Tranh lập thể

10:28 23/03/2021

LÊ THỊ HOÀI NAM

Có ai đó đã quẳng vào hiên nhà tôi một con khỉ bị thương. Vốn là bạn chí thiết của ông chủ quán "cầy tơ bảy món", tôi liền nghĩ ngay đến món giả cầy bằng thịt khỉ.

Minh họa: Trương Bé.

Tôi ba hoa với Diệu - vợ tôi, rằng: Khỉ giá trị lắm, cao khỉ đại bổ khí huyết, tráng dương bổ âm, đến "Minh Mạng thang" cũng phải vị nể mà gọi nó bằng cụ. Diệu năn nỉ khuyên tôi hãy buông tha con vật, với lý lẽ ngu dại của đàn bà "nó đang bị thương, tội nghiệp quá!" Tôi buồn cười về cái tính hay động lòng không đâu của Diệu, nhưng rồi tôi cũng chiều. Tôi hứa với Diệu để con khỉ lại nuôi và sẽ huấn luyện cho nó trở thành một nghệ sĩ xiếc. Điều đó làm Diệu vui. Nhưng đêm đến, món giả cầy bằng thịt khỉ vẫn trở về khuấy đảo giấc ngủ của tôi. Nhậu được món giả cầy bằng thịt khỉ ở trong mơ kể cũng đỡ thèm.

Tôi thường oang oang trước đám bạn bè rằng, đi xa mấy tôi cũng ngửi thấy mùi vợ. Đó là cách "ga-lăng” vợ rất hiệu nghiệm của tôi. Và để mùi của Diệu không lẫn với mùi khỉ, tôi tự nguyện đảm nhận việc chăm sóc chữa trị cho nó. Khi vết thương vùng ngực của nó đã lên da non, để lại cái sẹo hình con rết, tôi liền nghĩ ngay đến việc huấn luyện. Tôi không thích cái trò nhào lộn và đi xe đạp cũ rích của xiếc khỉ. Tôi nghĩ ra một trò độc đáo văn minh hơn là dạy cho nó chơi nhạc. Nhưng chỉ được vài hôm, cây guitare bị giật đứt tung dây. Cũng có khi nổi hứng, nó nhảy cả bốn chi lên mặt đàn, phát ra những tiếng bần bật. Còn khi nó thổi kèn lại phát ra tiếng rú, tiếng rít làm tôi giận điên chỉ muốn ra roi, khỉ vốn bắng nhắng mà nhút nhát. Khi tôi quát ầm lên hoặc chuẩn bị đánh là nó run bắn đến ị bậy. "Rõ khỉ!" tôi vừa cọ sàn nhà vừa rủa. Những lúc như thế, Diệu thường ôm con vật vào lòng, nhét táo vào miệng nó, vuốt lấy vuốt để. Rồi Diệu quay sang nhăn nhó với tôi: "Cái anh này, dạy dỗ thì phải từ từ chứ!".

Đã có một thời, Diệu là nỗi ám ảnh sáng tạo của tôi, nhưng từ ngày có con khỉ, nó đã thay thế Diệu. Hôm khai mạc gallery của tôi, cả hội kéo nhau ra quán "cầy tơ bảy món". Đám bạn bè chúc mừng tôi bằng cách tưới bia khổ vào họng nhau. Kiệu muối quệt với mắm tôm là món nhậu đặc sản. Men vào lời ra, mỗi đứa mỗi câu, chúng nó mở bài "phỏng vấn" tôi:

- Ông là Phạm Tuấn?

- Bao giờ tao cũng là Phạm Tuấn - Tôi vỗ vào ngực đánh bốp, tự khoái với cái khẩu khí yêng hùng của mình.

- Nếu tôi không nhầm thì số tranh của ông đem trưng bày lần này vừa chẵn hai tá?

- Này, đây không phải là mớ hàng xén đâu nhá, nói năng cho ra thằng đàn ông - tôi trợn mắt.

- Làm thằng đàn ông cho ra thằng đàn ông ở thời buổi này khó lắm ông anh ơi - Giọng khác chen vào.

- Này ông, tôi chỉ muốn khẳng định thôi. Tranh của ông đều có tiêu đề bằng chữ số và được trình bày theo trình tự của số tự nhiên. Theo tôi, với bố cục đó, ông đã tạo ra một tác phẩm mới.

- Nịnh khá!

- Khoan, để tôi nói hết đã. Vô tình hay hữu ý bức mang tiêu đề "Một" và "Hai mươi bốn" đều là chân dung lão... Tôn? Hì... Hì...

- Cái độ mờ ấy tao dành cho mày. Bài toán đâu chỉ một nghiệm.

- Ông không thừa nhận sự tiến hóa.

- Tiến hóa cái con khỉ!

Tôi nổi đóa vì vướng phải một dây kiệu lòng thòng. Bỗng tôi nôn thốc ra. Thế là chấm dứt cái trò "phỏng vấn" dai như giẻ rách, tôi mệt, nhưng nhẹ cả người.

* * *

Nhân chuyện con khỉ, tôi bỗng nhớ đến ông chú ruột tôi. Ông ta tuổi ngoài sáu mươi. Trình độ học vấn loảng choảng theo kiểu tân cổ giao duyên. Cộng đồng dòng họ tôi vừa ghét vừa nể sợ ông ấy chỉ vì cái máu gia trưởng và thói gàn dở có một không hai. Tính gàn của ông ấy có kể cả ngày cũng chẳng hết chuyện. Từ ngày cha tôi mất đi, ông trở thành trưởng tộc, thay mặt dòng họ thờ phụng tổ tiên. Nhưng ngay trong những chuyện nghiêm túc, linh thiêng như vậy ông ta cũng giở thói gàn. Ví như có lần ông đến nhà tôi, đề nghị tôi vẽ cho ông chân dung một con khỉ. Sở dĩ tôi dùng từ "chân dung" là vì ông yêu cầu tôi "Vẽ khỉ nhưng phải áo dài khăn đóng tử tế". Tôi ngớ người, lẩm bẩm rủa thầm ông lại giở quẻ. Thấy tôi ngây độn, tỏ ý nghi hoặc, ông liền giải thích, cũng theo lý luận gàn: "Chú không ngu để đặt lên bàn thờ tổ tiên những cái vớ vẩn không đâu. Làm gì có Thiên Đường và Địa Ngục mà sợ hãi và hy vọng. Láo tuốt! Thì cứ giả sử Phật và Chúa hiện hữu siêu hình đi. Nhưng Phật, Chúa do đâu mà ra nếu như không phải là con người? Đúng lẽ, bà Quan Âm và ông Christ phải hương hoa mà phụng thờ chúng ta chứ. Đằng này đã không được thế lại còn tự biến mình thành nô lệ. Trong khi đó loài khỉ là tổ tông, lại được khoa học khẳng định hẳn hoi lại không ai đoái tưởng”. Ông nói hùng biện, bọt sùi cả khóe miệng. Cái ý ông nẩy ra làm tôi hoang mang, nhưng định thần lại tôi thấy luẩn quẩn ngang phè. Tôi định nói với ông rằng nô lệ hay không cũng do quan niệm thôi. Còn khoa học ư? Khoa học là cái có thể chứng minh được thì cũng bác bỏ được. Mới đây thôi, tôi vừa đọc một bài báo đặt vấn đề xem xét lại nguồn gốc của loài người. Tôi vội lục tìm đọc cho ông nghe, cốt để ông từ bỏ ý định kỳ quặc, quái gở đó. Không cần biết ông có chịu nghe hay không, tôi đọc ào như một đứa trẻ thuộc bài: "Ngày nay, người ta đã đi đến khẳng định gần như tường minh rằng: Từ một loài động vật khởi đầu đã tạo ra hai nhánh phát triển song song. Một nhánh là tổ tiên con người và nhánh thứ hai là các loài vượn... Các dấu hiệu cổ sinh cho thấy, không có một con vượn nào trong số các con vượn sống ở thời xưa biến thành người". Tôi nhìn xoáy vào ông hù dọa, trấn áp "Báo đấy! Chú tin không?”. Ông ngồi như hóa phỗng. Không gian đen giăng đầy trong mắt. Bỗng bất ngờ, ông gầm lên như con thú bị thương "Vứt mẹ cái mớ hiểu biết tân thời của chúng mày đi. Đồ hư vô chủ nghĩa!". Ông ụi cửa bỏ về.

Tôi nhìn theo ông. Đúng là cái lão "ếch ngồi đáy giếng". Tại sao lão lại gầm lên như thế mà không mở mắt ra một chút. Gàn đâu có thứ gàn lạ đời, suýt tí nữa thì ô uế cả bàn thờ tổ tiên. Nhưng ngẫm... lão cũng có cái lý của lão. Đời,! khôn dại biết thế nào được... Nhưng mà đặt con khỉ hôi thối gớm ghiếc ấy lên bàn thờ tổ tiên là không thể. Nhục lắm!

"Giận cá chém thớt", tôi bổ đi tìm con khỉ của Diệu, chỉ chăm chăm một ý nghĩ duy nhất là tống khứ nó ra khỏi nhà cho khuất mắt dù Diệu thế nào cũng mặc. Tôi không thèm giết nó nữa. Cái món giả cầy thịt khỉ tự nhiên làm tôi thấy lợm. Thừa lúc Diệu vắng nhà, tôi cho nó vào bao cát. Nó vùng vẫy, cắn vào tay tôi đến chảy cả máu làm tôi giận điên, siết chặt miệng túi. Tôi đánh xe ra vùng ngoại ô và phóng sinh cho nó "cút cho khuất mắt tao". Xong việc, tôi cảm thấy nhẹ nhõm. Nhưng khi về đến nhà, tôi bật ngữa người: con khỉ không hiểu bằng cách nào đã trở về nhanh hơn tôi. Nó đang ngồi vắt vẻo bên cửa sổ gãi soàn soạt. Thấy tôi, nó cười xóe lên. Diệu đang dúi cho nó một quả táo "Anh biết không, từ sáng đến giờ không biết nó biến đi đằng nào bây giờ mới về, hư quá!".

* * *

Có ai đó đã rỉ vào tai tôi "Coi chừng, con khỉ đực nhà ông nó đẻ". Lòng tôi hoang mang, điềm gở đang thường trú trong căn hộ của tôi và Diệu? Đã bao lần tôi bàn với Diệu giết quách con khỉ đi, nhưng Diệu phản đối "nó có nhiều trò vui lắm". Tôi quay lại tự khuyên bảo mình đừng mê tín thế. Đàn ông gì mà hèn. Bây giờ nhờ khoa học đàn ông vẫn có thể sinh đẻ được thì chuyện con khỉ đực nhà tôi nó đẻ đã sao? Chẳng có gì quan trọng cả, nghĩ đến chỉ tổ mệt người. Thì cứ để nó đẻ, xem cái giống ấy nó ra làm sao? Biết đâu lại chẳng là món đáng của. Nhưng đời vốn trái khoáy, càng cố xua đuổi, ý nghĩ lại càng bám riết tôi. Cho đến một lần, không kiềm chế được giữa giờ làm việc, tôi vội chạy bổ về nhà. "Diệu ơi! Diệu!". Không có tiếng trả lời. Tôi đạp tung cánh cửa. Cảnh tượng diễn ra trước mắt tôi làm tôi chết điếng. Trong cái hoa mắt tranh tối tranh sáng, Diệu đang sóng soài trên tấm thảm màu huyết dụ. Và kìa, con khỉ... Điên tiết, tôi định xông đến xóa nát cái quan hệ quái gở ấy. Nhưng rồi tôi cứ đứng trơ ra đó. Thay vì tiến lên, tôi lại đi giật lùi. Tôi chạy như một thằng điên giữa phố. Mọi người đều dạt ra, có lẽ họ nghĩ đến một vụ săn bắt cướp. Còn tôi, linh cảm rất rõ có kẻ "bám đuôi". Bản năng tự vệ khiến tôi quay phắt lại. Ô, hóa ra là mày - con khỉ của Diệu. Nhưng lạ chưa kìa, sao bây giờ nó lại mang khuôn mặt người? Hay mặt người chỉ là cái mặt nạ của nó? Tôi giụi mắt để nhìn cho rõ: Lần này cũng lại mặt người, nhưng là một cái mặt nạ khác. Như nắm được bí quyết của phép màu nhiệm, tôi giụi mắt liên tiếp để xem tài trá hình của nó đến đâu? Thôi thì đủ cả...

Tôi ôm lấy đầu, đau đớn lao mình vào con đường dài hun hút cho đến khi trước mắt tôi là vực thẳm đen ngòm...

Có bàn tay mát dịu nào đặt lên trán tôi làm tôi tỉnh giấc. Tôi nhìn thấy khuôn mặt Diệu đầu tiên. Tôi định nhào đến bóp cổ cô ta. "Đồ quái vật dâm đãng! Đồ trá hình!". Nhưng tiếng Diệu nghe như tiếng con dế nhỏ nhẹ áp vào tai tôi "Anh sốt cao ghê quá! Trong cơn mê sảng anh gào thét, giãy giụa làm em lo phát hoảng". À, thì ra đó chỉ là ác mộng. Tôi chưa kịp hoàn hồn thì Diệu đã áp đôi môi nóng ấm, ngọt ngào lên cặp mắt chĩu nặng của tôi. "Anh uống nước chanh nóng nhé!". Mái tóc hươm vàng thơm mùi hương bưởi của Diệu xòa phủ lên mặt tôi như một liều thuốc xông thần diệu. Tôi tỉnh hẳn ra. Câu đầu tiên tôi hỏi Diệu "Con khỉ đâu?". Diệu đưa tay chỉ về phía cửa sổ. Con khỉ đang tréo chân, phùng má ngọng nghịu thổi kèn: i...è...ọ...è..., ọ... è... i...é...

Tôi bỗng cười buồn về cái tính hay dị ứng vớ vẩn không đâu của mình. Tôi bỗng sực nhớ là cho đến mãi bây giờ, tôi vẫn gọi con khỉ bằng cái tên kép: Con - Khỉ - Của - Diệu, mà nghĩ phải đặt cho nó một cái tên cho ra hồn. Nhưng mà tôi bận, công việc bù đầu, thì giờ đâu mà tên với tuổi cho một con khỉ. Thôi thì hãy để cho mọi người gọi nó theo cách riêng của mình./.

Xuân chớm - Nhâm Thân
L.T.H.N.
(TCSH48/03&4-1992)

 

 

 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • NGUYỄN TRƯỜNGThấy tôi ngồi chăm chú đọc thư, miệng cứ tủm tỉm cười, vợ tôi mới giả giọng, hỏi đùa:- Có việc chi thích thú mà cười một chắc rứa?- Có chuyện vui bất ngờ đấy em ạ! - Tôi vừa trả lời vừa kéo tay vợ ngồi xuống, rồi đọc lại một mạch toàn văn bốn trang thư của ba tôi từ Huế mới gửi vào.

  • VIỆT HÙNGGa H. một đêm mưa phùn ảm đạm.Khách chờ tàu nằm la liệt dọc các hành lang.Tôi bước vào phòng đợi, trong tâm trạng không vui mà cũng chẳng buồn. Tìm một chỗ ngồi bất kỳ…

  • TRẦN KIÊM ĐOÀN Ngôi nhà một thời là tổ ấm trên đồi bỗng trở thành rộng gấp đôi, gấp ba và vắng vẻ như một tòa lâu đài cổ từ khi Bé Út dọn ra khỏi nhà để lên miền Bắc học. Đứa con 18 tuổi trên đất Mỹ nầy rời nhà đi học xa thường có nghĩa là đang bước vào đời, ra khỏi vòng tay cha mẹ, thật khó lòng về lại. Những bước tiếp nối là học ra trường, kiếm việc làm, chọn nhiệm sở như cánh buồm đưa tuổi trẻ ra khơi. Bất cứ nơi nào có thể an cư lạc nghiệp trên 50 tiểu bang sẽ là nơi đất lành chim đậu. Tuổi thành niên tiêu biểu của văn hóa Âu Mỹ là tự lập, gắn liền với  vai trò chuyên môn và xã hội chứ không phải quanh quẩn với đời sống gia đình.

  • ĐỖ PHẤNĐêm rất khuya dưới chân núi H. Khó khăn lắm chúng tôi mới tìm được một con đò bằng tôn móp méo xác xơ. Chẳng hiểu ban ngày trông nó thế nào. Có lẽ đây là chiếc đò bị cấm lưu hành? Không thể có mặt ở bến vào ban ngày. Cũng là cấm làm phép. Dòng suối không có chỗ nào đủ sâu để có thể chết đuối.

  • ĐỖ KIM CUÔNGBây giờ bạn bè ít được gặp anh lang lang trên phố. Thảng hoặc dăm bữa nửa tháng, có khi hơn mới tóm được anh. Ấy là khi anh phải ra khỏi nhà đi nạp bài cho những tờ báo mà anh thường cộng tác, hoặc đi nhận nhuận bút một vài bài thơ lẻ in trên báo.

  • VŨ NAM TRỰC           Truyện ngắn

  • TRẦM NGUYÊN Ý ANHÔng Nhâm bước chầm chậm theo con đường tráng xi-măng ngoằn ngoèo trong con hẻm nhỏ. Căn nhà ông ở cuối xóm, một trệt, một lầu... mới tinh. Cánh cửa sắt đóng im ỉm. Ông ngồi bệt xuống nền xi-măng vì chân ông đã mỏi. Lẽ ra, khi mấy đứa con ông chưa bàn nhau cất lại căn nhà, ông đã có thể đẩy cánh cửa rào bằng tre và đàng hoàng bước vào nhà mình.

  • XUÂN CHUẨNĐể rồi tôi kể cho ông nghe về lai lịch cái quạt, để ông ông khỏi coi tôi là Thằng Bờm có cái quạt mo. Cái thời quạt điện quạt đá, máy lạnh mà cứ bo bo cái quạt kè, thỉnh thoảng lại đạp phành phạch như mẹ hàng cá thách lên giữa chợ. Cũng chẳng có gì li kỳ, hay mùi mẫn rơi lệ, chỉ là chuyện đời tầm phào.Hai ông trải chiếu ngồi giữa sân, nhâm nhi chén trà, ông Thân nói với đại tá Tiến về hưu như vậy khi đại tá ngỏ ý thích cái quạt kè của ông.

  • TRẦN THỊ TRƯỜNG  Bim chào đời vào lúc kém 19 phút. Trăng hạ tuần phun nhẹ màu đục của sữa vào bầu trời. Hôm sau trời lất phất mưa. Bố nói với bà ngoại trước khi đi làm: "Nếu không thấy con về thì bà giúp con cùng nhà con nuôi cháu". Câu nói ám ảnh làm trí tưởng tượng của bà ngoại nhiều lần thắt lại. Sau này nhiều khi bà ngoại sợ cả cái bóng của mình.

  • NAM TRUNG Ông Hãnh cứ đi tới đi lui trong phòng khách nhà ông, vừa đi vừa quạu cọ lẩm bẩm: thằng Hùng nó nói vậy là nó có ý coi thường mình, nó dám trứng khôn hơn vịt. Rồi mày sẽ biết tay ông. Ông sẽ cho mày còn lâu mới được vào Đảng, ông sẽ bác tất cả những đề xuất về mày...

  • HOÀNG THÁI SƠNKhi tôi lớn lên thì nội tôi đã mất từ lâu nhưng thỉnh thoảng dân làng vẫn nhắc đến người với niềm cảm mến về những chuyện không ít ly kỳ. Ông tôi rất khoẻ, người tròn vo, đen như sừng, tục danh Cu Trắt - phương ngữ vùng quê tôi nghĩa là nhỏ và rắn chắc. Ông ham mê võ thuật, thạo côn quyền, thuở trai thường đóng vai ông địa trong đám múa lân. Đám múa năm nào hễ thiếu ông là coi như nhạt trò, dân làng chẳng ai buồn xem. Người ta đồn ông tôi tài ba lỗi lạc, như có thể đi trên lửa, nhảy qua nóc nhà, còn những thứ chui vào hậu cung đình làng mà không cần dở ngói là xoàng... Kho chuyện về ông ngày càng dày do mồm miệng dân gian thêu dệt thêm, tuy nhiên trong đó nhiều chuyện là có thật.

  • PHAN XUÂN HẬUTôi trở về quê sau mười năm xa cách. Quê tôi nằm cuối con sông Vẹn, con sông này là nhánh của sông Dinh, bắt nguồn từ dãy núi Gám, chảy qua bến Dền. Nơi đây xưa kia là kinh đô của vua Dền. Vua Dền tụ tập lực lượng chống lại nhà Trần khi đó đang trấn áp nhà Lý. Vua Dền là hậu duệ của Lý Thái Tổ, ông không chịu sự chuyên quyền của vua tôi Trần Thủ Độ bèn lập căn cứ ở miền Tây Yên Thành, tức quê tôi, và Dền là kinh thành của ông, dân quen gọi ông là vua Dền.

  • NGUYỄN VĂN VINHTết Mậu Thân năm ấy tôi tròn mười sáu tuổi. Soi gương, tôi thấy y xì một con bé tóc lơ xơ hoe nắng, xấu tệ.

  • CHÂU DIÊNĐơn vị của tôi đi bộ từ một tỉnh miền Trung, lên qua Mường Phăng thì Điện Biên đã giải phóng. Sau một tháng đi bộ nhưng gần như chạy bộ, chúng tôi được phép nghỉ lại hai ngày ở một bản, hồi đó bản này nằm khá sâu trong rừng, nhưng nay thì nó đã ở bên một nhánh đường mới làm dẫn ra phố huyện Tuần Giáo để nối vào con đường số 6 chạy tuốt lên Điện Biên Phủ.

  • NGUYỄN TRƯỜNGLàng Hạ nằm phía hạ nguồn sông La Ngà. Đất chật. Người đông. Đói nghèo thành nếp. Hồi hai bên đánh nhau, nơi đây là vùng địch hậu. Giải phóng hơn chục năm mà làng Hạ đói nghèo vẫn hoàn nghèo đói. Không ít người bỏ làng đi xa chẳng thèm ngoái cổ nhìn lại. Vậy mà hơn mười năm lại đây, nhờ vực dậy cái nghề tơ tằm truyền thống vốn có từ xưa, làng Hạ đang trở thành một làng nghề giàu có nhất nhì trong vùng. Nhà cũ lỗi thời phá đi xây mới. Đường làng bùn lầy được thay bê-tông. Trường tiểu học tranh tre nứa lá hồi nào nay lên hai tầng. Điện lưới dọc ngang khắp làng đã đẩy năng suất ươm tơ kéo sợi lên cao chưa từng thấy. Chất lượng tơ tằm đạt chuẩn xuất khẩu. Hàng bán chạy hơn cả tôm tươi. Thu nhập người dân ngày một cao.

  • LÊ TRÂMNgồi với tôi và Kh là một đôi nam nữ còn khá trẻ. Chàng thanh niên, theo lời gã, vừa mới về từ Thái Lan sau khi trúng một hợp đồng béo bở. Gã là đại diện của một công ty xuất nhập khẩu nổi tiếng ở bên ấy.

  • NGÔ TỰ LẬPCó lẽ tôi đã ngủ rất lâu trước khi bị lay dậy một cách dữ dội. Tôi cố nằm thêm, mặc dù đó không phải là thói quen của một người lính cũ. Thường thì tôi bật dậy ngay. Trước khi tôi vào lính, cha tôi, một đại tá từng trải ba cuộc chiến tranh, chỉ dặn mỗi một câu: “Hãy chồm dậy ngay tiếng còi báo động đầu tiên!”. Lời dạy của ông tôi làm theo trong suốt thời gian tại ngũ và cả khi giải ngũ. Nhưng có những lúc ta không làm chủ được mình. Tôi thấy mình đau ê ẩm và phải một lúc khá lâu sau tôi mới chậm chạp mở mắt.

  • PHẠM THỊ CÚCTừ những ngày thơ bé còn cắp sách đến trường cho đến khi đã bước vào đời, con cái đã khôn lớn và trưởng thành, trong ký ức của tôi vẫn luôn lưu giữ những hình ảnh sinh động và kỳ diệu của hàng ngàn con cò trắng rợp cả cánh đồng bát ngát, những cánh rừng và vườn cây trĩu nặng vô vàn chim chóc, hình ảnh chim cò thân thiết đậu cả trên vai người, trên đầu người, quẩn dưới chân người... là chuyện của Vùng Đồng tháp Mười qua những trang viết hấp dẫn của các nhà văn Sơn Nam và Đoàn Giỏi.

  • MAI NINHTrong khoảng giữa buổi chiều thăm viếng cơ sở và dạ tiệc, tôi chạy về nhà thay quần áo. Dưới vòi nước ấm, tôi nao nao xúc động nhớ lại từng khuôn mặt bạn bè. Ngoài một hai người thỉnh thoảng gặp nhau nhờ ở lại nơi này sau khi tốt nghiệp, còn hầu hết thì sau một phần tư thế kỷ đã qua đi, bây giờ mới tái ngộ. Làm sao không ngẩn người trước những tên bạn ngày xưa mặt mũi căng hồng tí tửng nhố nhăng, giờ đây làn da gấp nếp, râu ria đạo mạo, ra dáng sếp lớn sếp nhỏ cả rồi. Và dấu chân chim của thời gian càng rõ rệt hơn nữa, nơi những cô đầm bạn gái của tôi.

  • MAI NINH- Rối, Rối ơi! Dậy đi nào. - Nằm mãi đây cũng đừng hòng có ai lượm xác đem chôn. - Dậy đi! Rối ơi.