Tranh lập thể

10:28 23/03/2021

LÊ THỊ HOÀI NAM

Có ai đó đã quẳng vào hiên nhà tôi một con khỉ bị thương. Vốn là bạn chí thiết của ông chủ quán "cầy tơ bảy món", tôi liền nghĩ ngay đến món giả cầy bằng thịt khỉ.

Minh họa: Trương Bé.

Tôi ba hoa với Diệu - vợ tôi, rằng: Khỉ giá trị lắm, cao khỉ đại bổ khí huyết, tráng dương bổ âm, đến "Minh Mạng thang" cũng phải vị nể mà gọi nó bằng cụ. Diệu năn nỉ khuyên tôi hãy buông tha con vật, với lý lẽ ngu dại của đàn bà "nó đang bị thương, tội nghiệp quá!" Tôi buồn cười về cái tính hay động lòng không đâu của Diệu, nhưng rồi tôi cũng chiều. Tôi hứa với Diệu để con khỉ lại nuôi và sẽ huấn luyện cho nó trở thành một nghệ sĩ xiếc. Điều đó làm Diệu vui. Nhưng đêm đến, món giả cầy bằng thịt khỉ vẫn trở về khuấy đảo giấc ngủ của tôi. Nhậu được món giả cầy bằng thịt khỉ ở trong mơ kể cũng đỡ thèm.

Tôi thường oang oang trước đám bạn bè rằng, đi xa mấy tôi cũng ngửi thấy mùi vợ. Đó là cách "ga-lăng” vợ rất hiệu nghiệm của tôi. Và để mùi của Diệu không lẫn với mùi khỉ, tôi tự nguyện đảm nhận việc chăm sóc chữa trị cho nó. Khi vết thương vùng ngực của nó đã lên da non, để lại cái sẹo hình con rết, tôi liền nghĩ ngay đến việc huấn luyện. Tôi không thích cái trò nhào lộn và đi xe đạp cũ rích của xiếc khỉ. Tôi nghĩ ra một trò độc đáo văn minh hơn là dạy cho nó chơi nhạc. Nhưng chỉ được vài hôm, cây guitare bị giật đứt tung dây. Cũng có khi nổi hứng, nó nhảy cả bốn chi lên mặt đàn, phát ra những tiếng bần bật. Còn khi nó thổi kèn lại phát ra tiếng rú, tiếng rít làm tôi giận điên chỉ muốn ra roi, khỉ vốn bắng nhắng mà nhút nhát. Khi tôi quát ầm lên hoặc chuẩn bị đánh là nó run bắn đến ị bậy. "Rõ khỉ!" tôi vừa cọ sàn nhà vừa rủa. Những lúc như thế, Diệu thường ôm con vật vào lòng, nhét táo vào miệng nó, vuốt lấy vuốt để. Rồi Diệu quay sang nhăn nhó với tôi: "Cái anh này, dạy dỗ thì phải từ từ chứ!".

Đã có một thời, Diệu là nỗi ám ảnh sáng tạo của tôi, nhưng từ ngày có con khỉ, nó đã thay thế Diệu. Hôm khai mạc gallery của tôi, cả hội kéo nhau ra quán "cầy tơ bảy món". Đám bạn bè chúc mừng tôi bằng cách tưới bia khổ vào họng nhau. Kiệu muối quệt với mắm tôm là món nhậu đặc sản. Men vào lời ra, mỗi đứa mỗi câu, chúng nó mở bài "phỏng vấn" tôi:

- Ông là Phạm Tuấn?

- Bao giờ tao cũng là Phạm Tuấn - Tôi vỗ vào ngực đánh bốp, tự khoái với cái khẩu khí yêng hùng của mình.

- Nếu tôi không nhầm thì số tranh của ông đem trưng bày lần này vừa chẵn hai tá?

- Này, đây không phải là mớ hàng xén đâu nhá, nói năng cho ra thằng đàn ông - tôi trợn mắt.

- Làm thằng đàn ông cho ra thằng đàn ông ở thời buổi này khó lắm ông anh ơi - Giọng khác chen vào.

- Này ông, tôi chỉ muốn khẳng định thôi. Tranh của ông đều có tiêu đề bằng chữ số và được trình bày theo trình tự của số tự nhiên. Theo tôi, với bố cục đó, ông đã tạo ra một tác phẩm mới.

- Nịnh khá!

- Khoan, để tôi nói hết đã. Vô tình hay hữu ý bức mang tiêu đề "Một" và "Hai mươi bốn" đều là chân dung lão... Tôn? Hì... Hì...

- Cái độ mờ ấy tao dành cho mày. Bài toán đâu chỉ một nghiệm.

- Ông không thừa nhận sự tiến hóa.

- Tiến hóa cái con khỉ!

Tôi nổi đóa vì vướng phải một dây kiệu lòng thòng. Bỗng tôi nôn thốc ra. Thế là chấm dứt cái trò "phỏng vấn" dai như giẻ rách, tôi mệt, nhưng nhẹ cả người.

* * *

Nhân chuyện con khỉ, tôi bỗng nhớ đến ông chú ruột tôi. Ông ta tuổi ngoài sáu mươi. Trình độ học vấn loảng choảng theo kiểu tân cổ giao duyên. Cộng đồng dòng họ tôi vừa ghét vừa nể sợ ông ấy chỉ vì cái máu gia trưởng và thói gàn dở có một không hai. Tính gàn của ông ấy có kể cả ngày cũng chẳng hết chuyện. Từ ngày cha tôi mất đi, ông trở thành trưởng tộc, thay mặt dòng họ thờ phụng tổ tiên. Nhưng ngay trong những chuyện nghiêm túc, linh thiêng như vậy ông ta cũng giở thói gàn. Ví như có lần ông đến nhà tôi, đề nghị tôi vẽ cho ông chân dung một con khỉ. Sở dĩ tôi dùng từ "chân dung" là vì ông yêu cầu tôi "Vẽ khỉ nhưng phải áo dài khăn đóng tử tế". Tôi ngớ người, lẩm bẩm rủa thầm ông lại giở quẻ. Thấy tôi ngây độn, tỏ ý nghi hoặc, ông liền giải thích, cũng theo lý luận gàn: "Chú không ngu để đặt lên bàn thờ tổ tiên những cái vớ vẩn không đâu. Làm gì có Thiên Đường và Địa Ngục mà sợ hãi và hy vọng. Láo tuốt! Thì cứ giả sử Phật và Chúa hiện hữu siêu hình đi. Nhưng Phật, Chúa do đâu mà ra nếu như không phải là con người? Đúng lẽ, bà Quan Âm và ông Christ phải hương hoa mà phụng thờ chúng ta chứ. Đằng này đã không được thế lại còn tự biến mình thành nô lệ. Trong khi đó loài khỉ là tổ tông, lại được khoa học khẳng định hẳn hoi lại không ai đoái tưởng”. Ông nói hùng biện, bọt sùi cả khóe miệng. Cái ý ông nẩy ra làm tôi hoang mang, nhưng định thần lại tôi thấy luẩn quẩn ngang phè. Tôi định nói với ông rằng nô lệ hay không cũng do quan niệm thôi. Còn khoa học ư? Khoa học là cái có thể chứng minh được thì cũng bác bỏ được. Mới đây thôi, tôi vừa đọc một bài báo đặt vấn đề xem xét lại nguồn gốc của loài người. Tôi vội lục tìm đọc cho ông nghe, cốt để ông từ bỏ ý định kỳ quặc, quái gở đó. Không cần biết ông có chịu nghe hay không, tôi đọc ào như một đứa trẻ thuộc bài: "Ngày nay, người ta đã đi đến khẳng định gần như tường minh rằng: Từ một loài động vật khởi đầu đã tạo ra hai nhánh phát triển song song. Một nhánh là tổ tiên con người và nhánh thứ hai là các loài vượn... Các dấu hiệu cổ sinh cho thấy, không có một con vượn nào trong số các con vượn sống ở thời xưa biến thành người". Tôi nhìn xoáy vào ông hù dọa, trấn áp "Báo đấy! Chú tin không?”. Ông ngồi như hóa phỗng. Không gian đen giăng đầy trong mắt. Bỗng bất ngờ, ông gầm lên như con thú bị thương "Vứt mẹ cái mớ hiểu biết tân thời của chúng mày đi. Đồ hư vô chủ nghĩa!". Ông ụi cửa bỏ về.

Tôi nhìn theo ông. Đúng là cái lão "ếch ngồi đáy giếng". Tại sao lão lại gầm lên như thế mà không mở mắt ra một chút. Gàn đâu có thứ gàn lạ đời, suýt tí nữa thì ô uế cả bàn thờ tổ tiên. Nhưng ngẫm... lão cũng có cái lý của lão. Đời,! khôn dại biết thế nào được... Nhưng mà đặt con khỉ hôi thối gớm ghiếc ấy lên bàn thờ tổ tiên là không thể. Nhục lắm!

"Giận cá chém thớt", tôi bổ đi tìm con khỉ của Diệu, chỉ chăm chăm một ý nghĩ duy nhất là tống khứ nó ra khỏi nhà cho khuất mắt dù Diệu thế nào cũng mặc. Tôi không thèm giết nó nữa. Cái món giả cầy thịt khỉ tự nhiên làm tôi thấy lợm. Thừa lúc Diệu vắng nhà, tôi cho nó vào bao cát. Nó vùng vẫy, cắn vào tay tôi đến chảy cả máu làm tôi giận điên, siết chặt miệng túi. Tôi đánh xe ra vùng ngoại ô và phóng sinh cho nó "cút cho khuất mắt tao". Xong việc, tôi cảm thấy nhẹ nhõm. Nhưng khi về đến nhà, tôi bật ngữa người: con khỉ không hiểu bằng cách nào đã trở về nhanh hơn tôi. Nó đang ngồi vắt vẻo bên cửa sổ gãi soàn soạt. Thấy tôi, nó cười xóe lên. Diệu đang dúi cho nó một quả táo "Anh biết không, từ sáng đến giờ không biết nó biến đi đằng nào bây giờ mới về, hư quá!".

* * *

Có ai đó đã rỉ vào tai tôi "Coi chừng, con khỉ đực nhà ông nó đẻ". Lòng tôi hoang mang, điềm gở đang thường trú trong căn hộ của tôi và Diệu? Đã bao lần tôi bàn với Diệu giết quách con khỉ đi, nhưng Diệu phản đối "nó có nhiều trò vui lắm". Tôi quay lại tự khuyên bảo mình đừng mê tín thế. Đàn ông gì mà hèn. Bây giờ nhờ khoa học đàn ông vẫn có thể sinh đẻ được thì chuyện con khỉ đực nhà tôi nó đẻ đã sao? Chẳng có gì quan trọng cả, nghĩ đến chỉ tổ mệt người. Thì cứ để nó đẻ, xem cái giống ấy nó ra làm sao? Biết đâu lại chẳng là món đáng của. Nhưng đời vốn trái khoáy, càng cố xua đuổi, ý nghĩ lại càng bám riết tôi. Cho đến một lần, không kiềm chế được giữa giờ làm việc, tôi vội chạy bổ về nhà. "Diệu ơi! Diệu!". Không có tiếng trả lời. Tôi đạp tung cánh cửa. Cảnh tượng diễn ra trước mắt tôi làm tôi chết điếng. Trong cái hoa mắt tranh tối tranh sáng, Diệu đang sóng soài trên tấm thảm màu huyết dụ. Và kìa, con khỉ... Điên tiết, tôi định xông đến xóa nát cái quan hệ quái gở ấy. Nhưng rồi tôi cứ đứng trơ ra đó. Thay vì tiến lên, tôi lại đi giật lùi. Tôi chạy như một thằng điên giữa phố. Mọi người đều dạt ra, có lẽ họ nghĩ đến một vụ săn bắt cướp. Còn tôi, linh cảm rất rõ có kẻ "bám đuôi". Bản năng tự vệ khiến tôi quay phắt lại. Ô, hóa ra là mày - con khỉ của Diệu. Nhưng lạ chưa kìa, sao bây giờ nó lại mang khuôn mặt người? Hay mặt người chỉ là cái mặt nạ của nó? Tôi giụi mắt để nhìn cho rõ: Lần này cũng lại mặt người, nhưng là một cái mặt nạ khác. Như nắm được bí quyết của phép màu nhiệm, tôi giụi mắt liên tiếp để xem tài trá hình của nó đến đâu? Thôi thì đủ cả...

Tôi ôm lấy đầu, đau đớn lao mình vào con đường dài hun hút cho đến khi trước mắt tôi là vực thẳm đen ngòm...

Có bàn tay mát dịu nào đặt lên trán tôi làm tôi tỉnh giấc. Tôi nhìn thấy khuôn mặt Diệu đầu tiên. Tôi định nhào đến bóp cổ cô ta. "Đồ quái vật dâm đãng! Đồ trá hình!". Nhưng tiếng Diệu nghe như tiếng con dế nhỏ nhẹ áp vào tai tôi "Anh sốt cao ghê quá! Trong cơn mê sảng anh gào thét, giãy giụa làm em lo phát hoảng". À, thì ra đó chỉ là ác mộng. Tôi chưa kịp hoàn hồn thì Diệu đã áp đôi môi nóng ấm, ngọt ngào lên cặp mắt chĩu nặng của tôi. "Anh uống nước chanh nóng nhé!". Mái tóc hươm vàng thơm mùi hương bưởi của Diệu xòa phủ lên mặt tôi như một liều thuốc xông thần diệu. Tôi tỉnh hẳn ra. Câu đầu tiên tôi hỏi Diệu "Con khỉ đâu?". Diệu đưa tay chỉ về phía cửa sổ. Con khỉ đang tréo chân, phùng má ngọng nghịu thổi kèn: i...è...ọ...è..., ọ... è... i...é...

Tôi bỗng cười buồn về cái tính hay dị ứng vớ vẩn không đâu của mình. Tôi bỗng sực nhớ là cho đến mãi bây giờ, tôi vẫn gọi con khỉ bằng cái tên kép: Con - Khỉ - Của - Diệu, mà nghĩ phải đặt cho nó một cái tên cho ra hồn. Nhưng mà tôi bận, công việc bù đầu, thì giờ đâu mà tên với tuổi cho một con khỉ. Thôi thì hãy để cho mọi người gọi nó theo cách riêng của mình./.

Xuân chớm - Nhâm Thân
L.T.H.N.
(TCSH48/03&4-1992)

 

 

 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • NGUYỄN HỮU THÔNGChao ơi? Xin chào Thầy, lâu ngày ghê.Tôi lúng túng một hồi mới nhận ra cô Sen. Trước mắt tôi bây giờ là một thiếu phụ với nụ cười tươi, rạng rỡ, nhưng vẫn không làm phai đi trên khuôn mặt gầy những vết hằn khốn khó.

  • ĐOÀN LÊ               Tặng anh tôi Anh làm khoa học, tôi là diễn viên nhà hát. Riêng điều đó đã không hợp nhau. Nhưng tuổi trẻ không chịu nghĩ chín chắn, chúng tôi cứ yêu nhau bất chấp mọi giông bão ở cả hai phía gia đình.

  • NGUYỄN NGỌC LỢITối đó bản Phiệt có buổi liên hoan văn nghệ. Cơm chiều xong Tản đưa tôi vào đó chơi. Chúng tôi đang chuẩn bị đi thì một cô đang dẹp đám cuốc xẻng trong góc lán nói vọng ra. Anh Tản mà đưa anh ấy đi thì có mà... Anh ấy đẹp trai, gái bản theo hết, mất phần đấy... Tản cười, cho theo bớt chứ một mình tôi... mệt lắm.

  • LÊ NGUYÊN NGỮTrong bối cảnh rạt rào gió bấc và nắng trải vàng như mật bên ngoài báo hiệu Tết sắp vê, con ngựa cũng đứng dạng bốn chân như lắng nghe câu chuyện đầy hoài niệm mà Tư Gồng bắt đầu kể tôi nghe. Giản dị vì đây là câu chuyện về chính nó, Tư Gồng trước kia đã lần khân hẹn khất với tôi chờ đến Tết Con Ngựa. Mà lúc này thì đã là cuối tháng chạp rồi.

  • NGUYỄN QUANG LẬPChiều ba mươi tết, Quỳ đạp xích lô ra ga, tính đón khách chuyến tàu vét rồi gửi xích lô, bắt xe đò về quê. Vừa vào sân ga, tàu chưa về đã có khách gọi, may thế. Khách là một trung niên mặt rỗ, quần bò áo thun, kính đen gọng vàng.

  • ĐỖ KIM CUÔNG1... Cho đến lúc sực tỉnh, tôi mới nhận ra con đường ra cánh đồng tôm và những vườn dừa dưới chân núi Đồng Bò.

  • HỒNG NHU Xóm phố nằm trên một khu đất trước đây là một dẫy đồi nghe nói vốn là nơi mồ mả dày đặc, phần lớn là mồ vô chủ không biết từ bao đời nay; và cũng chẳng biết nơi nào có nơi nào không, bởi vì gần như tất cả mồ mả ở đó đều đã bị thời gian mưa gió bào mòn, chẳng còn nấm ngôi gì cả.

  • TRẦN HẠ THÁP1*Gã nằm xuống thoải mái. Cảm giác mát lạnh của ghế đá còn rịn hơi sương buổi sớm thu giúp gã chợp mắt ngay. Công viên thành phố không chỉ là bạn đời của những ai không nhà, các tên chích choác, kẻ sống ngoài vòng luật pháp... Đây cũng là nơi khá thân quen đối với người như gã. Ít ra đã hơn bốn tháng qua, từ khi gã rời một khách sạn năm sao trong thành phố.

  • THÁI KIM LAN"Làm sao biết từng nỗi đời riêngĐể yêu thương yêu cho nồng nàn”                              Trịnh Công Sơn

  • THÁI KIM LAN(tiếp theo)

  • NGUYỄN ĐẶNG MỪNGLGT: Cuộc sống cứ lao về phía trước, song những tâm hồn đa cảm thì lại hay ngoảnh nhìn về phía sau. Nước nhảy lên bờ là ánh nhìn về những ngày đã qua giữa một vùng quê bình yên của “đêm trước đổi mới”. Một bức tranh quê sống động, dung dị song ngổn ngang những cảnh đời, những cảnh tình mà chúng ta không được phép quên, bởi tư duy đổi mới của đất nước hãy còn tiếp diễn...

  • VĨNH NGUYÊNNgô - bạn tôi rủ tôi về làng Chẻ.Đến thành phố H.H., tôi mượn chiếc xe máy của một người quen. Tôi chở Ngô về làng An Hải Trung.

  • I. Nàng là nhân vật chính của vở kịch. Vở kịch đang diễn ra. Những chủ đề về tình yêu và hôn nhân, về ước mơ và sự thật, về hoài vọng và định mệnh, về sinh ly và tử biệt, v.v và v.v... đan chéo và quyện chặt vào nhau, tạo nên một trường nghĩa lơ mơ lan man đầy ảo dị mà qua đó, những nhân vật còn lại cứ tông tốc xoay xỏa quanh một nhân vật trung tâm đang chơi trò mê hoặc: nhân vật chính.

  • Đó là lần thứ mười Malio quay về góc phố ấy. Phố hẹp, những căn nhà mặt tiền nhấp nhô, khách sạn lấp lánh đèn chen cửa hàng tơ lụa, phòng tranh sơn mài phương Đông sát với những quán cà phê nho nhỏ bài trí kiểu Tây phương...

  • Năm 1966 thầy Phan Linh dạy Toán lớp 7A tại trường cấp II xã Phúc Giang. Đó là năm chiến tranh phá hoại rất ác liệt. Máy bay Mỹ cứ nhằm những tụ điểm đông người thả bom. Học sinh đến trường phải đội mũ rơm. Để tránh bom đạn trường Phúc Giang phải sơ tán về các làng, các xóm học tạm. Lớp 7A của Phan Linh sơ tán về làng Mai.

  • Gió từ đại dương lồng lộng thổi qua cửa sông, qua bãi cát trắng xoá rồi vỗ đập vào những tàu lá dài ngoằng của loài dừa nước, oà vỡ những thanh âm xạc xào.

  • Đúng sáu năm tôi không trở lại thành phố ấy dẫu rằng trong lòng tôi luôn luôn có một nỗi ham muốn trở lại, dù trong sáu năm tôi giấu kín trong lòng mình điều đó, chôn thật sâu trong suy nghĩ của mình, chẳng hề nói ra.

  • Chúng tôi tìm được địa điểm chốt quân khá lý tưởng. Đấy là chiếc hang đá ở lưng triền núi; hang cao rộng vừa lõm sâu vào vách núi. Cửa hang được chắn bởi tảng đá khổng lồ, rất kiên cố; dù máy bay Mỹ có phát hiện thấy cửa hang mà phóng rốc két, đánh bom tấn thì người ở trong hang vẫn chẳng hề gì! B52 có rải thảm bom thì lại càng không ăn thua.

  • Sau khi dọn bàn ghế xong, bà Lan chọn chiếc bàn kê sát ngoài cửa ngồi trang điểm. Từ ngày mở quán, bà đâm ra có thói quen ngồi trang điểm như thế, vừa tiện việc mời chào khách, vừa có đủ ánh sáng đầu ngày.

  • Chiếc váy của Tuyl Cleng va quệt không ngớt vào mấy vạt cỏ hai bên vệ đường. Những chỉ hoa văn ở riềm váy trông như hai cánh tay chạy như bay xuống đồi. Cuốn vở học trên tay cô nhịp nhàng lên xuống như chiếc quạt diễn viên múa. Mùa xuân sắp đến, trời đất như rộng rinh thêm. Những con chim trao trảo, chèo bẻo, ta li eo... cũng hót vang bên rặng rừng, vui lây theo nỗi vui của Tuyl Cleng.