Trên những chuyến tàu

15:04 27/12/2023

NGUYỄN PHÚC ƯNG ÂN
                       Hi ký

Tôi tỉnh giấc. Ngoảnh sang bên cạnh thấy các bạn đã ngồi dậy. Nằm yên trong bóng đêm, tôi thử tính xem mình đang còn cách Huế mấy cây số.

Ảnh: tư liệu

Chiếc đầu máy xe lửa 500 chạy củi đang hồng hộc lao trong mưa nhẹ và gió lạnh quyện khói như quấn quýt quanh chiếc "tender" bụi bặm. Cả tiểu đội vừa đi tuyên truyền cho ngày bầu cử Quốc hội khóa đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ở Phú Lộc, nay trở về Huế trong đêm để các anh các chị đủ tuổi sáng ngày mai còn đi làm nghĩa vụ công dân. Đi tuyên truyền tận các vùng sâu về ý nghĩa ngày bầu cử, qua nhiều lần giải thích cho đồng bào, đến hôm nay, các anh các chị, kể cả tôi - dù biết mình chưa đủ 18 tuổi - cũng tự thấy náo nức thực sự, trước ngày hội của dân chúng đi bầu ra cơ quan quyền lực cao nhất của Nhà nước vừa mới thành lập nhưng đã phải chống nhiều giặc: giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm.

Đối với Đội Thanh niên Xung phong Trung Bộ, đường sắt vừa là phương tiện, vừa là nơi có quần chúng để chúng tôi tuyên truyền. Anh chị em ngành đường sắt thấy chúng tôi là tay bắt, mặt mừng, coi như "người nhà". Tàu phía Nam ra, ghé ga Truồi lấy nước, lấy củi dạo này than đá không đủ dùng - Và cái toa quá chật, tổ lái đã đưa chúng tôi lên nằm tạm trên "tender", ngay gần chỗ các anh đang lái tàu.

Bóng đêm vẫn dày đặc. Trời đầy mây. Một tiếng còi dài vang lên, bóng đèn điện quét thành vệt. Đã đến An Cựu, rồi ga Huế. Từ trong tối ra, sau hơn mười ngày về nông thôn, hôm nay thấy điện nhà ga sáng rực.

- Sao hôm nay điện như sáng hơn - tôi nói.

- Đúng đó - một nhân viên nhà ga tay cầm đèn tín hiệu trả lời. Ngày mai bầu Quốc hội, đêm nay anh em nhà đèn Huế tăng thêm ánh sáng.

Cả tiểu đội chào hỏi tổ lái và nhân viên nhà ga xong, xếp thành hàng theo tiểu đội trưởng đi bộ về cầu Tràng Tiền. Nhìn thấy ở chỗ phòng Thông tin "Trên những chuyến tàu" (trước là pharmacie Imbert) cờ đỏ sao vàng, lư đồng, khẩu hiệu, chúng tôi rất phấn chấn. Muốn vừa đi vừa hát, nhưng sực nhớ đã quá khuya, đành đi về phủ Tôn Nhơn đánh một giấc ngon lành. Đêm đó là thứ bảy, ngày 5 tháng 1 năm 1946.

Sớm ra, các anh các chị đi bầu theo phường mình ở. Tôi về phường Phú Mỹ, đến trụ sở Ủy ban, nơi bầu cử, thấy bà con đã đến rất đông. Mọi người náo nức đi bỏ phiếu. Nhiều người về mặt rất hồ hởi mà lúng túng tìm người nhờ viết giúp. Tôi ước chi có lá phiếu để tự mình viết lấy, vì đã hiểu rõ ý nghĩa, đã biết nên chọn ai. Đã hàng chục ngày cùng toàn đội đi giải thích vận động bà con, nhưng đến ngày bà con đi bỏ phiếu thì mình chưa có phiếu để bỏ, vì chưa đủ tuổi.

Không được bầu nhưng vẫn vui vẻ. Trong không khí ngày bầu cử hôm nay mình và Đội có phần nhỏ đóng góp.

* * *

Trở lại đường sắt. Hồi đó, tàu vào Nam ra Bắc, trên toa hàng hóa chồng chất (chủ yếu là gạo, bắp...) hành khách chật ních. Các tiểu đội được phép vừa tuyên truyền vừa bán ảnh Hồ Chủ Tịch để thêm kinh phí cho Đội.

Trong tiếng xình xịch, chúng tôi bắt đầu bằng một bài hát, tự giới thiệu về Đội, rồi thay nhau nói về chống giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm... Bà con rất chú ý theo dõi. Lúc đầu còn ngỡ ngàng sau quen dần, và đó đây có tiếng tán thưởng. Chúng tôi chuyển tiếp sang bán đấu giá ảnh Hồ Chủ Tịch, những bức chân dung khắc gỗ một màu, in trên giấy bản mỏng. Thấy ảnh nhiều bà con trầm trồ. Chúng tôi nói cách thức bán: ai muốn mua bao nhiêu tiền, hô giá lên. Chúng tôi rao lại ba lần; có ai trả cao hơn, chúng tôi hô giá mới. Sau ba lần hô giá mới, không ai trả hơn nữa, thì người đó được mua, trả tiền, nhận ảnh. Xong toa này, lại sang toa khác.

Có lần thật bất ngờ. Sau khi đưa ảnh lên và giới thiệu cách đấu giá như trên, một bà vừa hô giá, vừa đưa số tiền đó luôn. Chúng tôi hơi ngập ngừng. Biết ý, bà cứ ấn tiền vào tay tôi và nói: "Cứ cầm, ai mua hơn thì họ được ảnh Cụ, tiền tui không lấy lui mô". Tôi lật chiếc mũ vải rộng vành đang đội, ngửa mũ bỏ tiền vào, giơ ảnh cao... lên, đồng thời cũng giơ mũ cao lên và hô giá. Sau tiếng thứ nhất, một bà con khác hô giá cao hơn và bỏ tiền vào mũ luôn. Người thứ ba, thứ tư và cứ thế tiếp nối. Chúng tôi phải vất vả chen đi vòng quanh mãi trong toa, dẫm lên các bao gạo chất lên sàn. Sau một hồi, mũ đầy tiền. Từ đấu giá, trở thành một hình thức quyên góp đuổi giá. Mà sao không khí thật vui vẻ hồ hởi. Cuối cùng, một bà con trả cao giá hơn cả, kèm theo số tiền bỏ vào mũ. Sau khi hô lớn ba lần, không ai trả hơn, chúng tôi chuyển ảnh cho bà con đó. Cả toa hoan hô - dạo ấy còn rất ít người có thói quen vỗ tay. Tôi hào hứng dạo một câu bằng ácmônica và cả tiểu đội cùng hát vang bài "Bao chiến sĩ anh hùng"... Rồi chuyển qua toa khác. Mấy bà nói với nhau: "Con cái nhà ai mà nhanh nhẹn, dễ thương...". Lần này đếm tiền, thấy nhiều hơn hẳn lần trước, toàn là bạc Đông Dương, bạc Quan Kim. Khi có cảm tình, bà con làm theo cách của bà con, và chúng tôi thấy lòng ấm áp, đã hoàn thành công việc Đội giao. Mình cố gắng và thật thà mà bà con họ vừa bỏ tiền vừa chỉ cho cách làm, với kết quả thật bất ngờ.

* * *

Tiểu đội chúng tôi được đồng chí Hoàng Văn Diệm thay mặt Việt Minh Cô Tám (tức Việt Minh tỉnh Quảng Bình) tiếp ở trụ sở Việt Minh: nhà công sứ cũ của Pháp ở Đồng Hới. Từ phòng khách nhìn ra cửa biển Nhật Lệ, đụn cát Bảo Ninh, gió mát rượi, sóng nhấp nhô trắng xóa trên nền biển, trời xanh ngắt. Trước mặt là hồ nước bao quanh, có vườn dương liễu soi bóng. Một con đường trải dài theo bờ sông, và đến đằng kia, lại uốn gấp khúc, vườn qua cầu Mụ Kề, như đóng khung cho cảnh đẹp. Tất cả cùng ăn cơm chung với chúng tôi, từ chủ nhiệm Việt Minh đến nhân viên. Thức ăn bình thường nhưng bát đĩa thật sang trọng; đồ dùng của công sứ trước đây.

Cảnh đẹp, nhà cao, gió mát... Phải ngồi ở đây mới nhìn thấy thêm vẻ đẹp của dòng sông vừa cửa biển mang tên Nhật Lệ - ngày đẹp - Càng hiểu ra vì sao tòa công sứ được xây cất ở đây. Cái gì đẹp nhất, quý nhất, thực dân đã tìm cách chiếm đoạt, khai thác và hưởng thụ. Thế mà dân mình đang đói. Tối đó, chúng tôi tuyên truyền ở vườn hoa trong thành. Diễn đàn là một ghế cao có bậc thang nguyên là cửa trọng tài bóng chuyền. Bà con say sưa nghe. Diễn giả hùng hồn nói.

Tiểu đội chúng tôi chưa phải là đơn vị của Đội đã đi xa nhất, làm những nhiệm vụ nặng nề nhất. Nhưng bước chân của anh chị em đã để dấu từ đô thị đến vùng sâu, từ Bắc vào Nam, gần suốt dải miền Trung. Sau Đồng Hới lại vào Đà Nẵng, cũng ăn cơm chung, ngủ nhà lầu, thảm đỏ, nhà công sứ cũ. Rồi Quảng Ngãi với những mật khẩu mỗi khi ra vào cổng có các cô tự vệ trẻ măng, đội calô, tóc ngắn, quần soọc đứng gác. Có lần có anh trong tiểu đội, đến gần phía sau, định vỗ vai hỏi đường, nhưng thấy cổ trắng quá, nhìn lại thấy là con gái rút tay về; cô tự vệ quay lại, hai người cùng mỉm cười mà không ai hỏi ai câu gì.

Rồi Tam Quan, với đường sắt và nhà ga chui sâu giữa rừng dừa rậm rạp, Bồng Sơn, Phú Cát, Phú Mỹ, - nơi đây một buổi chiều, để tập trung bà con, ông trưởng ga cùng một cô gái trẻ trong phố hòa tấu các bài nhạc bằng hai cây violon, trình độ khá điêu luyện, hấp dẫn. Trong nhà ga, vết đạn máy bay Đồng minh bắn thủng còn in dấu, tôi thổi acmônica cùng hòa tấu bài Nhớ chiến khu. Bà con đến rất đông và buổi tuyên truyền thật hào hứng.

Cho đến một buổi sáng, chúng tôi đến Tuy Hòa, qua sông Đà Rằng bằng thuyền buồm, tiếp tục đi vô Nam thì gặp các tiểu đội ở phía trong ra, ai nấy hốc hác sau khi mặt trận Ninh Hòa vỡ. Một anh ở tiểu đội bạn khoe với tôi cây kiếm Nhật thiệt đẹp rồi nói: "Ở trên đèo Rù Rì, mọi người đói lả, vất dần hết mọi thứ. Ranh giới của anh, của tôi chẳng còn ý nghĩa lúc người ta đã kiệt sức. Ai mang được gì, là của người ấy. Cây kiếm này là vật mang theo cuối cùng của một anh bạn trao lại, mình cố gắng hết sức mang về Đội làm kỷ niệm. Còn nhớ trong chương trình huấn luyện, Đội có mời mấy giáo viên nam nữ về dạy anh chị em múa kiếm ở sân phủ Tôn Nhơn.

Ước gì có một sơ đồ ghi lại hết các tuyến đường anh chị em toàn Đội đã đi xung phong trong tuyên truyền..."

* * *

Các đội viên TTXP Trung Bộ, dù đi đến đâu, với đối tượng nào, cũng đều được cảm tình. Có thể do đã qua huấn luyện; có thể do chương trình được xây dựng công phu, dân chủ, thiết thực. Có thể do đội ngũ được chọn lựa đúng hướng: Những người có ít nhiều học vấn, tương đương với trình độ tương đối khá trong xã hội lúc đó, lại có tinh thần say sưa đi vào quần chúng. Có thể do không khí hào hứng của những ngày đầu giành độc lập sau đêm dài nô lệ... Nhưng đạt được kết quả đó không dễ dàng chút nào.

Nhớ lại những lần đầu, khó khăn nhất cho đội viên là lời mở đầu, khó thứ hai là lời tóm lại để đi đến kết thúc. Có trường hợp giới thiệu rồi, đứng lên rồi, mà diễn giả cứ "trồng chuối", không mở miệng được câu đầu. Nhưng mà rồi, cũng có cách của nó.

Hôm đó, ở Sịa. Trong sân đình và dưới ánh đuốc, bà con ngồi rất đông. Diễn giả được giới thiệu, bước ra, nhưng đứng mãi hồi lâu không nói được. Bỗng câu đầu tiên được bật lên: "Việt Nam,... bao năm ròng... rên xiết lầm than!..." (ngừng). "Dưới ách quân tham tàn (ngắt) đế quốc, sài lang, (lên giọng). Loài phát xít!...". Rồi tiếp đến (giọng thiết tha) "nào nhà tù, nào trại giam, biết bao nhiêu nhục hình...”.

Bà con vẫn im lặng. Cả tiểu đội nín thở. Mãi cho đến khi nói hết bài diễn giả giơ tay, gần như hô khẩu hiệu: Việt Nam! Việt Nam muôn năm, cả sân đình rung tiếng hoan hô. Toàn tiểu đội thở phào, nhẹ nhõm, đồng thanh luôn một bài: "Bao chiến sĩ, anh hùng...".

* * *

Tiếng tàu cành cạch đều đều. Cũng trên tuyến đường sắt này, rộng một mét, nhưng đã là đầu máy chạy dầu. Không có nhiều hạng toa quá cách biệt, và ghế ngồi đã có số.

Sau gần nửa thế kỷ, tôi lại đi tàu, không phải để bán đấu giá, thổi acmônica, thưa đồng bào, mà đi gặp bạn cũ của Đội theo tiếng chim gọi đàn.

Có lẽ mọi sự sống dậy bùng lên từ một thông tin ngắn gọn: "Chúng tôi đã họp mặt nhóm TTXP Trung Bộ ở Hà Nội và mời các bạn Trung Nam Bắc về Hà Nội gặp nhau ngày 31-8-1992". Cả nhóm Huế cùng nói: "Không hiểu sao, cứ nghe nói đến họp bạn TTXP Trung Bộ là cứ thấy vui mừng, nôn nao, và muốn đi ngay".

Cái gì vẫn đượm nồng sau hàng vạn ngày trời đất, bằng bao sự thử thách, hàng mấy sự biến đổi? Cứ tìm đến với nhau, cứ thoải mái cởi mở, kể cho nhau nghe những chuyện thú vị hàng mấy chục năm "để bụng”, cùng nhau hỏi cho ra tin tức về các bạn đã không còn nữa.

Các cháu nhỏ hỏi mẹ cháu: "Các ông bà nói gì gì mà vui thế? Thoáng tình đầu là gì hở mẹ?".

Xin nói hộ ông bà ngoại; là thoáng kỷ niệm đối với nhau. Và xin nói thêm còn có mối tình nào không thoáng chút nào. Nó in đậm nét đến bây giờ và suốt cả đời người: mối tình với chí hướng.

Hồi đó chúng tôi còn trẻ lắm. Đội viên gái trai trẻ nhất là 16, 17. Đội trưởng tuổi không tới 30. Đội trưởng từ nhà tù ra. Chúng tôi, những trai gái cả Trung Nam Bắc hồi đó ở Huế, về các tỉnh, từ nhà trường, đường phố, công sở đến. Những bài vỡ lòng về cách mạng, về chủ nghĩa duy vật, duy vật biện chứng mà trước còn trao đổi với nhau cả bằng tiếng Pháp cho mau hiểu hơn tiếng Hán Việt mới lạ, rườm rà - về chủ trương, chính sách của đoàn thể và Nhà nước, những chuyến đi sâu vào quần chúng. Trên đường phố Tràng Tiền (đường Trần Hưng Đạo) hồi đó còn là đường đôi, ở giữa một dãy cây bút bút cành lá sum xuê) mấy chục gái trai đội mũ calô đính huy hiệu tròn có ngôi sao, vàng vàng; nền đỏ, vừa đi theo đội ngũ vừa hát vang "Đây là lúc quân dân hùng tiến"...

Ở trụ sở thì ngủ sàn gỗ, ăn cơm chung. Đi đến đâu mang theo giấy giới thiệu có câu "ăn chi cũng được". Hát, nói trực tiếp cho đồng bào nghe, và tiếp nhận từ họ tình cảm rộng lớn sâu đậm. Sống trong sáng, vô tư, non trẻ, hăng say, và cùng nhau vượt qua thử thách, kể cả đói thực sự, rét thực sự, giáp trận với kẻ thù, đạn kẻ thù bắn trúng vào mình...

Có người nói: "Thời gian của Đội còn ngắn quá!"?

Một phút còn làm nên lịch sử: "Hãy nhìn thẳng quân thù".

Huống hồ ở đây với mấy trăm ngày, mấy vạn lần nghe, mấy triệu lần thấy mà qua đó đường lối chính sách của cách mạng đi sâu vào quần chúng trên một địa bàn rộng lớn thông qua cả trăm trái tim non trẻ, nhiệt thành ở thời điểm lịch sử "ngàn cân treo sợi tóc".

Qua gần nửa thế kỷ, giờ nhìn lại, thấy tất cả ai đó đã vào Đội, và từ Đội ra đi tiếp, cho đến bây giờ vẫn chung thủy một mối tình đầu với chí hướng đã chọn.

Có cháu hỏi: "Các cô bác gặp nhau, không biết có thiết thực không? Hay chỉ là hoài niệm để rồi rơi vào quên lãng?".

Rất thiết thực. Trước hết cho chính mình, để "thêm cuộc sống cho năm tháng" của những người có tuổi.

Và còn nữa: để cùng nhớ lại và ghi chép những gì thật là trẻ, là đẹp, là quý, những cứ liệu của mối tình đầu đối với chí hướng: dân tộc độc lập và nhân dân tự do, no ấm.

Chúng tôi đã một lần yêu thực sự và không phản bội tình yêu đó.

Phúc An 3-1993
N.P.Ư.Â
(TCSH56/07&8-1993)

 

 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
  • PHẠM HỮU THU

    Với tư cách là Bí thư Tỉnh ủy lâm thời và Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Việt Nam độc lập đồng minh (Việt Minh) của tỉnh Thừa Thiên - Huế, đầu năm 1942, sau khi vượt ngục trở về, đồng chí Nguyễn Chí Thanh đã có quãng thời gian gắn bó với vùng đầm Cầu Hai, nơi có cồn Rau Câu, được Tỉnh ủy lâm thời chọn làm địa điểm huấn luyện đội ngũ cán bộ, đảng viên.
    Để đảm bảo bí mật và an toàn, Tỉnh ủy đã chọn một số cơ sở là cư dân thủy diện đảm trách việc bảo vệ và đưa đón cán bộ.
    Số cơ sở này chủ yếu là dân vạn đò của làng chài Nghi Xuân.

  • TRẦN NGUYÊN

    Thăm Khu lưu niệm Đại tướng Nguyễn Chí Thanh, như được trở về mái nhà thân thương nơi làng quê yêu dấu. Những ngôi nhà bình dị nối nhau với liếp cửa mở rộng đón ánh nắng rọi vào góc sâu nhất.

  • PHẠM HỮU THU
           Nhân kỷ niệm ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam 22 - 12

    “Có những sự thật quá lớn lao của một thời, đến nỗi hậu thế nhìn qua lớp sương mù của thời gian, không thể nào tin nổi” (Nhà văn Phùng Quán).

  • TRẦN THỊ KIÊN TRINH

    Mùa hè năm nay tôi có dịp trở lại Sài Gòn. Thành phố với bao đổi thay nhưng tôi chưa kịp nhận thấy hết bởi thời gian tôi lưu lại Sài Gòn quá ngắn ngủi.

  • HOÀNG HƯƠNG TRANG

    Cũng lạ cho cái xứ Huế của tôi, cái chi cũng khác hơn thiên hạ. Nắng thì nắng cháy da phỏng trán, mưa thì mưa thúi đất thúi đai, dầm dề không dứt. Vài ba năm lại một trận lụt, trận bão to đùng.

  • BÙI KIM CHI

    “Tháng 7 nước nhảy lên bờ”. Mà lên bờ thiệt. Mưa. Mưa. Mưa… kéo dài lê thê. Lúc đầu nhỏ sau lớn dần. Nặng hạt. Xối xả. Cây cối trong vườn ngả nghiêng theo mưa và gió. Cây Lựu trước sân nhà tôi tơi tả. Trời tối dần. Mưa càng lúc càng to. Ào ào như thác đổ. Mưa suốt đêm. Sấm đất cuốn vào mưa. Ầm ầm. Ào ào. Âm thanh rộn rã…

  • Khi những giọt mưa ngâu tháng bảy bất ngờ trở về, làm xao động cả bầu trời mệt mỏi đang chìm lặng trong lòng sông Hương, Huế bỗng rùng mình chợt tỉnh cơn mê mùa hạ. Đó cũng là thời khắc mùa Vu lan đang về trên đất trời cố đô.

  • Hồi còn học ở Trường Đại học Sư phạm Huế, tôi có hai người bạn, hợp thành một nhóm, thường uống rượu với nhau khi vui cũng như khi buồn.

  • LTS: Tác giả của câu chuyện dưới đây, sinh ra và lớn lên ở làng quê Triều Sơn Nam, xã Hương Vinh, Hương Trà, Thừa Thiên Huế. Anh sinh ra trong sự oan nghiệt khủng khiếp của cuộc sống khi buổi sáng mẹ anh quằn quại nghe tin đau xé mất chồng, buổi chiều mẹ đón nhận tiếng khóc chào đời của anh.

  • NGUYỄN LỆ BA

    Gia phả họ Nguyễn Quang ghi chép, tổ tiên chúng tôi là những người đã ra đi từ đất Huế. Thuở dong buồm về phương Nam đi tìm đất mới, những lưu dân đầu tiên đến dựng làng lập ấp trên vùng sông nước quê tôi chỉ vỏn vẹn vài dòng họ với đôi ba chục con người.

  • BÙI KIM CHI

    Đã có một lần tôi được trở về thăm Huế vào một mùa trăng. Cảnh vật thiên nhiên trời ban riêng cho Huế làm Huế duyên dáng và đẹp lạ lùng vào những đêm trăng. Trăng Huế vì thế mà có nét đẹp rất riêng, là lạ, duyên dáng, lộng lẫy và quyến rũ trong phong cảnh vừa thơ, vừa duyên và lãng mạn của trời đất Huế về đêm.

  • NHÂN KỶ NIỆM 50 NĂM BỒ TÁT THÍCH QUẢNG ĐỨC VỊ PHÁP THIÊU THÂN

    NGUYỄN BỘI NHIÊN

  • Một nam sinh như tôi lại học trường nữ trung học Đồng Khánh (trường THPT Hai Bà Trưng hiện nay), có thể một số người cho đó là chuyện lạ đời. Nhưng đấy lại là sự thật 100%! Tuy tôi chỉ học ở trường Đồng Khánh một năm lớp năm bậc tiểu học (bây giờ là lớp 1) vào khoảng những năm cuối thập kỷ 40 đầu thập kỷ 50 của thế kỷ trước. Nhưng không hiểu tại sao tôi lại còn nhớ nhiều những kỷ niệm về năm học đầu đời ấy mãi tới tận bây giờ.

  • TRIỆU BÔN
             Hồi ký

    Mùa mưa năm 1968 ở mặt trận đường Chín - Khe Sanh, trung đoàn 246 chúng tôi được gọi đùa là trung đoàn hai bốn đói. Ngày ngày chúng tôi sống bằng ba nguồn chính: thịt thú rừng, rau môn thục, và đỗ xanh.

  • NGUYỄN MẠNH QUÝ

    Có lẽ bởi một nỗi niềm đau đáu về quê hương, nơi mình được sinh ra và chắt chiu nuôi dưỡng trong từng hạt cát, từng trận mưa dầm dề thúi trời thúi đất hay nắng lửa trên cồn khô cát cháy, mà những con người ở đây sẵn mang một tấm lòng lồng lộng gió trời trải đi khắp muôn phương...

  • BÙI KIM CHI

    Tôi đang đứng ở đây. Bến xe đò Đông Ba của thế kỷ trước. Bùi ngùi. Xúc động. Bến xe đã không còn. Thật buồn khi nơi này đã vắng bóng những chiếc xe đò dân dã, thân thương thuở ấy cùng những tà áo trắng học trò dung dị với giọng Huế trong trẻo ơi ới gọi nhau lên xe kẻo trễ giờ học.

  • NGUYỄN VĂN UÔNG
                         Tùy bút

    Tuổi càng cao càng có nhiều nỗi nhớ vu vơ. Tôi đang trong tình trạng đó. Nhớ cồn cào đến xao xuyến là mỗi dịp xuân về: Nhớ Tết quê tôi. Nhớ tuổi thơ tôi và nhiều nỗi nhớ khác nữa.

  • HOÀNG HƯƠNG TRANG

    Thuở nhỏ, tôi thường trốn ngủ trưa đi nghe hát vè. Ở Huế lúc ấy gọi là nói vè, như theo tôi phải gọi là hát vè thì đúng hơn, bởi người hát có bài có bản, có giai điệu, trầm bổng, có cả nhạc cụ.

  • HỒ XUÂN MÃN
    (Nguyên UVTƯ Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Thừa Thiên Huế)

    Năm 1973, để chuẩn bị cho ký kết hiệp định Paris, Khu ủy và Quân khu Trị Thiên - Huế chủ trương tổ chức các lực lượng (bao gồm cả bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân du kích) tổ chức đánh chiếm các căn cứ và phân chi khu địch để giành đất, nắm dân, cắm cờ giành quyền làm chủ.

  • TRẦN THỊ NHƯ MÂN

    Tôi sinh ra trong gia đình quan lại, đã mấy đời làm quan với triều đình Huế(1). Khi tôi lớn lên thì chế độ cai trị của thực dân Pháp đã bước vào giai đoạn ổn định sau chiến tranh thế giới thứ nhất. Chiếc ngai vàng của nhà Nguyễn từ nay trở đi chắc không còn phải chịu những cơn sóng gió đáng kể chi nữa.