ảnh, diễn viên.Năm 16 tuổi đã xuất bản truyện vừa lãng mạn Khu rừng nở hoa. Tiểu thuyết Lời thú tội của chiếc mặt nạ ra năm 1949 đã khẳng định tên tuổi của nhà văn trẻ tài năng và trở thành tác phẩm được đánh giá là kinh điển của nền văn học Nhật Bản.
KOMASHU SAKIO (Nhật Bản)Sinh 28/1/1931 tại Osaka (Nhật Bản). Nhà văn chuyên viết truyện khoa học giả tưởng nổi tiếng của Nhật Bản.Tốt nghiệp Đại học Tổng hợp Kyoto , chuyên ngành Văn học Italia.Từ năm 1957 là phóng viên Đài Phát thanh Osaka và viết cho một số các báo. Năm 1961 chiến thắng trong cuộc thi truyện ngắn giả tưởng xuất sắc do tạp chí "SF Magasines" tổ chức.Tác phẩm của Komatsu đã được dịch ra rất nhiều thứ tiếng trên thế giới.
S. MROZEK (Ba Lan)Có lần tôi bắt gặp một con chó ác bụng đang rượt đuổi một con mèo. Bởi tôi là người yêu động vật nên tôi bèn vớ ngay một cục đá to sụ quẳng vào con chó khiến nó ngã lăn quay, nằm đứ đừ một hồi lâu. Chú mèo nhỏ không nhà, con vật bé xíu nom mệt phờ râu. Không chút do dự - tôi cho nó nương nhờ. Đây quả là một con mèo đẹp mã, lông mịn màng, mắt long lanh. Tôi đem nhốt nó vào trong nhà, đoạn bỏ đi chơi bời trác táng.
KITA MORIO (Nhật Bản)Kita Morio (sinh năm 1927) là nhà văn thuộc thế hệ hậu chiến của Nhật Bản. Tốt nghiệp Đại học Y. Năm 1960 được trao giải thưởng mang tên Akutagawa với truyện ngắn Trong bóng tối đêm, cốt truyện xảy ra trong một bệnh viện tâm thần ở Đức thời kì Chiến Tranh Thế Giới thứ II. Nổi tiếng với các tác phẩm giả tưởng khoa học và chống chiến tranh.
SINCLAIR LEWISLGT: SINCLAIR LEWIS (1885 - 1951, giải thưởng Nobel 1930)Ông là tiểu thuyết gia, người viết truyện ngắn có tiếng và nhà viết phê bình có uy tín ở Mỹ.
BRUNO LESSINGLGT: Bruno Lessing (1870-1940) sinh tại New York, Mỹ. Tên thật của ông là Rudolp Block nhưng ông nổi tiếng với tư cách là nhà văn chuyên viết truyện ngắn dưới bút danh Bruno Lessing. Ông là phóng viên và sau đó là biên tập viên cho nhiều tờ báo. Mô tả của Lessing về cuộc sống của người Do Thái ở New York được đánh giá cao. Truyện dưới đây được dẫn dắt một cách hấp dẫn, lý thú, làm nổi bật mối quan hệ giữa hai thế hệ: cha và con, vấn đề nhập cư, đồng hóa hay giữ bản sắc văn hóa với một giọng điệu dí dỏm.
JUAN JOSÉ ARREOLA (Sinh 1918, Nhà văn Mêhicô)LGT: Arreola là một nhà cách tân lớn về truyện kể. Là một người tự học tài năng, ông sở đắc một nền văn hoá rộng lớn, cũng như trải qua nhiều nghề khác nhau để kiếm sống. Arreola chủ yếu sáng tác những truyện kể ngắn, cô đúc, mỉa mai, hay bí ẩn, ưa thích cái nghịch lý và ông là một trong những bậc thầy của hình thức truyện ngắn này. Ba tuyển tập truyện ngắn của ông là Varia Invencion (1049), Confabulario (1952), Confabulario Définitivo (1087).
KAWABATA YASUNARI LGT: KAWABATA YASUNARI (1899 - 1972) là nhà văn đầu tiên của Nhật Bản đoạt giải thưởng Nobel văn chương (1968). Ông nổi tiếng thế giới với những tiểu thuyết như: Xứ Tuyết (1935 - 1947), Ngàn cánh hạc (1949), Tiếng rền của núi (1950), Người đẹp say ngủ (1961), Cố đô (1962)...
MATVEEVA ANNALGT: MATVEEVA ANNA (Sinh 1975) là một nhà văn nữ trẻ của văn học Nga đương đại tài năng đầy hứa hẹn. Đã xuất bản một số tập truyện ngắn. Truyện ngắn của cô đã được đăng trong các tạp chí lớn của Nga như Thế giới mới, Tháng Mười. Văn xuôi của cô hóm hỉnh, thể hiện sự tò mò sắc sảo trước cuộc sống và con người. Tác phẩm của cô được xem như thể hiện một số sắc thái và đặc điểm của văn xuôi hậu hiện đại Nga hiện nay. Xin trân trọng giới thiệu truyện ngắn “Con chó” dưới đây của nữ văn sĩ qua bản dịch của nữ dịch giả Đào Tuấn Ảnh.
YVELINE FÉRAYLTS: Monsieur le paresseux là cuốn tiểu thuyết lịch sử dày gần 300 trang của nữ văn sỹ Pháp Yveline Féray viết về Đại danh y Việt Nam Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác, do Nhà xuất bản Robert Laffont ở Paris ấn hành năm 2000. Trước đó, năm 1989 nữ văn sỹ này đã cho xuất bản ở Pháp cuốn tiểu thuyết dày 1000 trang Dix mille printemps, viết về Nguyễn Trãi - nhà chính trị, quân sự lỗi lạc; nhà thơ lớn của Việt Nam ở thế kỷ XV.
MARSEL SALIMOV (LB NGA)Đất nước ta quá giàu! Vì thế tôi nảy ra ý định muốn cuỗm một thứ gì đó. Những tên kẻ cắp ngày nay chả giống như trước đây. Chúng không thèm để mắt đến những thứ lặt vặt. Cả một đoàn tàu bỗng dưng biến mất tăm! Những nhà máy không thể di dời được, thế nhưng người ta lại nghĩ ra kế chiếm đoạt chúng. Nghe đồn nay mai người ta sẽ bắt đầu chia chác cả đất lẫn nước!
AKILE CAMPANILE(Nhà văn Italia)LTS: Số Tết này, TCSH chọn một truyện ngắn hài hước của một nhà văn Ý, có nhan đề “Ngón nghề kinh doanh”, qua bản dịch của dịch giả nổi tiếng Lê Sơn, để bạn đọc có dịp thư giãn trong dịp đầu Xuân.
HERMANN HESSE Tương truyền thi nhân người Tàu tên Han Fook thuở thiếu thời chỉ thao thức với một khát khao kỳ diệu là muốn học hết mọi điều và tự rèn luyện mình đến hoàn hảo trong tất cả các môn liên quan đến nghệ thuật thi ca.
OLGA TOKARCZUK (Nữ nhà văn Ba Lan)LGT: Nữ văn sĩ Ba Lan Olga Tokarczuk sinh năm 1962 tại Sulechow, Ba Lan. Bà là nhà văn “hậu hiện đại” và “nữ quyền”. Năm 1979 những truyện ngắn đầu tay của bà được đăng tải trên Tạp chí Thanh niên, năm 1989 những bài thơ đầu tay được in trong các tạp chí “Rađa” và “Đời sống văn học”.
NADINE GORDIMER ( Phi), Giải Nobel 1991LGT: Nữ văn sĩ Nadine Gordimer sinh năm 1923 tại Phi. Bà cho in truyện ngắn đầu tay năm 15 tuổi và tiếp tục nghề văn khi còn là sinh viên Đại học Wirwatersrand. Có thời kỳ sách của bà bị chế độ phân biệt chủng tộc Phi cấm đoán. N.Gordimer được trao tặng nhiều giải thưởng văn học, trong đó có giải Nobel văn chương năm 1991.
OLGA TOKARCZUKLGT: Trong số tháng 3 – 2007 (217), Sông Hương đã giới thiệu tới bạn đọc truyện ngắn “Người đàn bà xấu nhất hành tinh” của OLGA TOKARCZUK, một nữ văn sĩ thuộc dòng văn học nữ “hậu hiện đại Ba Lan”. Số báo này, Sông Hương xin giới thiệu tiếp truyện ngắn “Vũ nữ”. Đây là một truyện ngắn độc đáo dựa trên một leimotic “cuộc đối thoại vô hình” giữa người con gái và người cha, láy đi láy lại đến 6 lần, thể hiện cuộc chiến đấu âm thầm dữ dội, tự khẳng định mình trong nghệ thuật, chống lại sức mạnh ám ảnh của mặc cảm “bất tài”.
BERNARD MALAMUDLGT: Bernard Malamud sinh năm 1914 tại Brooklyn, New York, lớn lên trong thời kỳ Đại Khủng hoảng Kinh tế, là người Nga gốc Do Thái trong một gia đình bán tạp hoá. Ông đã xuất bản nhiều tiểu thuyết, truyện ngắn và được nhận nhiều giải thưởng văn học.
RADOI RALIN (Bungari)LGT: Đây là một truyện có ý vị sâu xa với các môtíp sự cám dỗ của quyền lực, “sự đồng loã ngây thơ” với tội ác, sự tự nhận thức và tự trừng phạt. Nhưng trên hết là sự vạch trần và tố cáo sự bịp bợm quỷ kế của giới quyền lực. Đây là một truyện ngụ ngôn mới đặc sắc. Xin trân trọng giới thiệu với bạn đọc.
ZACE HAMMERTON (Anh quốc)LGT: Truyện dựng chân dung của một kẻ “Sính khiếu nại” “một cách hài hước, bố của John Peters có “Thú đam mê sưu tập tem”. Cách dẫn chuyện tài tình ở cái chi tiết sự ham mê của anh với một loại tem đặc biệt không đục lỗ chiếu ứng với cái kết bất ngờ của truyện “Có của rơi vào tay mà để vuột mất”. Mời bạn đọc thưởng thức.