Trước khi màn hạ

16:43 04/05/2013

ELENA PUCILLO TRUONG

Nỗi khắc khoải đã kéo dài từ bao lâu?
Có lẽ một năm. Quá nhiều. Lấy cớ đi vào toilette, hai tay tôi nắm chặt chiếc bồn rửa mặt trong nhà hàng như muốn bẻ làm đôi. Bao nhiêu bức bối đang dồn vào trong... bao nhiêu đau đớn... đau đến nỗi tôi không dám ngẩng mặt nhìn bóng mình trong gương.

Tiến sĩ Elena Pucillo Truong - Ảnh: internet

Nới lỏng chiếc cà vạt, tôi nhìn cái lỗ thoát trong bồn cầu, muốn biến mất theo đường ống như một bãi nước bọt, một thứ đồ phế thải. Thế đấy, tôi tự khinh bỉ mình và lòng căm hận nàng đang dâng lên cực điểm.

Làm sao mà tôi có thể rơi xuống thấp như thế... Đã bao nhiêu lần xảy ra rồi mà tôi vẫn cam lòng chấp nhận mà không phản kháng? Từ bao nhiêu tháng nụ cười và niềm vui của tôi biến mất và, nếu can đảm nhìn mình trong gương, chắc tôi sẽ thấy mặt mình tái nhợt, cái nhìn vô cảm với đôi mắt thật buồn.

Buổi tối, ngay trước lúc chuẩn bị ra khỏi nhà đã chẳng có gì tốt đẹp.

- Người ta mời mình ăn tối mà anh mang cái bản mặt như vậy ra trình diện à?

Đúng rồi! Được mời! Tôi cũng chẳng còn nhớ nổi mặt cái gã mà mình sắp phải gặp ở nhà hàng.

- “Anh sao vậy? Bộ quên rồi à! Chán anh quá! Ông kiến trúc sư thật là tử tế...”

Không quên! Nhưng sự thật là tôi chẳng quan tâm. Hoàn toàn không muốn rời khỏi nhà nhưng tôi đã lỡ nhận lời... Xưa nay tôi luôn phải ép mình chấp nhận mọi chuyện...

Nhớ lại thời gian đầu, ngày tôi và nàng mới quen nhau. Giờ ngẫm lại mới rõ là giữa chúng tôi chưa bao giờ có tình yêu. Nếu có, thì đó chỉ là một chiến thuật được tính toán chi ly nhằm chống đối và làm tiêu hủy sự hiện hữu của tôi. Ai cũng bảo là tôi cần phải lập gia đình, rồi có con, quan tâm đến sự thăng tiến trong công việc... tôi phải làm thế này, tôi phải làm thế kia... và chẳng ai bận tâm là tôi muốn gì, những ước muốn của tôi là gì.

Điều quan trọng theo họ là tôi “cần” hòa nhập vào xã hội, thích ứng một vai trò với tất cả bổn phận và trách nhiệm, hòa mình vào dòng chảy muôn đời của sự việc... Mọi ứng xử đều phải nghĩ đến tính hiệu quả, tạo được sự kính trọng... và tôi đã sống như một con rối, nếu cách đó có thể gọi là cuộc sống. Sau đó những sợi dây làm chuyển động hình nộm đã chuyển qua tay nàng.

Mới đầu tôi cũng vui lòng. Có lẽ đó là những tia chớp cuối của niềm vui thích. Thế rồi chúng tôi lấy nhau, có lẽ cưới vợ cho người khác hơn là cho chính mình nên chỉ sau mấy bữa là đã bắt đầu cho sự tàn phá hằng ngày. Chưa bao giờ có một cử chỉ âu yếm, một lời nói ngọt ngào, một sự quan tâm đến tôi... ngay cả những phút “ấy” cũng chẳng có chút đắm say nào. Chúng tôi sống bên nhau... và chỉ có thế.

Lúc nầy tôi có thể nói rằng tôi đã cố tìm cách sống sót mà không biết là đã làm cho tình trạng mỗi ngày một xấu thêm. Còn em thì sống một cuộc đời mà trong đó không có tôi tham dự. Tôi như một vật chưng bày trên chiếc bàn đêm, mà em chẳng cần quan tâm là lâu lâu cũng cần phủi bụi. Em mặc sức sống theo cái vẻ ngoài, không hề có giá trị thực, tha hồ mua sắm với đồng tiền mà tôi kiếm được - chỉ có tiền của tôi là em không khinh bỉ - em tha hồ gặp bạn, đi Spa, làm tất cả mọi điều để mọi người biết em thuộc tầng lớp thượng lưu, thuộc thế giới mà trong đó mọi thứ đều xinh đẹp, hiệu quả, hoàn toàn. Và không cần con cái, ngay sau đám cưới em đã bảo là em chẳng muốn có con. Thoạt đầu tôi cứ ngỡ là em tính vậy vì muốn ở bên cạnh để giúp tôi trong công việc... nhưng đâu phải thế! Làm gì có chuyện đó! Chúng mình không chia sẻ nổi chiếc bàn con để cùng ăn sáng kia mà! Đó là chưa nói đến chuyện ngủ chung. Chỉ vài tuần sau đám cưới em đã qua ngủ trong phòng khách, sự hiện diện của tôi lấn chỗ và làm em khó chịu nhưng em nói ngủ nơi khác là vì tôi, em hay trở mình khi ngủ nên sợ làm tôi thức giấc. Ôi, sao tôi ngu vậy!

Giờ đây tôi đang nói chuyện một mình trong phòng xí và không đủ can đảm để nhìn vào mặt cái thằng người ngu xuẩn kia trong mặt kính! Một mình. Lúc nào cũng đơn độc. Mẹ tôi, bà con, các đồng nghiệp... tất cả mọi người đều giả tảng và coi như mọi việc đều ổn. Nhưng dần dà tôi phải thu hẹp không gian sống của mình, tránh những tiếp xúc. Tôi tự cô lập để mọi người đừng biết chuyện mình... lúc nào cũng cảm giác như mình là kẻ có tội, dù tôi chẳng có tội tình gì!

Nhưng có lẽ tôi là kẻ có tội: có tội với chính mình. Vì đã để người khác xử tệ với mình như thế, vì đã thụ động chờ đợi, mất rất nhiều thời gian. Chỉ đến bây giờ tôi mới hiểu và chính cái nhìn của em đã mở mắt cho tôi.

Viện một cái cớ tôi đã rời bàn ăn mà tôi, em và gã kiến trúc sư đang ngồi. Tôi không thể chịu nổi, ngồi giữa em và gã, càng lúc càng nhận rõ các cử chỉ đồng lõa của hai người, cách vô tình chạm tay lúc cụng ly, rót rượu cho nhau một cách hữu ý mà lúc đầu tôi cứ tưởng đó chỉ là một người xa lạ. Tôi ngồi đó mà gã vẫn tỉnh bơ tán tỉnh em; còn em thì cười, vui như dự hội. Ôi, sao em có thể nhỏng nhẻo với gã nhiều vậy! Mà lúc nhìn tôi thì tia nhìn lạnh giá: bao nhiêu sự khinh bỉ hiện rõ trong mắt em!

Trong ánh mắt đó có lẽ đôi khi cũng có một chút xót thương? Nhưng mà giờ đây tôi không còn quan tâm nữa. Trước đây tôi nghĩ cần phải xây dựng lại những quan hệ, nhưng bây giờ tôi cần phải chiến đấu để sinh tồn!

Đủ rồi! Tôi, giữa hai người! Chuyện này đã kéo dài từ bao lâu? Có lẽ cũng không phải là chuyện duy nhất, nhưng là chuyện cuối trong rất nhiều chuyện. Tôi đã từng nhắm mắt trước sự thật hiển nhiên. Nhưng điều làm tôi đau nhất không phải là sự phản bội mà chính là sự thiếu tình, cạn nghĩa! Sống bên em lúc nào tôi cũng thấy mình bị hất hủi và khinh rẻ.

Nông nỗi này, may là mình chẳng có con! Đã tránh được một niềm đau khác!

Tôi cúi xuống bồn rửa mặt và mở nước cho chảy qua các kẽ tay. Tôi vốc nước lên rửa đôi mắt đỏ rồi ngẩng đầu lên. Khuôn mặt tôi chẳng tốt hơn lúc trước là bao nhưng ít ra tôi cũng thấy có chút ánh sáng trong tròng mắt. Bây giờ tôi phải quay lại bàn ăn để làm người khách vô hình giữa họ. Tôi ngồi xuống bàn trong khi họ vẫn tiếp tục nói. Chẳng ai thèm hỏi gì: Tôi chỉ là một bóng ma và họ chẳng cần quan tâm.

Rồi cuộc tra tấn cuối cùng cũng chấm dứt. Gã kiến trúc sư trả tiền, bỏ lại một ít tiền boa rồi chúng tôi bước ra ngoài. Chỉ là hình thức nhưng tay của em nằm rất lâu trong lòng bàn tay gã. Sau đó là sự lạnh lùng và yên lặng trong taxi. Về đến nhà em lại oang oang, lặp đi lặp lại là vừa trải qua một buổi tối thật vui, hắn ta điệu nghệ và dễ thương... như thể tôi chẳng là cái quái gì...

Em chưa bao giờ bận tâm đến những gì đang có trong đầu tôi và không thể tưởng tượng những điều tôi nghĩ.

*

Sáng hôm sau, tôi uống cà phê như thường lệ và bước ra khỏi nhà. Nhưng lần này tôi không đi đến phòng mạch của mình. Tôi đã gọi điện trước cho cô y tá và báo là mình bận việc vài hôm. Có nhiều việc quan trọng phải làm.

Tôi ngồi đợi trên xe hơi, đậu không xa nhà lắm. Sau chừng một giờ, đây, em ăn mặc lịch sự, hớn hở bước ra khỏi nhà rồi leo lên một chiếc taxi. Tôi chạy theo đến một khách sạn sang trọng, nằm cách xa khu trung tâm. Dù loay hoay tìm chỗ đậu xe nhưng tôi cũng kịp nhìn thấy hai người, ôm nhau, khi bước vào thang máy. Tôi ngồi đợi trên xe hơi. Khoảng đầu giờ chiều cả hai rời khách sạn, họ ôm nhau lần cuối rồi hắn ta mở cửa taxi cho em. Tôi ngồi nhìn cảnh đó mà chẳng cảm thấy gì... Người ta đâu có thể ghen với một người mà mình chỉ có căm ghét và hận thù.

Hai, ba lần, vẫn là khách sạn đó.

Gần văn phòng của gã, buổi chiều hay buổi tối.

Chiều nay tôi ngồi đợi một lát trên xe hơi rồi sau đó cầm chiếc cặp hồ sơ, tiến đến quầy lễ tân.

- “Xin lỗi, tôi phải giao gấp giấy tờ quan trọng này cho ngài kiến trúc sư... Tôi từ văn phòng của ông ấy đến và cần phải lấy chữ ký của ông ta. Rất gấp...”.

Gã nhân viên lễ tân nhìn tôi lắc đầu:

- “Rất tiếc là tôi không thể để ông lên được, ông phải chờ tôi gọi lên phòng trước đã!”

Vài phút trôi qua. Chuông đổ liên tục nhưng không có trả lời.

- “Việc rất gấp” tôi giải thích. “Tôi chỉ lên một phút để ông ta ký rồi cầm ngay về văn phòng”.

- “Ông đợi đã. Tôi sẽ gọi nhân viên dẫn ông lên phòng. Nhưng tôi sẽ tiếp tục gọi lên đó”.

Chúng tôi đi lên tầng ba. Gã nhân viên lịch sự gõ cửa, không quan tâm lắm đến tấm bảng “Do not disturb” gắn trên nắm đấm.

Tôi chờ vài phút... Gã kiến trúc sư mở hé cửa với vẻ mặt khó chịu.

- Chuyện gì vậy? Giấy tờ gì mà tôi phải ký? Nhưng... ông... ông đến đây làm gì?”

Lách gã nhân viên, tôi đẩy gã kiến trúc sư vào trong, mặt gã lúc này tái mét và hốt hoảng.

- Tôi đây. Các người đừng có bận tâm. Tôi có mang giấy tờ để ký... đúng rồi, nhưng không phải ông ký đâu, thưa ngài kiến trúc sư, vì người phải ký là bà này”. Tôi vừa nói vừa nhìn lên giường, mặt cô ta đỏ như trái gấc và bối rối quấn chiếc drap để che đậy thân thể lõa lồ. “Đây, viết đây, mời cô ký ngay vào đơn ly dị. Tôi phải chuyển ngay cho luật sư và hai người này sẽ làm nhân chứng. Từ lúc này đối với tôi cô không còn hiện hữu nữa. Nhưng thật ra, với cô, xưa nay tôi cũng đâu có hiện hữu.”

Vẫn chưa hoàn hồn, cô ta như vẫn chưa hiểu chuyện, câm miệng, như thể đang nghĩ cách đối phó có lợi nhất...

Nhưng làm gì còn khả năng nào khác.

Lúc ký vào hồ sơ cô ta nhìn tôi bằng ánh mắt căm hờn.

Còn tôi, như vừa giật phắt được con bạch tuộc nằm trong trái tim mình...

Trương Văn Dân dịch
(SDB8/3-13)




 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • Paul William Gallico (1897-1976) là một nhà văn, phóng viên thể thao nổi tiếng của Mỹ. Nhiều tác phẩm của ông đã được chuyển thể thành phim truyện, phim truyền hình, có tác phẩm đã đạt giải Oscar. Cha ông người Ý, mẹ người Áo, bản thân ông đã nhiều năm sống ở châu Âu. Là người đa tài và viết khỏe, ông có hàng chục đầu sách: tiểu thuyết, truyện ngắn, kịch bản phim truyền hình, thể thao. Những tác phẩm nổi tiếng của Gallico là: Ngỗng tuyết, Tình yêu của bảy con búp bê, Cuộc phiên lưu Poseidon.

  • ANTONIO TABUCCHIAntonio Tabucchi (sinh năm 1945) là một trong những nhà văn được đọc nhiều nhất và dịch nhiều nhất hiện nay của Italia, bậc thầy nổi tiếng về truyện ngắn tâm lý.

  • IVAN BUNHINLúc ông ta đội mũ, đi trên phố hay đứng trong toa tàu điện ngầm không thấy rõ mái tóc cắt ngắn hung hung đỏ có những sợi lóng lánh, qua vẻ tươi tỉnh của gương mặt gầy, nhẵn nhụi, thân hình cao xương xương cứng đơ trong chiếc pan- tô không thấm, có thể đoán ông không quá 40. Chỉ cặp mắt xám nhạt luôn chứa một nỗi buồn khô khốc nói lên rằng ông là một người đã nếm trải nhiều trong cuộc đời.

  • LTS: Anatoli Kudraves là một nhà văn Beloruxia tài năng. Phần lớn các tác phẩm của ông thể hiện cuộc sống của những người nông dân, người chủ chân chính, giàu bản sắc riêng và chân thành của chính quê hương mình. Tác giả đã dẫn dắt nhân vật của mình trải qua công việc tập thể hóa nông nghiệp, trải qua những năm tháng khốc liệt của cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại và cả thời kỳ kinh tế đổ nát sau chiến tranh cho đến ngày hôm nay.

  • BỒ TÙNG LINHLang Mỗ quê ở Bành Thành, con nhà học thức. Ngày nhỏ đã được nghe cha nói đến các sách quý và các sách khác trong nước, lại thường được nghe cha luận bàn với các bạn bè của ông về các loại sách và các nhà thơ cổ đại.

  • AZIt NêxinNgày xưa, nhà vua ở một nước nọ có một kho bạc. Nghe đồn rằng trong kho bạc của nhà vua cất giữ một báu vật vô giá duy nhất của nước đó. Mọi người đều tự hào về báu vật mà tổ tiên đã để lại cho họ. “Mặc dầu chúng ta chẳng có gì cả, nhưng tổ tiên đã để cho chúng ta giữ một vật quý”, họ thường tự hào như vậy mà quên đi cảnh túng thiếu của mình.

  • AZIT NÊXIN (1915 - 1995)Một con chó chạy xồng xộc vào tòa báo "Tin tức đô thành”.

  • Nhà văn Mỹ Carson Mc Cullers sinh 1917. Các tác phẩm chính của bà là: Trái tim là kẻ đi săn cô độc (1940), Thành viên của đám cưới (1946), Khúc ballad của quán cà phê buồn (1951), Ngọt như dưa chua và sạch như heo (1954)…

  • Kamala Das tên thật là Kamala Suraiyya, sinh ngày 31.3.1934 tại Punnayurkulam, quận Thrissur, thành phố Kerala, vùng tây nam Ấn Độ. Bà là nhà văn nữ nổi tiếng của Ấn Độ. Bà sáng tác truyện ngắn bằng tiếng Malayalam. Bà sáng tác thơ và tiểu thuyết ngắn bằng tiếng Anh. Bà chủ yếu nổi tiếng trong thể loại truyện ngắn. Trong sự nghiệp sáng tác, bà đã có nhiều giải thưởng văn học, trong số đó là: Asian Poetry Prize, Kent Award for English Writing from Asian Countries, Asan World Prize, Ezhuthachan Award và một số giải thưởng khác nữa. Ngày 31 tháng Năm, 2009, bà mất tại bệnh viện thành phố Pune, Ấn Độ, thọ 75 tuổi.

  • HERTA MULLERHerta Mueller vừa được trao giải Nobel văn học 2009 vì đã mô tả cảnh tượng mất quyền sở hữu bằng một lối thơ cô đọng và một lối văn thẳng thắn. Truyện ngắn này rút từ tập truyện Nadirs (1982) là tác phẩm đầu tay của bà.

  • SHERMAN ALEXIENgay sau khi mất việc ở văn phòng giao dịch của người Anh điêng, Victor mới biết cha anh đã qua đời vì một cơn đau tim ở Phoenix, Arizoan. Đã mấy năm nay Victor không gặp cha, anh chỉ nói chuyện với ông qua điện thoại một hay hai lần gì đó, nhưng đó là một căn bệnh di truyền, có thực và xảy ra đột ngột như xương bị gãy vậy.

  • KOMATSU SAKYOKomatsu Sakyo sinh tại Osaka (Nhật Bản) (28/1/1931). Nhà văn chuyên viết  truyện khoa học giả tưởng nổi tiếng của Nhật Bản. Tốt nghiệp Đại học Tổng hợp Kyoto, chuyên ngành Văn học Italia. Từ năm 1957 là phóng viên đài phát thanh Osaka và viết cho một số báo. Năm 1961 chiến thắng trong cuộc thi truyện ngắn giả tưởng xuất sắc do tạp chí “SF Magasines” tổ chức. Tác phẩm của Komatsu đã được dịch ra rất nhiều thứ tiếng trên thế giới. Có bốn tiểu thuyết đã được dựng thành phim.

  • FRANK R- STOCKTONCách đây năm năm, một sự kiện kì lạ đã xảy đến với tôi. Cái biến cố này làm thay đổi cả cuộc đời tôi, cho nên tôi quyết định viết lại nó. mong rằng nó sẽ là bài học bổ ích cho những người lâm vào tình cảnh giống tôi.

  • MIKHAIN SÔLÔKHỐP                Truyện ngắn Mùa xuân thanh bình đầu tiên đã về lại trên sông Đông sau những năm tháng chiến tranh. Vào cuối tháng Ba, những cơn gió ấm áp cũng đã thổi đến, và chỉ sau hai ngày tuyết cũng đã bắt đầu tan trên đôi bờ sông Đông. Khắp mọi ngả đường việc đi lại cũng vô cùng khó khăn.

  • KAHLIL GIBRANNguồn: A Treasury of Kahlil Gibran (Một kho tàng của Kahlil Gibran), Anthony Rizcallah Ferrris dịch từ tiếng Arập, Martin L. Wolf biên tập, Nxb Citadel Press, New York, HK, 1951.

  • ROBERT ZACKS (ANH)Nhân ngày quốc tế phụ nữ, tôi và anh tôi bàn nhau mua quà tặng mẹ. Đây là lần đầu tiên trong đời chúng tôi thực hiện điều này.

  • GUY DE MAUPASSANTÔng Marrande, người nổi tiếng và lỗi lạc nhất trong các bác sĩ tâm thần, đã mời ba đồng nghiệp cùng bốn nhà bác học nghiên cứu khoa học tự nhiên đến thăm và chứng kiến, trong vòng một giờ đồng hồ, một trong những bệnh nhân tại nhà điều trị do ông lãnh đạo.

  • GUY DE MAUPASSANTGia đình Creightons rất tự hào về cậu con trai của họ, Frank. Khi Frank học đại học xa nhà, họ rất nhớ anh ấy. Nhưng rồi anh ấy gửi thư về, và rồi cuối tuần họ lại được gặp nhau.

  • JAMAICA KINCAIDNhà văn hậu hiện đại Anh J. Kincaid sinh năm 1949. Mười sáu tuổi, bà đến New York làm quản gia và giữ trẻ. Bà tự học là chính. Tuyển tập truyện ngắn đầu tiên của bà: “Giữa dòng sông” (1984) nhận được giải thưởng của viện hàn lâm Văn chương và Nghệ thuật Mỹ; còn các tiểu thuyết “Annie” (1985), “Lucky” (1990) được đánh giá cao.

  • SAM GREENLEE (MỸ)Sam Greenlee sinh tại Chicago, nổi tiếng với thể loại tiểu thuyết.Ông cũng đóng góp nhiều truyện ngắn, bài báo trong “Thế giới da màu” (Black World); và xem như là bộ phận không thể tách rời trong văn nghiệp, bởi ông là nhà văn da màu. Tuy nhiều truyện ngắn của ông vẫn được thể hiện theo lối truyền thống, nghĩa là vào cửa nào ra cửa ấy; nhưng cái cách mở rộng câu chuyện ở giữa truyện, bằng lối kể gần gũi nhiều kinh nghiệm; đã gây được sự thú vị. Đọc “Sonny không buồn” qua bản dịch, dĩ nhiên, khó thấy được cái hay trong lối kể, bởi nếp nghĩ và văn hoá rất khác nhau; nhiều từ-câu-đoạn không tìm được sự tương đương trong tiếng Việt. Cho nên đọc truyện này, chỉ có thể dừng lại ở mức, cùng theo dõi những diễn tiến bên ngoài cũng như sự tưởng tượng bên trong của Sonny về môn bóng rổ, cả hai như một và được kể cùng một lúc.