JASON HELMANDOLLAR
Jason Helmandollar là một nhà văn người Mỹ, tác giả của nhiều truyện ngắn nổi tiếng được đăng trên các báo, tạp chí đang thịnh hành lúc bấy giờ như Encounters Magazine, Bartleby Snopes, Title Goes Here, Sideshow Fables. “The Backward Fall” là một trong những truyện ngắn hay và hấp dẫn của ông.
Ảnh: internet
Ở truyện ngắn này, tác giả đã thể hiện xuất sắc những cung bậc cảm xúc đa dạng của các nhân vật. Người vợ từ từ đi sâu vào ký ức của chính mình, nhưng bên cạnh đó người chồng luôn ở bên an ủi, yêu thương… Một tình yêu tuyệt đẹp của cuộc đời. Truyện ngắn này đã được đạo diễn Andrew Pollins dựng thành phim vào năm 2013.
Trần Minh Nguyệt giới thiệu và dịch
![]() |
| Nhân vật trong phim “The Backward Fall” |
Trở về ký ức
(Nguyên Tác: The Backward Fall)
Năm bà 62 tuổi
“Ba!” - Bà ta nói: “Tôi nghĩ hoài mà không thể nào nhớ nổi một số từ trong bài hát mà tôi thích nhất” Bà đang ngồi khép nép trên trường kỉ, với một cái đàn guitar cũ ở trên đùi.
Người chồng 47 năm qua của bà từ nhà bếp đi vào phòng khách và hỏi: “Gì vậy mẹ?” Đã nhiều năm trôi qua, kể từ lúc họ có cậu con trai thứ ba, ông gọi theo con, gọi bà bằng mẹ và bà cũng vậy, gọi ông bằng ba.
- Tôi không thể nào nhớ được đoạn hai của bài hát bắt đầu như thế nào?
- Vậy à! Nhưng mà mẹ đang hát bài gì chứ?
- Ba không quan tâm đến tôi rồi. Tôi đã hát bài hát này hơn 20 phút rồi mà.
George, chồng bà nhìn lên trần nhà: “Được rồi! Chúng ta cùng nghĩ nhé”. Ông đưa tay xoa vào râu cằm đã điểm bạc và nói: “Nhặt những bông hoa trong mưa" phải không bà?"
Bà mỉm cười, dạo một khúc đàn và hỏi:
- Ông đoán phải không?
- Tôi không đoán mà tin như vậy. Đoạn hai là khi trời bắt đầu mưa, một thứ gì đó rơi trên cánh hoa.
- À ra vậy! Bà gật đầu xác nhận. Làm sao mà tôi quên mất như vậy chứ?
Bà lại chơi đàn. Những âm thanh đơn điệu từ chiếc đàn guitar bằng gỗ cũ kĩ. Và hát lại bài hát mà bà đã viết khi bà còn rất trẻ. Đó là câu chuyện của hai người yêu nhau, cùng nhau đi dạo trên đồng cỏ với đầy những khóm hoa dại đủ sắc màu. Cơn mưa mùa hạ đổ xuống bất chợt, thay vì chạy vô lều, họ lại cùng nhau đi dưới mưa nhặt những bông hoa dại. Và họ nhận ra rằng họ yêu nhau biết bao.
Năm bà 64 tuổi:
- Ba! Ông vào đây một lúc được không?
- Gì vậy mẹ? Mẹ muốn tôi làm gì?
Ông liếc nhìn lên gương mặt vợ một thoáng, và quay nhìn xuống ghế của mình - buồn bã. Ông ghét cái nhìn đó, mặc dù ông nhìn thấy nó nhiều lần như vậy đã trở nên quen thuộc. Nó là một cái nhìn của sự nhầm lẫn, một trong những nỗi lo sợ hoang mang.
- Tôi quên là tôi muốn làm gì rồi. Bà lắc đầu quay lại chỗ ngồi.
- Không sao cả, rồi bà sẽ nhớ lại thôi mà.
Bà lặng im, nhìn đăm đăm phía trước mặt, trong ti vi những hình ảnh động đậy nhưng bà không nghĩ được gì hết. Sau một vài giây, bà quay đầu lại phía chồng.
- Ba sẽ làm gì khi tôi quên hết mọi thứ?
- Bác sĩ nói không thể tồi tệ hơn mà.
- Nhưng nếu không phải vậy? Nếu một ngày tôi tỉnh dậy mà quên hết mọi thứ thì sao hả ông?
Ông tiến lại bàn và vỗ nhẹ lên tay vợ an ủi: “Tôi sẽ luôn ở bên cạnh nhắc bà nhớ mọi thứ mà”.
Bà ta mỉm cười và cái nhìn hoang dại cũng biến mất. Bên trên truyền hình là một chiếc áo choàng đầy hình ảnh. Toàn bộ hình ảnh của gia đình bà từ ông bà đến cháu chắt được gắn hết lên chiếc áo choàng đó. Bà không nhìn vào ti vi mà nhìn chằm chằm vào những bức hình mặc dù chúng quá xa với tầm mắt của bà. Sau một vài phút, bà nói: “Chân tôi lạnh quá. Ông lấy giúp tôi tấm chăn ra khỏi tủ quần áo?”
![]() |
| Minh họa: Tô Trần Bích Thúy |
Năm bà 65 tuổi, nhưng bà ta nghĩ mình chỉ mới 48.
- Ông đã đổ đầy bình xăng chưa? Đi trên đường tôi không muốn dừng lại đổ xăng đâu.
Ông nhìn bà một lúc, đưa tay vén tóc mình và tiếp tục xem ti vi.
- Ông không trả lời tôi sao?
- Tôi không hiểu mẹ đang nói gì?
- Thì cái thùng xăng xe đó, ông đã đổ đầy chưa?
Ông thở dài, tắt tiếng nói chương trình mà ông đang xem về những người cổ đại ở Peru. Ông luôn muốn xem những tàn tích Inca Machu Picchu. Đã vài năm rồi, ông không đi đâu cả.
- Tại sao phải đổ xăng khi mà tôi với bà không bao giờ đi đâu ngoại trừ đi đến quầy bán thực phẩm một tuần một lần?
Bà cười và lắc đầu.
- Ông lẫn mất rồi, ông không nhớ ngày mai chúng ta rời khỏi The Grand Canyon sao?
- The Grand Canyon? Mẹ à! Chúng ta đã đi đến đó trên 15 năm rồi mà. Bà không nhớ sao?
Bà chỉ tay vào ông ngăn ông không được nói nữa. Mắt bà nhìn xa xôi, vô hồn, và ngón tay từ từ hạ xuống để dưới môi khẽ nói: “Nhưng tôi…”.
Ông nhìn một lúc vào gương mặt không biểu lộ một cảm xúc nào của vợ - chứng tỏ là bà đang suy nghĩ. Ông nghĩ về Grand Canyon, nơi mà ông bà đã thăm sau khi ông về hưu non vì sức khỏe kém. Ngay ngày đầu tiên không làm việc, ông đã rút hết các khoản tiền, mua một chiếc ô tô du lịch, họ lái xe đến tất cả các miền quê, và điểm du lịch đầu tiên mà họ đến đó là hẻm núi Grand Canyon. Họ gọi đó là chuyến hành trình lớn. Sau ba năm rong chơi, từ đại dương đến nhiều nơi khác và trở lại đó một lần nữa. Ông bà cảm thấy rất vui vẻ và yêu đời trong thời gian đó.
Ông bật âm thanh chương trình mà ông yêu thích mỗi ngày. Ông cố gắng điều hòa hơi thở của mình theo nhịp đập của trái tim.
- Tôi nghe họ có những con la mà ông có thể cưỡi chúng đi vào trong hẻm núi. Ông có tin đó là sự thật không vậy?
Tay của bà để bất động trên bàn, ông nắm chặt lấy và trong tâm trí của ông, ông như nhìn thấy chính mình đang lắc lư trên mình con la trên lối mòn đầy những đá lởm chởm. Mái tóc hoa tiêu đỏ quạch và cháy nắng bởi cái nắng như thiêu như đốt của vùng sa mạc.
- Tôi chắc chắn điều đó mà. Ông đáp lời bà.
Năm bà 67 tuổi nhưng cứ nghĩ mình mới 31 tuổi.
Một bàn tay đánh thức ông dậy, ông chống người lên và nhìn vào đồng hồ. Gần 4 giờ sáng.
- Gì vậy mẹ? Có chuyện gì không ổn sao?
- Tôi cần nói với ông một vài điều.
Ông ngồi hẳn dậy và bật đèn.
- Ông Wendell Thurber hôn vào môi tôi hôm nay.
- Wendell Thurber sao?
Chúng tôi đã cùng nhau ăn trưa chỉ một thời gian ngắn gần đây thôi, và hôm nay ông ta đã hôn tôi. Bà bẽn lẽn nhìn xuống chăn. Ông ta đã làm điều đó bất ngờ đến nỗi tôi chưa kịp nhận biết điều gì đang xảy ra.
George nhớ chuyện này đã xảy ra cách đây nhiều năm trước, khi bà còn làm việc ở nhà máy để kiếm thêm tiền mua nhà, vì vậy ông chỉ im lặng nhìn bà.
- George này! Tôi nói thật đó.
- Nhưng chuyện này đã xảy ra quá lâu rồi mà. Bà không còn tin tôi nữa sao?
- Tôi tin ông. Tôi tin là ông không hành động như vậy.
- Vào lúc đó, ông cũng có một chút hờn ghen, nhưng chỉ có vậy thôi.
Bà lại tiếp tục nói: “Wendell Thurber ôm ghì lấy tôi, hôn tôi.” - Bà nắm chặt mền nói khẽ: “Tôi kể với ông điều này bởi vì tôi yêu ông, và chỉ yêu mỗi ông thôi mặc dù có rất nhiều người yêu tôi…”.
Bà nghĩ rằng ông sẽ nổi giận và gọi bà là người đàn bà trụy lạc, hoặc thậm chí ông rời khỏi bà. Bà cứ suy nghĩ về phản ứng của ông sẽ như thế nào khi mà bà được một người đàn ông khác hôn? Nhưng thay vì giận dữ, ông cầm lấy tay bà siết chặt và đối xử với bà dịu dàng hơn trước.
Và sau đó điều diệu kỳ đã xảy ra, ông càng dịu dàng, càng làm bà hạnh phúc bao nhiêu, bà càng yêu ông bấy nhiêu. Chính vì chuyện này mà họ nhận ra rằng họ là hai nửa hoàn hảo nhất dành cho nhau trong đời. Ông mỉm cười, kéo bà vào lòng và thì thầm: “Tôi hứa, tôi sẽ thay đổi”.
- Ông đang nói gì vậy?
Ông nhìn xuống và thấy bà dán mắt vào đồng hồ.
- Bốn giờ sáng rồi. Ông dậy đi, tôi không thể ngủ được.
- Bà tắt đèn và cố gắng ngủ đi.
Bà miễn cưỡng nằm xuống quay mặt vào vách.
Ông nhìn bà một lúc, sau đó tắt đèn, căn phòng lại chìm trong bóng tối.
Năm bà 68 tuổi nhưng cứ nghĩ mình mới 23.
Tôi biết ông lấy trộm chiếc nhẫn của tôi, ông giấu nó ở đâu? Ánh mắt bà nảy lửa.
- Tôi cũng không biết nó ở đâu mẹ à! Ông đang đứng trong nhà bếp, mảnh kính vỡ từ bình cà phê xung quanh chân trần của mình.
- Ông là một kẻ nói dối.
- Chắc là bà bỏ quên nó ở đâu rồi. Bà bình tĩnh đi, chúng ta sẽ đi tìm nó mà.
Bà gào lên, ông không nghĩ những âm thanh xa lạ và khủng khiếp đó là của bà. Bà cầm lên một bát trái cây. Đưa tay lên che mặt, ông ta van xin:
- Xin mẹ đừng ném bất cứ thứ gì vào tôi nữa.
- Đừng bao giờ gọi tôi như vậy, tôi không phải là mẹ ông, ông là một người vừa già vừa xấu.
- Bà không còn nhận ra cả tôi nữa sao? Tôi là George của bà đây mà.
Bà ném cái bát lên bàn đủ mạnh để làm nứt nó.
- Ông không phải là George. Ông là một ông già xấu xí, ông đánh lừa tôi. Ông đã lấy trộm tất cả tiền của tôi và bây giờ ông lấy luôn nhẫn cưới của tôi nữa.
- Điều đó không đúng.
Bà im lặng và hơi thở mệt nhọc.
- Tôi đã trao cho bà chiếc nhẫn đó, tôi sẽ không bao giờ lấy lại nó đâu.
Hơi thở bà nhanh hơn, thở hổn hển. Trong tim của bà, chiếc nhẫn cưới khắc sâu hơn bất cứ điều gì khác.
Đột nhiên, bà quay lại và chạy ra khỏi nhà bếp. Ông nghe tiếng đóng sầm ở cửa trước. Đột nhiên ông có ý nghĩ bà sẽ lang thang trên đường phố, với cái đầu không còn nhớ gì nữa cả. Ông bật dậy chạy băng qua những mảnh chai vỡ theo sau bà. Ông đã không chạy trong nhiều năm rồi. Trái tim ông cảm thấy lớn hơn, và cồng kềnh trong lồng ngực. Ông buông bà xuống một vũng bùn trên đường vì ông bị viêm khớp nặng. Ông chỉ nắm lấy vạt áo của bà thôi. Bà vả vào mặt, đấm vào ngực ông. Ông chỉ còn đủ sức giữ chặt bà, để mặc bà vũng vẫy trong bùn lạnh. Chỉ một lúc sau, bà ngừng vùng vẫy, chỉ còn lắc lư oằn người một chút. Ông tìm cách dỗ ngọt bà đứng lên và quay trở lại nhà.
Khi bật xong hệ thống nước ấm, ông đứng dưới vòi nước cạnh bà, và dưới vòi nước phun, ông tắm gội cho bà. Bùn đất quện chặt vào mái tóc trắng và làn da trắng của bà, hòa với máu từ bàn chân dẫm lên những mảnh chai bị vỡ.
Bà nghĩ mình mới 16 tuổi.
Một ông già đang nhìn cô, nhưng cô lờ đi. Cô có nhiều điều quan trọng hơn để nghĩ tới, hơn là lo lắng, quan tâm đến một ông già.
George hôm nay sẽ đến, cô biết anh đến để tán tỉnh cô, anh đã từng thích chị gái của cô, nhưng mối tình này không đi đến đâu cả. Chị gái của cô dù xinh, nhưng George không thể không chú ý đến cô gái trẻ hơn, với mái tóc dài đen, óng ả mượt mà như cô được.
Cô nhìn ra con đường trước ngõ, một lối mòn nhão nhoẹt bùn đất, từ cổng ngõ chạy xuống đồi, sau đó qua một khúc cua và mất hút sau rừng thông. Ở phía bên kia của những cây thông là cây cầu gỗ bắc ngang sông Sandy và đường ray xe lửa.
Cô quay đầu lại và thấy một ông già đang ngồi trên lối đi với tay đan chéo trên vạt áo.
- Ông muốn gì? Cô hỏi.
Giơ tay lên một cách bất lực - ông đáp:
- Không có gì cả mẹ à. Tôi chỉ đang xem ti vi thôi mà.
Cô không hiểu ông già muốn nói gì. Cô quay trở lại con đường. Anh ấy đang ở đó, anh ấy đã qua khỏi rừng thông, mặc quần Jean và áo sơ mi trắng trông rất khỏe mạnh, cường tráng. Anh đi với một dáng vẻ thư thái, anh đang vòng qua khúc cua, và sau đó vượt qua một ngọn đồi dài. Anh nhìn lên và cô vẫy tay chào. Bây giờ cô thấy trên tay anh là một bó hoa dại, cô rất thích những bông hoa này, và lời bài hát hình thành trong đầu của cô. Không còn nghi ngờ gì nữa, đây là người đàn ông mà cô sẽ yêu suốt cả cuộc đời.
Bà đang chào ai vậy mẹ?
- Chồng tôi.
- Nhưng tôi ở đây mà, sao bà chào cái bức tường?
Ông già tội nghiệp nhưng cũng tử tế. Cô quay lại và chào ông. Đáp lại bà, ông cũng đưa tay lên và nói: “Chào em yêu!”.
Bà trở lại một đứa trẻ sơ sinh…
Những khuôn mặt chập chờn bay lượn quanh nó. Nó không thể đi lại được, nhưng có thể thấy chúng. Những gương mặt không tên tuổi. Nó hầu như không còn ký ức nữa vì nó chỉ là một đứa con nít. Đôi khi cũng có những gương mặt mà ký ức mỏng manh của nó không muốn nhìn, nhưng cũng không làm nó giận. Những gương mặt mang đến cho nó niềm vui mặc dù chúng không tuổi, không tên. Nó biết rằng những người này yêu nó, và nó cũng yêu họ.
Nó thở chậm rãi - vào, ra.
Có những lúc, những gương mặt che khuất tầm nhìn của nó, những từ vô nghĩa từ những bờ môi, những giọt nước mắt lăn xuống từ những đôi mắt buồn. Nhìn nét biểu hiện trên mỗi gương mặt làm nó hạnh phúc. Cuối cùng là một gương mặt rất quen thuộc, gương mặt khắc khổ. Đôi môi quen thuộc hôn lên trán nó, nó nhìn gương mặt này và nhận ra rất gần gũi, thân thương. Gương mặt làm nó cảm thấy an lòng, và ký ức một thời quay trở lại với nó.
Bà thấy mình còn ở trong bào thai.
Nó ở trong bào thai - quanh nó là nước ấm, trong nước, không cần phải thở. Vậy là nó không còn thở nữa. Đôi mắt nó từ từ khép lại.
Bà thấy George ở phía trước, nhưng ông ở rất xa. Ông đang gập người xuống. Bà biết có khi họ không thể cùng nhau được nữa, nhưng vậy cũng tốt. Đầu của ông uốn cong xuống và ông đã bắt đầu leo lên ngọn đồi dài…
(TCSH386/04-2021)
Tải mã QRCode
AKUTAHAVA RIUNÔXKÊ (Nhật Bản)
Hôm ấy một mình Đức Phật đi dạo ven bờ đầm trên Niết bàn.
Cả đầm toàn là sen trắng trong như ngọc, và nhị sen vàng tỏa ra xung quanh một mùi thơm ngọt, ngạt ngào.
L.T.S: LANGSTON HUGHES (1902 - 1967), nhà văn, nhà thơ, nhà viết kịch và dịch giả người Mỹ da đen, sinh ở Joplin, bang Missouri. Ông đã xuất bản 35 tác phẩm. Thơ của ông đã được dịch sang tiếng Việt. Những tác phẩm của ông phần lớn tập trung chủ đề đấu tranh cho quyền bình đẳng giữa người da đen và da trắng tại nước Mỹ. Truyện sau đây dịch trong tập truyện "The ways of white Folks".
Hình ảnh rồng Việt Nam từ xa xưa đã sớm đi vào nghệ thuật với nhiều loại hình khác nhau. Trong lịch sử nghệ thuật điêu khắc, nhiều công trình điêu khắc lấy con rồng làm đề tài đã trở thành những tác phẩm có giá trị văn hóa, trong đó không ít công trình điêu khắc đá được xem như là những tác phẩm mang dấu ấn phong cách nghệ thuật của một thời kỳ.
Nhà văn Phillip Van Doren Stern sinh ra tại Wyalusing, bang Pennsylvania và lớn lên tại Brooklyn, New York. The Greatest Gift là truyện ngắn nổi tiếng nhất của ông. Phillip Van Doren Stern đã từng gửi câu truyện này đi nhiều báo và tạp chí nhưng không nơi nào nhận đăng. Cuối cùng ông cho in truyện lên 200 tấm thiệp năm mới và phát cho bạn bè.
LTS: Butribabu tên thật là Sivarazu Vencata Xubarao (1916 - 1967) là một nhà văn lớn của Ấn Độ, tác giả của tiểu thuyết nổi tiếng “Còn lại gì?” và 10 tập truyện ngắn trong đó tập đầu tay “Năm truyện ngắn” xuất bản năm 1933. Ông sáng tác bằng tiếng Telugu truyện ngắn “Khasima Bi” in trong tập “Tuyển tập sáng tác của các nhà văn Nam Á” của nhà xuất bản “Văn học”, Mat-xcơva, 1980.
LGT: R. Grossmith sinh năm 1954 ở Dagenham thuộc London, nhận bằng tiến sĩ với luận án về Nghệ thuật tiểu thuyết của Vladimir Nabokov và hiện sống ở Glasgow, nơi ông làm việc biên soạn tự điển.
L.T.S: Nikom Rayawa là nhà văn trẻ sinh ở một làng phía Bắc thủ đô Băng Cốc. Nikom Rayawa thuộc phái văn học "Trăng lưỡi liềm" có xu hướng nhân bản và tự do.
Lỗ Tấn là nhà văn hiện đại Trung Quốc rất đỗi quen thuộc với bạn đọc Việt Nam. Ông quê ở Thiệu Hưng, Triết Giang, sinh ngày 25 tháng 9 năm 1881, mất ngày 19 tháng 10 năm 1936. Năm nay là năm kỉ niệm 130 năm ngày sinh và 75 năm ngày mất của ông.
William Butler Yeats (1865 - 1939) là nhà thơ và kịch tác gia lớn của Ailen, sinh ở Dublin. Cùng với T.Eliot, Yeats đã cách tân nền thơ Anh và Ailen. Được giải thưởng Nôbel năm 1923. Sáng lập Hội Văn học Ailen và Nhà hát Quốc gia Ailen.
LGT: O. Henry là bút danh của William Sydney Porter. Ông sinh năm 1862 và mất năm 1910, cùng năm qua đời của Mark Twain.
LGT: James Ross là nhà văn đương đại của Anh. Ông là một trong số những thành viên của trường phái Không Tưởng. James sống trong một căn nhà cũ, viết bên một chiếc bàn cũ bằng một chiếc máy tính xách tay giá rẻ, theo như lời ông nói. James Ross bắt đầu cầm bút từ năm 1996, cho đến nay đã viết hàng loạt truyện ngắn mang phong cách riêng, đậm chất huyền ảo và giả tưởng.
Mia Couto sinh ngày 5 tháng 7.1955 tại Beira, Mozambique. Ông là nhà văn Mozambique nổi tiếng. Các tác phẩm của ông viết bằng tiếng Bồ Đào Nha, đã được dịch rộng rãi ra nhiều thứ tiếng và được in ở trên 22 quốc gia. Truyện ngắn dưới đây được David Brookshaw dịch từ tiếng Bồ Đào Nha sang tiếng Anh. Bản tiếng Việt theo David Brookshaw.
LGT: Ngày nay, khi văn học dần rời xa đại tự sự mà thay vào đó là sự lên ngôi của tiểu tự sự thì truyện cực ngắn là một trong những thể loại được người sáng tạo và người đồng sáng tạo quan tâm. Tuy nhiên cho đến nay thì dường như vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất cho cái gọi là “truyện cực ngắn”. Truyện cực ngắn còn được biết đến dưới nhiều dạng thức định danh như “truyện chớp” (flash fiction), “truyện bất ngờ” (sudden fiction), “vi truyện” (micro fiction)...
L.T.S: Kurt Kusenberg (1904-1983), sinh ở Göteborg, Thụy Điển, mất tại Đức. Giám đốc văn học suốt ba mươi năm tại một nhà xuất bản trong nước và chủ biên một loại sách viết riêng về các triết gia, bác học và nhà văn. Tác giả của nhiều truyện kể mang màu sắc kỳ dị.
L.T.S: Miguel Rojas Mix, sinh năm 1934 tại thủ đô Chi-lê. Giám đốc viện Nghệ thuật châu Mỹ La tinh thủ đô San Chiago. Bỏ Chi lê sang Pháp dạy học ở Đại học Paris VIII. Viết tiểu luận, truyện ngắn, sách thiếu nhi. “Bàn tay Chúa” là truyện ngắn ác liệt tố giác chính quyền Pi-nô-chê khát máu tại Chi-lê chỉ có thể gây ra khổ đau, chết chóc, ly hương và quật khởi cho nhân dân xứ này. Truyện mang ý hướng ngụ ngôn, gợi ý, gợi hình, vừa có nét thần kỳ mà vẫn không xa hiện thực.
LTS: Valentin Rasputin sinh năm 1937 tại một ngôi làng ở Siberia, Ust-Uda. Tốt nghiệp xong đại học Irkutsk, ông làm việc cho các tờ báo ở Irkutsk và ở Krasnoyarsk trong nhiều năm. Truyện ngắn đầu tiên của ông xuất hiện năm 1961. Truyện “Tiền bạc cho Ma-ria” đem lại danh tiếng cho ông. Với những truyện xuất hiện sau đó như “Kỳ hạn cuối cùng”, “Hãy sống và nhớ đến tôi”, “Vĩnh biệt Ma-chi-ô-ra”, ông được khẳng định như một trong những nhà văn Xô-viết lớn nhất. Truyện ngắn dưới đây xuất hiện trong một tập truyện mới của ông, tập truyện có đề là “Cuộc sống và tình yêu”.
LGT: Hồ Thích là nhà văn, học giả lớn của Trung Quốc. Truyện cực ngắn này đã rạch đôi hai nền văn minh với hai lối sống, hai cách tư duy. Với nền văn minh nông nghiệp, xã hội tiểu nông, mọi thứ chỉ cần tương đối. Đem lối sống, cách tư duy ấy sang nền văn minh đại công nghiệp thì trật khớp hết, và… chết.
PHRÊ-ĐRÍCH SI-LAN-ĐE- Tất cả đứng dậy, - viên mõ tòa nói với giọng đều đều.Ông chánh án bước vào, kéo ghế lại gần rồi ngồi xuống.- Tất cả ngồi xuống, - viên mõ tòa làm xong phận sự, chẳng còn buồn để ý đến những gì diễn ra trước mắt.
A-ri-en Đot-phơ-man sinh năm 1942 tại Chi-lê. Giáo sư dạy thuyết giảng tại Đại học Văn thuộc Viện Đại học Chi-lê, ông phải rời bỏ Chi-lê vào năm 1973, viết truyện ngắn, tiểu luận và thơ.Truyện ngắn Viên thuốc bọc đường viết theo kỹ thuật chen lồng đối thoại và chen lồng hiện tại và tương lai.Nội dung truyện vạch trần sự vật lộn miếng ăn tại Hoa Kỳ khiến cho lắm kẻ tha phương lao vào một số nghề nghiệp nguy hiểm, khốn nạn.
An-ghiêc-đax Pô-xi-ux, sinh năm 1930, tại làng Ketubai - ông tốt nghiệp Khoa Ngữ văn Litva ở Học viện Giáo dục Klaipeda - Ông viết văn vào năm 1953, tác giả của nhiều truyện ký, đồng thời ông còn là nhà văn viết nhiều cho tuổi thơ.