JASON HELMANDOLLAR
Jason Helmandollar là một nhà văn người Mỹ, tác giả của nhiều truyện ngắn nổi tiếng được đăng trên các báo, tạp chí đang thịnh hành lúc bấy giờ như Encounters Magazine, Bartleby Snopes, Title Goes Here, Sideshow Fables. “The Backward Fall” là một trong những truyện ngắn hay và hấp dẫn của ông.
Ảnh: internet
Ở truyện ngắn này, tác giả đã thể hiện xuất sắc những cung bậc cảm xúc đa dạng của các nhân vật. Người vợ từ từ đi sâu vào ký ức của chính mình, nhưng bên cạnh đó người chồng luôn ở bên an ủi, yêu thương… Một tình yêu tuyệt đẹp của cuộc đời. Truyện ngắn này đã được đạo diễn Andrew Pollins dựng thành phim vào năm 2013.
Trần Minh Nguyệt giới thiệu và dịch
![]() |
| Nhân vật trong phim “The Backward Fall” |
Trở về ký ức
(Nguyên Tác: The Backward Fall)
Năm bà 62 tuổi
“Ba!” - Bà ta nói: “Tôi nghĩ hoài mà không thể nào nhớ nổi một số từ trong bài hát mà tôi thích nhất” Bà đang ngồi khép nép trên trường kỉ, với một cái đàn guitar cũ ở trên đùi.
Người chồng 47 năm qua của bà từ nhà bếp đi vào phòng khách và hỏi: “Gì vậy mẹ?” Đã nhiều năm trôi qua, kể từ lúc họ có cậu con trai thứ ba, ông gọi theo con, gọi bà bằng mẹ và bà cũng vậy, gọi ông bằng ba.
- Tôi không thể nào nhớ được đoạn hai của bài hát bắt đầu như thế nào?
- Vậy à! Nhưng mà mẹ đang hát bài gì chứ?
- Ba không quan tâm đến tôi rồi. Tôi đã hát bài hát này hơn 20 phút rồi mà.
George, chồng bà nhìn lên trần nhà: “Được rồi! Chúng ta cùng nghĩ nhé”. Ông đưa tay xoa vào râu cằm đã điểm bạc và nói: “Nhặt những bông hoa trong mưa" phải không bà?"
Bà mỉm cười, dạo một khúc đàn và hỏi:
- Ông đoán phải không?
- Tôi không đoán mà tin như vậy. Đoạn hai là khi trời bắt đầu mưa, một thứ gì đó rơi trên cánh hoa.
- À ra vậy! Bà gật đầu xác nhận. Làm sao mà tôi quên mất như vậy chứ?
Bà lại chơi đàn. Những âm thanh đơn điệu từ chiếc đàn guitar bằng gỗ cũ kĩ. Và hát lại bài hát mà bà đã viết khi bà còn rất trẻ. Đó là câu chuyện của hai người yêu nhau, cùng nhau đi dạo trên đồng cỏ với đầy những khóm hoa dại đủ sắc màu. Cơn mưa mùa hạ đổ xuống bất chợt, thay vì chạy vô lều, họ lại cùng nhau đi dưới mưa nhặt những bông hoa dại. Và họ nhận ra rằng họ yêu nhau biết bao.
Năm bà 64 tuổi:
- Ba! Ông vào đây một lúc được không?
- Gì vậy mẹ? Mẹ muốn tôi làm gì?
Ông liếc nhìn lên gương mặt vợ một thoáng, và quay nhìn xuống ghế của mình - buồn bã. Ông ghét cái nhìn đó, mặc dù ông nhìn thấy nó nhiều lần như vậy đã trở nên quen thuộc. Nó là một cái nhìn của sự nhầm lẫn, một trong những nỗi lo sợ hoang mang.
- Tôi quên là tôi muốn làm gì rồi. Bà lắc đầu quay lại chỗ ngồi.
- Không sao cả, rồi bà sẽ nhớ lại thôi mà.
Bà lặng im, nhìn đăm đăm phía trước mặt, trong ti vi những hình ảnh động đậy nhưng bà không nghĩ được gì hết. Sau một vài giây, bà quay đầu lại phía chồng.
- Ba sẽ làm gì khi tôi quên hết mọi thứ?
- Bác sĩ nói không thể tồi tệ hơn mà.
- Nhưng nếu không phải vậy? Nếu một ngày tôi tỉnh dậy mà quên hết mọi thứ thì sao hả ông?
Ông tiến lại bàn và vỗ nhẹ lên tay vợ an ủi: “Tôi sẽ luôn ở bên cạnh nhắc bà nhớ mọi thứ mà”.
Bà ta mỉm cười và cái nhìn hoang dại cũng biến mất. Bên trên truyền hình là một chiếc áo choàng đầy hình ảnh. Toàn bộ hình ảnh của gia đình bà từ ông bà đến cháu chắt được gắn hết lên chiếc áo choàng đó. Bà không nhìn vào ti vi mà nhìn chằm chằm vào những bức hình mặc dù chúng quá xa với tầm mắt của bà. Sau một vài phút, bà nói: “Chân tôi lạnh quá. Ông lấy giúp tôi tấm chăn ra khỏi tủ quần áo?”
![]() |
| Minh họa: Tô Trần Bích Thúy |
Năm bà 65 tuổi, nhưng bà ta nghĩ mình chỉ mới 48.
- Ông đã đổ đầy bình xăng chưa? Đi trên đường tôi không muốn dừng lại đổ xăng đâu.
Ông nhìn bà một lúc, đưa tay vén tóc mình và tiếp tục xem ti vi.
- Ông không trả lời tôi sao?
- Tôi không hiểu mẹ đang nói gì?
- Thì cái thùng xăng xe đó, ông đã đổ đầy chưa?
Ông thở dài, tắt tiếng nói chương trình mà ông đang xem về những người cổ đại ở Peru. Ông luôn muốn xem những tàn tích Inca Machu Picchu. Đã vài năm rồi, ông không đi đâu cả.
- Tại sao phải đổ xăng khi mà tôi với bà không bao giờ đi đâu ngoại trừ đi đến quầy bán thực phẩm một tuần một lần?
Bà cười và lắc đầu.
- Ông lẫn mất rồi, ông không nhớ ngày mai chúng ta rời khỏi The Grand Canyon sao?
- The Grand Canyon? Mẹ à! Chúng ta đã đi đến đó trên 15 năm rồi mà. Bà không nhớ sao?
Bà chỉ tay vào ông ngăn ông không được nói nữa. Mắt bà nhìn xa xôi, vô hồn, và ngón tay từ từ hạ xuống để dưới môi khẽ nói: “Nhưng tôi…”.
Ông nhìn một lúc vào gương mặt không biểu lộ một cảm xúc nào của vợ - chứng tỏ là bà đang suy nghĩ. Ông nghĩ về Grand Canyon, nơi mà ông bà đã thăm sau khi ông về hưu non vì sức khỏe kém. Ngay ngày đầu tiên không làm việc, ông đã rút hết các khoản tiền, mua một chiếc ô tô du lịch, họ lái xe đến tất cả các miền quê, và điểm du lịch đầu tiên mà họ đến đó là hẻm núi Grand Canyon. Họ gọi đó là chuyến hành trình lớn. Sau ba năm rong chơi, từ đại dương đến nhiều nơi khác và trở lại đó một lần nữa. Ông bà cảm thấy rất vui vẻ và yêu đời trong thời gian đó.
Ông bật âm thanh chương trình mà ông yêu thích mỗi ngày. Ông cố gắng điều hòa hơi thở của mình theo nhịp đập của trái tim.
- Tôi nghe họ có những con la mà ông có thể cưỡi chúng đi vào trong hẻm núi. Ông có tin đó là sự thật không vậy?
Tay của bà để bất động trên bàn, ông nắm chặt lấy và trong tâm trí của ông, ông như nhìn thấy chính mình đang lắc lư trên mình con la trên lối mòn đầy những đá lởm chởm. Mái tóc hoa tiêu đỏ quạch và cháy nắng bởi cái nắng như thiêu như đốt của vùng sa mạc.
- Tôi chắc chắn điều đó mà. Ông đáp lời bà.
Năm bà 67 tuổi nhưng cứ nghĩ mình mới 31 tuổi.
Một bàn tay đánh thức ông dậy, ông chống người lên và nhìn vào đồng hồ. Gần 4 giờ sáng.
- Gì vậy mẹ? Có chuyện gì không ổn sao?
- Tôi cần nói với ông một vài điều.
Ông ngồi hẳn dậy và bật đèn.
- Ông Wendell Thurber hôn vào môi tôi hôm nay.
- Wendell Thurber sao?
Chúng tôi đã cùng nhau ăn trưa chỉ một thời gian ngắn gần đây thôi, và hôm nay ông ta đã hôn tôi. Bà bẽn lẽn nhìn xuống chăn. Ông ta đã làm điều đó bất ngờ đến nỗi tôi chưa kịp nhận biết điều gì đang xảy ra.
George nhớ chuyện này đã xảy ra cách đây nhiều năm trước, khi bà còn làm việc ở nhà máy để kiếm thêm tiền mua nhà, vì vậy ông chỉ im lặng nhìn bà.
- George này! Tôi nói thật đó.
- Nhưng chuyện này đã xảy ra quá lâu rồi mà. Bà không còn tin tôi nữa sao?
- Tôi tin ông. Tôi tin là ông không hành động như vậy.
- Vào lúc đó, ông cũng có một chút hờn ghen, nhưng chỉ có vậy thôi.
Bà lại tiếp tục nói: “Wendell Thurber ôm ghì lấy tôi, hôn tôi.” - Bà nắm chặt mền nói khẽ: “Tôi kể với ông điều này bởi vì tôi yêu ông, và chỉ yêu mỗi ông thôi mặc dù có rất nhiều người yêu tôi…”.
Bà nghĩ rằng ông sẽ nổi giận và gọi bà là người đàn bà trụy lạc, hoặc thậm chí ông rời khỏi bà. Bà cứ suy nghĩ về phản ứng của ông sẽ như thế nào khi mà bà được một người đàn ông khác hôn? Nhưng thay vì giận dữ, ông cầm lấy tay bà siết chặt và đối xử với bà dịu dàng hơn trước.
Và sau đó điều diệu kỳ đã xảy ra, ông càng dịu dàng, càng làm bà hạnh phúc bao nhiêu, bà càng yêu ông bấy nhiêu. Chính vì chuyện này mà họ nhận ra rằng họ là hai nửa hoàn hảo nhất dành cho nhau trong đời. Ông mỉm cười, kéo bà vào lòng và thì thầm: “Tôi hứa, tôi sẽ thay đổi”.
- Ông đang nói gì vậy?
Ông nhìn xuống và thấy bà dán mắt vào đồng hồ.
- Bốn giờ sáng rồi. Ông dậy đi, tôi không thể ngủ được.
- Bà tắt đèn và cố gắng ngủ đi.
Bà miễn cưỡng nằm xuống quay mặt vào vách.
Ông nhìn bà một lúc, sau đó tắt đèn, căn phòng lại chìm trong bóng tối.
Năm bà 68 tuổi nhưng cứ nghĩ mình mới 23.
Tôi biết ông lấy trộm chiếc nhẫn của tôi, ông giấu nó ở đâu? Ánh mắt bà nảy lửa.
- Tôi cũng không biết nó ở đâu mẹ à! Ông đang đứng trong nhà bếp, mảnh kính vỡ từ bình cà phê xung quanh chân trần của mình.
- Ông là một kẻ nói dối.
- Chắc là bà bỏ quên nó ở đâu rồi. Bà bình tĩnh đi, chúng ta sẽ đi tìm nó mà.
Bà gào lên, ông không nghĩ những âm thanh xa lạ và khủng khiếp đó là của bà. Bà cầm lên một bát trái cây. Đưa tay lên che mặt, ông ta van xin:
- Xin mẹ đừng ném bất cứ thứ gì vào tôi nữa.
- Đừng bao giờ gọi tôi như vậy, tôi không phải là mẹ ông, ông là một người vừa già vừa xấu.
- Bà không còn nhận ra cả tôi nữa sao? Tôi là George của bà đây mà.
Bà ném cái bát lên bàn đủ mạnh để làm nứt nó.
- Ông không phải là George. Ông là một ông già xấu xí, ông đánh lừa tôi. Ông đã lấy trộm tất cả tiền của tôi và bây giờ ông lấy luôn nhẫn cưới của tôi nữa.
- Điều đó không đúng.
Bà im lặng và hơi thở mệt nhọc.
- Tôi đã trao cho bà chiếc nhẫn đó, tôi sẽ không bao giờ lấy lại nó đâu.
Hơi thở bà nhanh hơn, thở hổn hển. Trong tim của bà, chiếc nhẫn cưới khắc sâu hơn bất cứ điều gì khác.
Đột nhiên, bà quay lại và chạy ra khỏi nhà bếp. Ông nghe tiếng đóng sầm ở cửa trước. Đột nhiên ông có ý nghĩ bà sẽ lang thang trên đường phố, với cái đầu không còn nhớ gì nữa cả. Ông bật dậy chạy băng qua những mảnh chai vỡ theo sau bà. Ông đã không chạy trong nhiều năm rồi. Trái tim ông cảm thấy lớn hơn, và cồng kềnh trong lồng ngực. Ông buông bà xuống một vũng bùn trên đường vì ông bị viêm khớp nặng. Ông chỉ nắm lấy vạt áo của bà thôi. Bà vả vào mặt, đấm vào ngực ông. Ông chỉ còn đủ sức giữ chặt bà, để mặc bà vũng vẫy trong bùn lạnh. Chỉ một lúc sau, bà ngừng vùng vẫy, chỉ còn lắc lư oằn người một chút. Ông tìm cách dỗ ngọt bà đứng lên và quay trở lại nhà.
Khi bật xong hệ thống nước ấm, ông đứng dưới vòi nước cạnh bà, và dưới vòi nước phun, ông tắm gội cho bà. Bùn đất quện chặt vào mái tóc trắng và làn da trắng của bà, hòa với máu từ bàn chân dẫm lên những mảnh chai bị vỡ.
Bà nghĩ mình mới 16 tuổi.
Một ông già đang nhìn cô, nhưng cô lờ đi. Cô có nhiều điều quan trọng hơn để nghĩ tới, hơn là lo lắng, quan tâm đến một ông già.
George hôm nay sẽ đến, cô biết anh đến để tán tỉnh cô, anh đã từng thích chị gái của cô, nhưng mối tình này không đi đến đâu cả. Chị gái của cô dù xinh, nhưng George không thể không chú ý đến cô gái trẻ hơn, với mái tóc dài đen, óng ả mượt mà như cô được.
Cô nhìn ra con đường trước ngõ, một lối mòn nhão nhoẹt bùn đất, từ cổng ngõ chạy xuống đồi, sau đó qua một khúc cua và mất hút sau rừng thông. Ở phía bên kia của những cây thông là cây cầu gỗ bắc ngang sông Sandy và đường ray xe lửa.
Cô quay đầu lại và thấy một ông già đang ngồi trên lối đi với tay đan chéo trên vạt áo.
- Ông muốn gì? Cô hỏi.
Giơ tay lên một cách bất lực - ông đáp:
- Không có gì cả mẹ à. Tôi chỉ đang xem ti vi thôi mà.
Cô không hiểu ông già muốn nói gì. Cô quay trở lại con đường. Anh ấy đang ở đó, anh ấy đã qua khỏi rừng thông, mặc quần Jean và áo sơ mi trắng trông rất khỏe mạnh, cường tráng. Anh đi với một dáng vẻ thư thái, anh đang vòng qua khúc cua, và sau đó vượt qua một ngọn đồi dài. Anh nhìn lên và cô vẫy tay chào. Bây giờ cô thấy trên tay anh là một bó hoa dại, cô rất thích những bông hoa này, và lời bài hát hình thành trong đầu của cô. Không còn nghi ngờ gì nữa, đây là người đàn ông mà cô sẽ yêu suốt cả cuộc đời.
Bà đang chào ai vậy mẹ?
- Chồng tôi.
- Nhưng tôi ở đây mà, sao bà chào cái bức tường?
Ông già tội nghiệp nhưng cũng tử tế. Cô quay lại và chào ông. Đáp lại bà, ông cũng đưa tay lên và nói: “Chào em yêu!”.
Bà trở lại một đứa trẻ sơ sinh…
Những khuôn mặt chập chờn bay lượn quanh nó. Nó không thể đi lại được, nhưng có thể thấy chúng. Những gương mặt không tên tuổi. Nó hầu như không còn ký ức nữa vì nó chỉ là một đứa con nít. Đôi khi cũng có những gương mặt mà ký ức mỏng manh của nó không muốn nhìn, nhưng cũng không làm nó giận. Những gương mặt mang đến cho nó niềm vui mặc dù chúng không tuổi, không tên. Nó biết rằng những người này yêu nó, và nó cũng yêu họ.
Nó thở chậm rãi - vào, ra.
Có những lúc, những gương mặt che khuất tầm nhìn của nó, những từ vô nghĩa từ những bờ môi, những giọt nước mắt lăn xuống từ những đôi mắt buồn. Nhìn nét biểu hiện trên mỗi gương mặt làm nó hạnh phúc. Cuối cùng là một gương mặt rất quen thuộc, gương mặt khắc khổ. Đôi môi quen thuộc hôn lên trán nó, nó nhìn gương mặt này và nhận ra rất gần gũi, thân thương. Gương mặt làm nó cảm thấy an lòng, và ký ức một thời quay trở lại với nó.
Bà thấy mình còn ở trong bào thai.
Nó ở trong bào thai - quanh nó là nước ấm, trong nước, không cần phải thở. Vậy là nó không còn thở nữa. Đôi mắt nó từ từ khép lại.
Bà thấy George ở phía trước, nhưng ông ở rất xa. Ông đang gập người xuống. Bà biết có khi họ không thể cùng nhau được nữa, nhưng vậy cũng tốt. Đầu của ông uốn cong xuống và ông đã bắt đầu leo lên ngọn đồi dài…
(TCSH386/04-2021)
Tải mã QRCode
LTS: Mario Bendetti sinh tại Paso de los Toros (Tacuarembó ) ngày 14 tháng 9 năm 1920. Ông theo học tại trường tiểu học tiếng Đức ở Montevideo và trường trung học Miranda, đã từng làm nhiều nghề như nhân viên bán hàng, tốc kí, kế toán, viên chức nhà nước và phóng viên. Từ năm 1938 đến 1941 ông sống chủ yếu ở Buenos Aires . Năm 1945, khi trở về Montevideo, ông viết bài cho tuần báo nổi tiếng Marcha, qua đó trở thành phóng viên bên cạnh Carlos Quijano và rồi trở thành một thành viên trong ê-kíp của ông này cho tới tận năm 1974 khi tuần báo ngừng xuất bản.Năm 1973, vì lí do chính trị, ông phải rời bỏ tổ quốc,bắt đầu cuộc sống lưu vong kéo dài mười hai năm ở những quốc gia: Ác-hen-ti- na và Tây Ban Nha. Quãng thời gian này đã để lại những dấu ấn vô cùng sâu sắc trong cuộc đời ông cũng như trong văn nghiệp.
YUKIO MISHIMA (Nhật Bản)YUKIO MISHIMA tên thật là HIRAOKA KIMITAKE (1925-1970). Sinh tại Tokyo.Tốt nghiệp Đại học Tổng hợp Tokyo . Nhà văn, kịch tác gia, đạo diễn sân khấu và điện ảnh, diễn viên.Năm 16 tuổi đã xuất bản truyện vừa lãng mạn Khu rừng nở hoa. Tiểu thuyết Lời thú tội của chiếc mặt nạ ra năm 1949 đã khẳng định tên tuổi của nhà văn trẻ tài năng và trở thành tác phẩm được đánh giá là kinh điển của nền văn học Nhật Bản.
KOMASHU SAKIO (Nhật Bản)Sinh 28/1/1931 tại Osaka (Nhật Bản). Nhà văn chuyên viết truyện khoa học giả tưởng nổi tiếng của Nhật Bản.Tốt nghiệp Đại học Tổng hợp Kyoto , chuyên ngành Văn học Italia.Từ năm 1957 là phóng viên Đài Phát thanh Osaka và viết cho một số các báo. Năm 1961 chiến thắng trong cuộc thi truyện ngắn giả tưởng xuất sắc do tạp chí "SF Magasines" tổ chức.Tác phẩm của Komatsu đã được dịch ra rất nhiều thứ tiếng trên thế giới.
S. MROZEK (Ba Lan)Có lần tôi bắt gặp một con chó ác bụng đang rượt đuổi một con mèo. Bởi tôi là người yêu động vật nên tôi bèn vớ ngay một cục đá to sụ quẳng vào con chó khiến nó ngã lăn quay, nằm đứ đừ một hồi lâu. Chú mèo nhỏ không nhà, con vật bé xíu nom mệt phờ râu. Không chút do dự - tôi cho nó nương nhờ. Đây quả là một con mèo đẹp mã, lông mịn màng, mắt long lanh. Tôi đem nhốt nó vào trong nhà, đoạn bỏ đi chơi bời trác táng.
KITA MORIO (Nhật Bản)Kita Morio (sinh năm 1927) là nhà văn thuộc thế hệ hậu chiến của Nhật Bản. Tốt nghiệp Đại học Y. Năm 1960 được trao giải thưởng mang tên Akutagawa với truyện ngắn Trong bóng tối đêm, cốt truyện xảy ra trong một bệnh viện tâm thần ở Đức thời kì Chiến Tranh Thế Giới thứ II. Nổi tiếng với các tác phẩm giả tưởng khoa học và chống chiến tranh.
SINCLAIR LEWISLGT: SINCLAIR LEWIS (1885 - 1951, giải thưởng Nobel 1930)Ông là tiểu thuyết gia, người viết truyện ngắn có tiếng và nhà viết phê bình có uy tín ở Mỹ.
BRUNO LESSINGLGT: Bruno Lessing (1870-1940) sinh tại New York, Mỹ. Tên thật của ông là Rudolp Block nhưng ông nổi tiếng với tư cách là nhà văn chuyên viết truyện ngắn dưới bút danh Bruno Lessing. Ông là phóng viên và sau đó là biên tập viên cho nhiều tờ báo. Mô tả của Lessing về cuộc sống của người Do Thái ở New York được đánh giá cao. Truyện dưới đây được dẫn dắt một cách hấp dẫn, lý thú, làm nổi bật mối quan hệ giữa hai thế hệ: cha và con, vấn đề nhập cư, đồng hóa hay giữ bản sắc văn hóa với một giọng điệu dí dỏm.
JUAN JOSÉ ARREOLA (Sinh 1918, Nhà văn Mêhicô)LGT: Arreola là một nhà cách tân lớn về truyện kể. Là một người tự học tài năng, ông sở đắc một nền văn hoá rộng lớn, cũng như trải qua nhiều nghề khác nhau để kiếm sống. Arreola chủ yếu sáng tác những truyện kể ngắn, cô đúc, mỉa mai, hay bí ẩn, ưa thích cái nghịch lý và ông là một trong những bậc thầy của hình thức truyện ngắn này. Ba tuyển tập truyện ngắn của ông là Varia Invencion (1049), Confabulario (1952), Confabulario Définitivo (1087).
KAWABATA YASUNARI LGT: KAWABATA YASUNARI (1899 - 1972) là nhà văn đầu tiên của Nhật Bản đoạt giải thưởng Nobel văn chương (1968). Ông nổi tiếng thế giới với những tiểu thuyết như: Xứ Tuyết (1935 - 1947), Ngàn cánh hạc (1949), Tiếng rền của núi (1950), Người đẹp say ngủ (1961), Cố đô (1962)...
MATVEEVA ANNALGT: MATVEEVA ANNA (Sinh 1975) là một nhà văn nữ trẻ của văn học Nga đương đại tài năng đầy hứa hẹn. Đã xuất bản một số tập truyện ngắn. Truyện ngắn của cô đã được đăng trong các tạp chí lớn của Nga như Thế giới mới, Tháng Mười. Văn xuôi của cô hóm hỉnh, thể hiện sự tò mò sắc sảo trước cuộc sống và con người. Tác phẩm của cô được xem như thể hiện một số sắc thái và đặc điểm của văn xuôi hậu hiện đại Nga hiện nay. Xin trân trọng giới thiệu truyện ngắn “Con chó” dưới đây của nữ văn sĩ qua bản dịch của nữ dịch giả Đào Tuấn Ảnh.
YVELINE FÉRAYLTS: Monsieur le paresseux là cuốn tiểu thuyết lịch sử dày gần 300 trang của nữ văn sỹ Pháp Yveline Féray viết về Đại danh y Việt Nam Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác, do Nhà xuất bản Robert Laffont ở Paris ấn hành năm 2000. Trước đó, năm 1989 nữ văn sỹ này đã cho xuất bản ở Pháp cuốn tiểu thuyết dày 1000 trang Dix mille printemps, viết về Nguyễn Trãi - nhà chính trị, quân sự lỗi lạc; nhà thơ lớn của Việt Nam ở thế kỷ XV.
MARSEL SALIMOV (LB NGA)Đất nước ta quá giàu! Vì thế tôi nảy ra ý định muốn cuỗm một thứ gì đó. Những tên kẻ cắp ngày nay chả giống như trước đây. Chúng không thèm để mắt đến những thứ lặt vặt. Cả một đoàn tàu bỗng dưng biến mất tăm! Những nhà máy không thể di dời được, thế nhưng người ta lại nghĩ ra kế chiếm đoạt chúng. Nghe đồn nay mai người ta sẽ bắt đầu chia chác cả đất lẫn nước!
AKILE CAMPANILE(Nhà văn Italia)LTS: Số Tết này, TCSH chọn một truyện ngắn hài hước của một nhà văn Ý, có nhan đề “Ngón nghề kinh doanh”, qua bản dịch của dịch giả nổi tiếng Lê Sơn, để bạn đọc có dịp thư giãn trong dịp đầu Xuân.
HERMANN HESSE Tương truyền thi nhân người Tàu tên Han Fook thuở thiếu thời chỉ thao thức với một khát khao kỳ diệu là muốn học hết mọi điều và tự rèn luyện mình đến hoàn hảo trong tất cả các môn liên quan đến nghệ thuật thi ca.
OLGA TOKARCZUK (Nữ nhà văn Ba Lan)LGT: Nữ văn sĩ Ba Lan Olga Tokarczuk sinh năm 1962 tại Sulechow, Ba Lan. Bà là nhà văn “hậu hiện đại” và “nữ quyền”. Năm 1979 những truyện ngắn đầu tay của bà được đăng tải trên Tạp chí Thanh niên, năm 1989 những bài thơ đầu tay được in trong các tạp chí “Rađa” và “Đời sống văn học”.
NADINE GORDIMER ( Phi), Giải Nobel 1991LGT: Nữ văn sĩ Nadine Gordimer sinh năm 1923 tại Phi. Bà cho in truyện ngắn đầu tay năm 15 tuổi và tiếp tục nghề văn khi còn là sinh viên Đại học Wirwatersrand. Có thời kỳ sách của bà bị chế độ phân biệt chủng tộc Phi cấm đoán. N.Gordimer được trao tặng nhiều giải thưởng văn học, trong đó có giải Nobel văn chương năm 1991.
OLGA TOKARCZUKLGT: Trong số tháng 3 – 2007 (217), Sông Hương đã giới thiệu tới bạn đọc truyện ngắn “Người đàn bà xấu nhất hành tinh” của OLGA TOKARCZUK, một nữ văn sĩ thuộc dòng văn học nữ “hậu hiện đại Ba Lan”. Số báo này, Sông Hương xin giới thiệu tiếp truyện ngắn “Vũ nữ”. Đây là một truyện ngắn độc đáo dựa trên một leimotic “cuộc đối thoại vô hình” giữa người con gái và người cha, láy đi láy lại đến 6 lần, thể hiện cuộc chiến đấu âm thầm dữ dội, tự khẳng định mình trong nghệ thuật, chống lại sức mạnh ám ảnh của mặc cảm “bất tài”.
BERNARD MALAMUDLGT: Bernard Malamud sinh năm 1914 tại Brooklyn, New York, lớn lên trong thời kỳ Đại Khủng hoảng Kinh tế, là người Nga gốc Do Thái trong một gia đình bán tạp hoá. Ông đã xuất bản nhiều tiểu thuyết, truyện ngắn và được nhận nhiều giải thưởng văn học.
RADOI RALIN (Bungari)LGT: Đây là một truyện có ý vị sâu xa với các môtíp sự cám dỗ của quyền lực, “sự đồng loã ngây thơ” với tội ác, sự tự nhận thức và tự trừng phạt. Nhưng trên hết là sự vạch trần và tố cáo sự bịp bợm quỷ kế của giới quyền lực. Đây là một truyện ngụ ngôn mới đặc sắc. Xin trân trọng giới thiệu với bạn đọc.
ZACE HAMMERTON (Anh quốc)LGT: Truyện dựng chân dung của một kẻ “Sính khiếu nại” “một cách hài hước, bố của John Peters có “Thú đam mê sưu tập tem”. Cách dẫn chuyện tài tình ở cái chi tiết sự ham mê của anh với một loại tem đặc biệt không đục lỗ chiếu ứng với cái kết bất ngờ của truyện “Có của rơi vào tay mà để vuột mất”. Mời bạn đọc thưởng thức.