NGUYỄN PHÚC ƯNG ÂN
Hồi ký
Tôi tỉnh giấc. Ngoảnh sang bên cạnh thấy các bạn đã ngồi dậy. Nằm yên trong bóng đêm, tôi thử tính xem mình đang còn cách Huế mấy cây số.
Ảnh: tư liệu
Chiếc đầu máy xe lửa 500 chạy củi đang hồng hộc lao trong mưa nhẹ và gió lạnh quyện khói như quấn quýt quanh chiếc "tender" bụi bặm. Cả tiểu đội vừa đi tuyên truyền cho ngày bầu cử Quốc hội khóa đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ở Phú Lộc, nay trở về Huế trong đêm để các anh các chị đủ tuổi sáng ngày mai còn đi làm nghĩa vụ công dân. Đi tuyên truyền tận các vùng sâu về ý nghĩa ngày bầu cử, qua nhiều lần giải thích cho đồng bào, đến hôm nay, các anh các chị, kể cả tôi - dù biết mình chưa đủ 18 tuổi - cũng tự thấy náo nức thực sự, trước ngày hội của dân chúng đi bầu ra cơ quan quyền lực cao nhất của Nhà nước vừa mới thành lập nhưng đã phải chống nhiều giặc: giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm.
Đối với Đội Thanh niên Xung phong Trung Bộ, đường sắt vừa là phương tiện, vừa là nơi có quần chúng để chúng tôi tuyên truyền. Anh chị em ngành đường sắt thấy chúng tôi là tay bắt, mặt mừng, coi như "người nhà". Tàu phía Nam ra, ghé ga Truồi lấy nước, lấy củi dạo này than đá không đủ dùng - Và cái toa quá chật, tổ lái đã đưa chúng tôi lên nằm tạm trên "tender", ngay gần chỗ các anh đang lái tàu.
Bóng đêm vẫn dày đặc. Trời đầy mây. Một tiếng còi dài vang lên, bóng đèn điện quét thành vệt. Đã đến An Cựu, rồi ga Huế. Từ trong tối ra, sau hơn mười ngày về nông thôn, hôm nay thấy điện nhà ga sáng rực.
- Sao hôm nay điện như sáng hơn - tôi nói.
- Đúng đó - một nhân viên nhà ga tay cầm đèn tín hiệu trả lời. Ngày mai bầu Quốc hội, đêm nay anh em nhà đèn Huế tăng thêm ánh sáng.
Cả tiểu đội chào hỏi tổ lái và nhân viên nhà ga xong, xếp thành hàng theo tiểu đội trưởng đi bộ về cầu Tràng Tiền. Nhìn thấy ở chỗ phòng Thông tin "Trên những chuyến tàu" (trước là pharmacie Imbert) cờ đỏ sao vàng, lư đồng, khẩu hiệu, chúng tôi rất phấn chấn. Muốn vừa đi vừa hát, nhưng sực nhớ đã quá khuya, đành đi về phủ Tôn Nhơn đánh một giấc ngon lành. Đêm đó là thứ bảy, ngày 5 tháng 1 năm 1946.
Sớm ra, các anh các chị đi bầu theo phường mình ở. Tôi về phường Phú Mỹ, đến trụ sở Ủy ban, nơi bầu cử, thấy bà con đã đến rất đông. Mọi người náo nức đi bỏ phiếu. Nhiều người về mặt rất hồ hởi mà lúng túng tìm người nhờ viết giúp. Tôi ước chi có lá phiếu để tự mình viết lấy, vì đã hiểu rõ ý nghĩa, đã biết nên chọn ai. Đã hàng chục ngày cùng toàn đội đi giải thích vận động bà con, nhưng đến ngày bà con đi bỏ phiếu thì mình chưa có phiếu để bỏ, vì chưa đủ tuổi.
Không được bầu nhưng vẫn vui vẻ. Trong không khí ngày bầu cử hôm nay mình và Đội có phần nhỏ đóng góp.
* * *
Trở lại đường sắt. Hồi đó, tàu vào Nam ra Bắc, trên toa hàng hóa chồng chất (chủ yếu là gạo, bắp...) hành khách chật ních. Các tiểu đội được phép vừa tuyên truyền vừa bán ảnh Hồ Chủ Tịch để thêm kinh phí cho Đội.
Trong tiếng xình xịch, chúng tôi bắt đầu bằng một bài hát, tự giới thiệu về Đội, rồi thay nhau nói về chống giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm... Bà con rất chú ý theo dõi. Lúc đầu còn ngỡ ngàng sau quen dần, và đó đây có tiếng tán thưởng. Chúng tôi chuyển tiếp sang bán đấu giá ảnh Hồ Chủ Tịch, những bức chân dung khắc gỗ một màu, in trên giấy bản mỏng. Thấy ảnh nhiều bà con trầm trồ. Chúng tôi nói cách thức bán: ai muốn mua bao nhiêu tiền, hô giá lên. Chúng tôi rao lại ba lần; có ai trả cao hơn, chúng tôi hô giá mới. Sau ba lần hô giá mới, không ai trả hơn nữa, thì người đó được mua, trả tiền, nhận ảnh. Xong toa này, lại sang toa khác.
Có lần thật bất ngờ. Sau khi đưa ảnh lên và giới thiệu cách đấu giá như trên, một bà vừa hô giá, vừa đưa số tiền đó luôn. Chúng tôi hơi ngập ngừng. Biết ý, bà cứ ấn tiền vào tay tôi và nói: "Cứ cầm, ai mua hơn thì họ được ảnh Cụ, tiền tui không lấy lui mô". Tôi lật chiếc mũ vải rộng vành đang đội, ngửa mũ bỏ tiền vào, giơ ảnh cao... lên, đồng thời cũng giơ mũ cao lên và hô giá. Sau tiếng thứ nhất, một bà con khác hô giá cao hơn và bỏ tiền vào mũ luôn. Người thứ ba, thứ tư và cứ thế tiếp nối. Chúng tôi phải vất vả chen đi vòng quanh mãi trong toa, dẫm lên các bao gạo chất lên sàn. Sau một hồi, mũ đầy tiền. Từ đấu giá, trở thành một hình thức quyên góp đuổi giá. Mà sao không khí thật vui vẻ hồ hởi. Cuối cùng, một bà con trả cao giá hơn cả, kèm theo số tiền bỏ vào mũ. Sau khi hô lớn ba lần, không ai trả hơn, chúng tôi chuyển ảnh cho bà con đó. Cả toa hoan hô - dạo ấy còn rất ít người có thói quen vỗ tay. Tôi hào hứng dạo một câu bằng ácmônica và cả tiểu đội cùng hát vang bài "Bao chiến sĩ anh hùng"... Rồi chuyển qua toa khác. Mấy bà nói với nhau: "Con cái nhà ai mà nhanh nhẹn, dễ thương...". Lần này đếm tiền, thấy nhiều hơn hẳn lần trước, toàn là bạc Đông Dương, bạc Quan Kim. Khi có cảm tình, bà con làm theo cách của bà con, và chúng tôi thấy lòng ấm áp, đã hoàn thành công việc Đội giao. Mình cố gắng và thật thà mà bà con họ vừa bỏ tiền vừa chỉ cho cách làm, với kết quả thật bất ngờ.
* * *
Tiểu đội chúng tôi được đồng chí Hoàng Văn Diệm thay mặt Việt Minh Cô Tám (tức Việt Minh tỉnh Quảng Bình) tiếp ở trụ sở Việt Minh: nhà công sứ cũ của Pháp ở Đồng Hới. Từ phòng khách nhìn ra cửa biển Nhật Lệ, đụn cát Bảo Ninh, gió mát rượi, sóng nhấp nhô trắng xóa trên nền biển, trời xanh ngắt. Trước mặt là hồ nước bao quanh, có vườn dương liễu soi bóng. Một con đường trải dài theo bờ sông, và đến đằng kia, lại uốn gấp khúc, vườn qua cầu Mụ Kề, như đóng khung cho cảnh đẹp. Tất cả cùng ăn cơm chung với chúng tôi, từ chủ nhiệm Việt Minh đến nhân viên. Thức ăn bình thường nhưng bát đĩa thật sang trọng; đồ dùng của công sứ trước đây.
Cảnh đẹp, nhà cao, gió mát... Phải ngồi ở đây mới nhìn thấy thêm vẻ đẹp của dòng sông vừa cửa biển mang tên Nhật Lệ - ngày đẹp - Càng hiểu ra vì sao tòa công sứ được xây cất ở đây. Cái gì đẹp nhất, quý nhất, thực dân đã tìm cách chiếm đoạt, khai thác và hưởng thụ. Thế mà dân mình đang đói. Tối đó, chúng tôi tuyên truyền ở vườn hoa trong thành. Diễn đàn là một ghế cao có bậc thang nguyên là cửa trọng tài bóng chuyền. Bà con say sưa nghe. Diễn giả hùng hồn nói.
Tiểu đội chúng tôi chưa phải là đơn vị của Đội đã đi xa nhất, làm những nhiệm vụ nặng nề nhất. Nhưng bước chân của anh chị em đã để dấu từ đô thị đến vùng sâu, từ Bắc vào Nam, gần suốt dải miền Trung. Sau Đồng Hới lại vào Đà Nẵng, cũng ăn cơm chung, ngủ nhà lầu, thảm đỏ, nhà công sứ cũ. Rồi Quảng Ngãi với những mật khẩu mỗi khi ra vào cổng có các cô tự vệ trẻ măng, đội calô, tóc ngắn, quần soọc đứng gác. Có lần có anh trong tiểu đội, đến gần phía sau, định vỗ vai hỏi đường, nhưng thấy cổ trắng quá, nhìn lại thấy là con gái rút tay về; cô tự vệ quay lại, hai người cùng mỉm cười mà không ai hỏi ai câu gì.
Rồi Tam Quan, với đường sắt và nhà ga chui sâu giữa rừng dừa rậm rạp, Bồng Sơn, Phú Cát, Phú Mỹ, - nơi đây một buổi chiều, để tập trung bà con, ông trưởng ga cùng một cô gái trẻ trong phố hòa tấu các bài nhạc bằng hai cây violon, trình độ khá điêu luyện, hấp dẫn. Trong nhà ga, vết đạn máy bay Đồng minh bắn thủng còn in dấu, tôi thổi acmônica cùng hòa tấu bài Nhớ chiến khu. Bà con đến rất đông và buổi tuyên truyền thật hào hứng.
Cho đến một buổi sáng, chúng tôi đến Tuy Hòa, qua sông Đà Rằng bằng thuyền buồm, tiếp tục đi vô Nam thì gặp các tiểu đội ở phía trong ra, ai nấy hốc hác sau khi mặt trận Ninh Hòa vỡ. Một anh ở tiểu đội bạn khoe với tôi cây kiếm Nhật thiệt đẹp rồi nói: "Ở trên đèo Rù Rì, mọi người đói lả, vất dần hết mọi thứ. Ranh giới của anh, của tôi chẳng còn ý nghĩa lúc người ta đã kiệt sức. Ai mang được gì, là của người ấy. Cây kiếm này là vật mang theo cuối cùng của một anh bạn trao lại, mình cố gắng hết sức mang về Đội làm kỷ niệm. Còn nhớ trong chương trình huấn luyện, Đội có mời mấy giáo viên nam nữ về dạy anh chị em múa kiếm ở sân phủ Tôn Nhơn.
Ước gì có một sơ đồ ghi lại hết các tuyến đường anh chị em toàn Đội đã đi xung phong trong tuyên truyền..."
* * *
Các đội viên TTXP Trung Bộ, dù đi đến đâu, với đối tượng nào, cũng đều được cảm tình. Có thể do đã qua huấn luyện; có thể do chương trình được xây dựng công phu, dân chủ, thiết thực. Có thể do đội ngũ được chọn lựa đúng hướng: Những người có ít nhiều học vấn, tương đương với trình độ tương đối khá trong xã hội lúc đó, lại có tinh thần say sưa đi vào quần chúng. Có thể do không khí hào hứng của những ngày đầu giành độc lập sau đêm dài nô lệ... Nhưng đạt được kết quả đó không dễ dàng chút nào.
Nhớ lại những lần đầu, khó khăn nhất cho đội viên là lời mở đầu, khó thứ hai là lời tóm lại để đi đến kết thúc. Có trường hợp giới thiệu rồi, đứng lên rồi, mà diễn giả cứ "trồng chuối", không mở miệng được câu đầu. Nhưng mà rồi, cũng có cách của nó.
Hôm đó, ở Sịa. Trong sân đình và dưới ánh đuốc, bà con ngồi rất đông. Diễn giả được giới thiệu, bước ra, nhưng đứng mãi hồi lâu không nói được. Bỗng câu đầu tiên được bật lên: "Việt Nam,... bao năm ròng... rên xiết lầm than!..." (ngừng). "Dưới ách quân tham tàn (ngắt) đế quốc, sài lang, (lên giọng). Loài phát xít!...". Rồi tiếp đến (giọng thiết tha) "nào nhà tù, nào trại giam, biết bao nhiêu nhục hình...”.
Bà con vẫn im lặng. Cả tiểu đội nín thở. Mãi cho đến khi nói hết bài diễn giả giơ tay, gần như hô khẩu hiệu: Việt Nam! Việt Nam muôn năm, cả sân đình rung tiếng hoan hô. Toàn tiểu đội thở phào, nhẹ nhõm, đồng thanh luôn một bài: "Bao chiến sĩ, anh hùng...".
* * *
Tiếng tàu cành cạch đều đều. Cũng trên tuyến đường sắt này, rộng một mét, nhưng đã là đầu máy chạy dầu. Không có nhiều hạng toa quá cách biệt, và ghế ngồi đã có số.
Sau gần nửa thế kỷ, tôi lại đi tàu, không phải để bán đấu giá, thổi acmônica, thưa đồng bào, mà đi gặp bạn cũ của Đội theo tiếng chim gọi đàn.
Có lẽ mọi sự sống dậy bùng lên từ một thông tin ngắn gọn: "Chúng tôi đã họp mặt nhóm TTXP Trung Bộ ở Hà Nội và mời các bạn Trung Nam Bắc về Hà Nội gặp nhau ngày 31-8-1992". Cả nhóm Huế cùng nói: "Không hiểu sao, cứ nghe nói đến họp bạn TTXP Trung Bộ là cứ thấy vui mừng, nôn nao, và muốn đi ngay".
Cái gì vẫn đượm nồng sau hàng vạn ngày trời đất, bằng bao sự thử thách, hàng mấy sự biến đổi? Cứ tìm đến với nhau, cứ thoải mái cởi mở, kể cho nhau nghe những chuyện thú vị hàng mấy chục năm "để bụng”, cùng nhau hỏi cho ra tin tức về các bạn đã không còn nữa.
Các cháu nhỏ hỏi mẹ cháu: "Các ông bà nói gì gì mà vui thế? Thoáng tình đầu là gì hở mẹ?".
Xin nói hộ ông bà ngoại; là thoáng kỷ niệm đối với nhau. Và xin nói thêm còn có mối tình nào không thoáng chút nào. Nó in đậm nét đến bây giờ và suốt cả đời người: mối tình với chí hướng.
Hồi đó chúng tôi còn trẻ lắm. Đội viên gái trai trẻ nhất là 16, 17. Đội trưởng tuổi không tới 30. Đội trưởng từ nhà tù ra. Chúng tôi, những trai gái cả Trung Nam Bắc hồi đó ở Huế, về các tỉnh, từ nhà trường, đường phố, công sở đến. Những bài vỡ lòng về cách mạng, về chủ nghĩa duy vật, duy vật biện chứng mà trước còn trao đổi với nhau cả bằng tiếng Pháp cho mau hiểu hơn tiếng Hán Việt mới lạ, rườm rà - về chủ trương, chính sách của đoàn thể và Nhà nước, những chuyến đi sâu vào quần chúng. Trên đường phố Tràng Tiền (đường Trần Hưng Đạo) hồi đó còn là đường đôi, ở giữa một dãy cây bút bút cành lá sum xuê) mấy chục gái trai đội mũ calô đính huy hiệu tròn có ngôi sao, vàng vàng; nền đỏ, vừa đi theo đội ngũ vừa hát vang "Đây là lúc quân dân hùng tiến"...
Ở trụ sở thì ngủ sàn gỗ, ăn cơm chung. Đi đến đâu mang theo giấy giới thiệu có câu "ăn chi cũng được". Hát, nói trực tiếp cho đồng bào nghe, và tiếp nhận từ họ tình cảm rộng lớn sâu đậm. Sống trong sáng, vô tư, non trẻ, hăng say, và cùng nhau vượt qua thử thách, kể cả đói thực sự, rét thực sự, giáp trận với kẻ thù, đạn kẻ thù bắn trúng vào mình...
Có người nói: "Thời gian của Đội còn ngắn quá!"?
Một phút còn làm nên lịch sử: "Hãy nhìn thẳng quân thù".
Huống hồ ở đây với mấy trăm ngày, mấy vạn lần nghe, mấy triệu lần thấy mà qua đó đường lối chính sách của cách mạng đi sâu vào quần chúng trên một địa bàn rộng lớn thông qua cả trăm trái tim non trẻ, nhiệt thành ở thời điểm lịch sử "ngàn cân treo sợi tóc".
Qua gần nửa thế kỷ, giờ nhìn lại, thấy tất cả ai đó đã vào Đội, và từ Đội ra đi tiếp, cho đến bây giờ vẫn chung thủy một mối tình đầu với chí hướng đã chọn.
Có cháu hỏi: "Các cô bác gặp nhau, không biết có thiết thực không? Hay chỉ là hoài niệm để rồi rơi vào quên lãng?".
Rất thiết thực. Trước hết cho chính mình, để "thêm cuộc sống cho năm tháng" của những người có tuổi.
Và còn nữa: để cùng nhớ lại và ghi chép những gì thật là trẻ, là đẹp, là quý, những cứ liệu của mối tình đầu đối với chí hướng: dân tộc độc lập và nhân dân tự do, no ấm.
Chúng tôi đã một lần yêu thực sự và không phản bội tình yêu đó.
Phúc An 3-1993
N.P.Ư.Â
(TCSH56/07&8-1993)
Tải mã QRCode
Tháng Bảy âm. Tháng cô hồn. Mồng một âm đã rả rích mưa báo hiệu cho một tháng âm u của Tiết Ngâu. Sắp rằm, tâm trí chợt như hửng ấm khi tiếp được cái giấy Hà Nội mời dự lễ khánh thành nhà bia và Khu tưởng niệm đồng bào ta bị chết đói năm 1945. Chợt nhớ, công việc này đã manh nha từ hơn mười năm trước…
LTS: Nguyễn Hưu, bút danh Thanh Minh, sinh năm 1914, quê huyện Can Lộc, hoạt động báo chí và văn học từ những năm 1934 - 1935. Ông là nhà báo, nhà thơ, dịch giả Hán - Nôm, nhà nghiên cứu văn hóa dân gian, nhà quản lý văn hóa văn nghệ có nhiều thành tựu và cống hiến. Ông là Hội trưởng Hội văn nghệ Hà Tĩnh đầu tiên. Nhân kỷ niệm 100 năm ngày sinh của ông [21.8], VHNA sẽ lần lượt đăng một số bài viết về ông.
Vùng quê nghèo chúng tôi nằm sát chân núi Hồng Lĩnh có Hàm Anh (nay là xóm 1 xã Tân Lộc) từng sản sinh ra một Tiến sĩ xuất thân Đệ nhị giáp (Hoàng giáp) (1499) đời Lê Hiến tông tên là Phan Đình Tá (1468-?)
HỒ DZẾNH
Hồi ký
Mai sau dù có bao giờ
Đốt lò hương ấy, so tơ phím này
NGUYỄN DU
LÝ HOÀI THU
Tôi nhớ… một chiều cuối hạ năm 1972, trên con đường làng lát gạch tại nơi sơ tán Ứng Hòa - Hà Tây cũ, lần đầu tiên tôi nhìn thấy thầy. Lúc đó lớp Văn K16 của chúng tôi đang bước vào những tuần cuối của học kỳ II năm thứ nhất.
PHẠM THỊ CÚC
(Tặng bạn bè Cầu Ngói Thanh Toàn nhân Ngày Thương binh Liệt sĩ)
Người ta vẫn nói Tô Hoài là “nhà văn của thiếu nhi”. Hình như chưa ai gọi ông là “nhà văn của tuổi già”. Cho dù giai đoạn cuối trong sự nghiệp của ông – cũng là giai đoạn khiến Tô Hoài trở thành “sự kiện” của đời sống văn học đương đại chứ không chỉ là sự nối dài những gì đã định hình tên tuổi ông từ quá khứ - sáng tác của ông thường xoay quanh một hình tượng người kể chuyện từng trải qua nhiều thời kỳ lịch sử, nhiều thăng trầm của đời sống, giờ đây ngồi nhớ lại, ngẫm lại, viết lại quá khứ, không phải nhằm dạy dỗ, khuyên nhủ gì ai, mà chỉ vì muốn lưu giữ và thú nhận.
CAO THỊ QUẾ HƯƠNG
Tôi được gặp và quen nhạc sĩ Trịnh Công Sơn vào những ngày đầu mùa hè năm 1966 khi anh cùng anh Trần Viết Ngạc đến trụ sở Tổng hội Sinh viên, số 4 Duy Tân, Sài Gòn trình diễn các bài hát trong tập “Ca khúc da vàng”.
THÁI KIM LAN
Lớp đệ nhất C2 của chúng tôi ở trường Quốc Học thập niên 60, niên khóa 59/60 gồm những nữ sinh (không kể đám nam sinh học trường Quốc Học và những trường khác đến) từ trường Đồng Khánh lên, những đứa đã qua phần tú tài 1.
Nhung nhăng, tần suất ấy dường như khá dày, là ngôn từ của nhà văn Tô Hoài để vận vào những trường hợp, lắm khi chả phải đi đứng thế này thế nọ mà đương bập vào việc chi đó?
Tôi được quen biết GS. Nguyễn Khắc Phi khá muộn. Đó là vào khoảng đầu những năm 80 của thế kỉ trước, khi anh được chuyển công tác từ trường ĐHSP Vinh ra khoa Văn ĐHSPHN.
Năm 1960, tôi học lớp cuối cấp 3. Một hôm, ở khu tập thể trường cấp 2 tranh nứa của tôi ở tỉnh, vợ một thầy giáo dạy Văn, cùng nhà, mang về cho chồng một cuốn sách mới. Chị là người bán sách.
DƯƠNG PHƯỚC THU
LTS: Trên số báo 5965 ra ngày 07/02/2014, báo Thừa Thiên Huế có bài “Vài điều trong các bài viết về Cố Đại tướng Nguyễn Chí Thanh”, của tác giả Phạm Xuân Phụng, trong đó có nhắc nhiều đến các bài viết về Đại tướng đã đăng trên Sông Hương số đặc biệt tháng 12/2013 (số ĐB thứ 11), và cho rằng có nhiều sai sót trong các bài viết đó.
NGUYỄN THỊ PHƯỚC LIÊN
(Thương nhớ Cẩm Nhung của Hương, Lại, Nguyệt, Liên)
BÙI KIM CHI
Trời cuối thu. Rất đẹp. Lá phượng vàng bay đầy đường. Tôi đang trong tâm trạng náo nức của một thoáng hương xưa với con đường Bộ Học (nay là Hàn Thuyên) của một thời mà thời gian này thuở ấy tôi đã cắp sách đến trường. Thời con gái của tôi thênh thang trở về với “cặp sách, nón lá, tóc xõa ngang vai, đạp xe đạp…”. Mắt rưng rưng… để rồi…
LÊ MINH
Nguyên Tư lệnh chiến dịch Bí thư Thành ủy Huế (*)
… Chỉ còn hai ngày nữa là chiến dịch mở; tôi xin bàn giao lại cho Quân khu chức vụ "chính ủy Ban chuẩn bị chiến trường" để quay về lo việc của Thành ủy mà lúc đó tôi vẫn là Bí thư.
NGUYỄN KHOA BỘI LAN
Cách đây mấy chục năm ở thôn Gia Lạc (hiện nay là thôn Tây Thượng) xã Phú Thượng có hai nhà thơ khá quen thuộc của bà con yêu thơ xứ Huế. Đó là bác Thúc Giạ (Ưng Bình) chủ soái của Hương Bình thi xã và cha tôi, Thảo Am (Nguyễn Khoa Vi) phó soái.
(SHO). Nhân dân Việt Nam khắc sâu và nhớ mãi cuộc chiến đấu can trường bảo vệ biên giới tổ quốc thân yêu tháng 2/1979. Điều đó đã thêm vào trang sử hào hùng về tinh thần bảo vệ chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ thiêng liêng của dân tộc.
NGUYỄN CƯƠNG
Có nhiều yếu tố để Cố đô Huế là một trung tâm văn hóa du lịch, trong đó có những con đường rợp bóng cây xanh làm cho Huế thơ mộng hơn, như đường Lê Lợi chạy dọc bên bờ sông Hương, đường 23/8 đi qua trước Đại Nội, rồi những con đường với những hàng cây phượng vỹ, xà cừ, bằng lăng, me xanh... điểm tô cho Huế.
HOÀNG HƯƠNG TRANG
Cách nay hơn một thế kỷ, người Huế, kể cả lớp lao động, nông dân, buôn bán cho đến các cậu mợ, các thầy các cô, các ông già bà lão, kể cả giới quý tộc, đều ghiền một lại thuốc lá gọi là thuốc Cẩm Lệ.