Trang thơ Việt Nam đương đại

09:07 12/08/2016

Huỳnh Minh Tâm - Pháp Hoan- Ng.H.Dao Trì - Trần Võ Thành Văn - Trần Quốc Toàn - Lê Vi Thủy 

Minh họa: Nhím

HUỲNH MINH TÂM

Bài thơ ảo diệu về cái chết

giá như một ngày
được chết ở hiên nhà
chứ không phải bìa rừng


ở bìa rừng lạnh lắm
nhiều thú dữ nhiều nấm độc
anh không phải người can đảm


ở hiên nhà có hoa cau
trong vườn có vòm mận trắng
ao sâu cá rô quẫy


anh chỉ nhà thơ tồi
đi không quá hai quả đồi
có chết cũng làm sao


nhưng chết ở hiên nhà nắng ấm
có vòm hoa giấy có mây xanh
được vậy thật diệu ảo.


bài thơ tồi sẽ đắp lên
một bông trang trắng
ảo diệu làm sao


PHÁP HOAN

Mảnh vỡ

1
Trong khu ổ chuột
những giấc mơ rẻ tiền không có neo níu giữ
cùng nhau trôi tuột xuống ống cống sau một cơn mưa trái mùa


2
Hãy đưa tôi đến ngọn hải đăng và thắp tôi sáng lên như lửa
cho tôi hóa thành dải đá ngầm làm vỡ thuyền bè trong đêm
cho tôi lớn lên như những đốm sáng đang lan tràn trong óc người
điên
cho tôi hát ca khi đứng nhìn chân mình vùi dập trong bão tố


3
Tất cả mọi thứ quanh ta đang hiện diện chói lòa
Một bông hồng một nắm tro một bàn tay một lưỡi hái
Một nắm kim cương tung vào mỗi góc cạnh của hiện tại
Ôi thời gian và sự giàu sang vĩnh cửu của nó!


4
Vũ trụ được dựng thành từ bộ xương khô một vị thần trong huyền
thoại
Sáng nay được nghiền nát tan thành bụi mờ phân tán khắp nơi
Khi hàng trăm tinh cầu mở mắt điên cuồng lao đầu vào nhau
Làm căng đầy nhựa sống trong từng sợi gân khô những bông hoa
cuối vụ


NG.H.DAO TRÌ

Thế gian đầu tiên thuộc về người đàn bà

người đàn bà

những mùa gió hừng hực cưỡng bức chiếc lá
tiếng lá thất thanh
như tiếng trút áo ngọt ngào
người đàn bà ngỡ ngàng tái sinh tự động
không thể tái sinh
trên khuôn mặt đàn ông khác


người đàn bà đan ngón tay mình vào lỗ mong ước
khom xuống
kính cẩn như với Thượng đế
bằng sự tăm tối bên ngoài và sự giải thoát bên trong
khắc bản thân mình vào bản án cuối cùng của tạo hóa
và đó cũng chính là sự khải huyền của bản án
khát sống
thế gian đầu tiên thuộc về đàn bà


người đàn bà một mình vỡ
một mình bay vào cơn địa chấn phun trào
cơn bức
bối lên từng chân tóc
xung động não trạng hiếp đãm triệu triệu tế bào khát bỏng
ngấn nước trong veo phiêu linh
chèn lên nhau đè lên nhau ồ ạt... suối nguồn
ánh sáng phồn thực khuếch tán cực đại
trần gian hóa lỏng
trên dung môi kềm trên đôi môi dày mặn mùi biển giã
vũ trụ bắt đầu co thắt
từng
cơn
quặn
mọi quan năng cần mẫn tới hạn
nấc
dòng mê đuổi
dậm dực làm rùng mình bản năng sống
người đàn bà duy nhất nghe tiếng vọng từ hang động của cô đơn
vừa từ bỏ thế gian
không có cuốn sách thiêng nào ghi các dạng thái thoái hóa cột
sống
trong ý niệm ân sủng của Thượng đế


con người sẽ bất hạnh vì sự thông minh giáo điều
và sẽ bất hạnh hơn trước cái rướn mình đau đáu
người đàn bà nhỏ bé
không cầu Thần linh nếm thử
không nhân danh bất kỳ
không luận giải điều gì, không cần ngoa ngữ
người đà bà
rất dịu dàng đàn bà
tự khai mở bí ẩn mình...




TRẦN VÕ THÀNH VĂN

Địa hạt cuộc người

Heo may không thể làm nên địa hạt khu vườn
khi tôi bắt đầu tin sợi tóc em đã cuốn trôi sự nhiệm mầu tháng hạ
khi tôi bắt đầu phải xa em giữa một hoàng hôn ấm nóng và buồn
nơi ấy ngày bất tận đi vào tôi mỏng mảnh
đi vào tình yêu bằng thứ ngôn ngữ đa đoan
chật chội
bao la vang vọng trái tim tôi.


Có lúc mặt trời mọc trên vai thắc thỏm
hoa cúc tần giấu mặt cao xanh
hôm Mẹ dắt tôi đi tìm bài đồng dao mất dấu sau vuờn
bước qua lỗ trùn sâu tôi bỗng thành đứa con của gió
bay đi
tiễn biệt ấu thơ guộc gầy tay Mẹ lẫn trong chòm lá hiếm hoi còn
sót lại sau âm nấc mùa màng
và thi thoảng đám rau dại lao xao cười nói
như ý nguyện cho tôi nguyên vẹn mọi điều/ dẫu mất
như ý nguyện tháng năm Mẹ buồn vui cần mẫn
hát ru tôi trên địa hạt đời mình.


Heo may không thể làm nên địa hạt khu vườn
khi buổi sáng thất thần bước ra khỏi nỗi buồn dây mướp đắng
tôi cúi chào thành phố lẻ loi
tôi cúi chào quãng đời tôi lạ lẫm


những kẻ tha hương
hội ngộ bất ngờ.


Cội rễ lãng quên hay niềm khát khao hiển hiện
đồng cỏ/ vườn quê không nói với tôi về lẽ sống bứt cành
bầy ong kiêu ngự tín hiệu thiên nhiên hào sảng
bao dung chớp sáng ngày ngày
tôi ồn ã với ai
tôi lặng lẽ với ai
tiếng hát của tôi đã thuộc về góc trời xưa bão mặn
tiếng đập trái tim tôi đã thuộc về góc lá dẫn lưu
rạo rực hiến dâng lòng gió
rạo rực hoa mướp nở thay tôi ngợi ca những điều quăng quật
ngợi ca viền cỏ non mờ nhạt trong buổi sáng lâm thâm mơ mộng
khuyết đầy
bầu trời về neo đáy mắt
và nhỏ bé dường như…


Cảm ơn em từng chải chuốt mùa thu
cảm ơn lỗ trùn sâu đã lấp dấu chân tôi ngày xa Mẹ
cảm ơn màu hoa mướp lẻ loi giữa vuông chiều kiệt rũ
kiêu hãnh nở trên địa hạt cuộc người.




TRẦN QUỐC TOÀN

Đêm trắng

Một chiếc lá nằm cong giữa trời
Thân cây đen những nhánh gầy hóa thạch
Đàn kiến di tản thành những vệt sáng chung quanh
Cùng những hơi thở côn trùng tạo thành cù lao gió.
Con cưỡng vỗ cánh bay giữa rừng cao su
Bà lão mù uống từng ngụm sương nằm trên mặt đất
Giọt máu con heo mọi loang dài trên cán dao tiền sử
Mật ngữ của đại dương là tiếng sóng trong vòm họng mỹ nhân ngư.
Từ sự tích con rồng cháu tiên
Mặt trăng và mặt trời đã bắt đầu một cuộc li thân
Những con vượn hú gọi cội nguồn
Vách núi vọng lại những âm thanh trống mái.
Ngọn tháp làm lễ cầu hồn bằng ngọn lửa trong mỗi viên gạch
Em bé lọt lòng giữa những đứa con hoang
Lũ mối đã gặm sạch những cuốn kinh da vàng
Mưa bọc sắt găm đầy trên những cánh đồng khét nắng.
Những dấu chân khổng lồ bỏ lại cho hoang sử soi đường
Tiếng bìm bịp kêu chiều buồn từng bụi tre ngôi miếu
Cánh diều no gió mùa hè trên lưng trâu
Cổng chùa hiện một vòng tròn của lục đạo luân hồi.
Âm âm u u giữa những mùa hoang tái
Sân ga còn ngóng đợi một con tàu
Trăm năm mây vẫn bay và nước dưới chân cầu vẫn chảy
Mà sao đêm trắng nửa đời hư.




LÊ VI THỦY



khát cơn mê
bật mình
bỏng rát vơi sa mạc
bàn chân rỏi tìm
ốc đảo xanh
cung điện bằng buồn
ngây dại
nhạt nhòa ảo giác
sự rình rập
bất cẩn
lũ linh cẩu
đám kền kền
đói mồi
chờ hấp hối


cháy xém mình
biển lớn
mãnh liệt gầm thét sóng không đầu
giam cầm
viên ngọc ước
trong chiếc vây đẹp
đánh đổi
trong trẻo
tình yêu
mong manh cơn mê ngủ
quẫy đạp
không gian lạnh
gỡ từng ngón tay
buông
những con sóng
ngủ mê
từng ngọn
leo lét
sâu thẫm
quay tròn
buốt cơn mê...



Đối diện

Đêm thậm thượt tôi, mình & ai
Lăn tròn da thịt mềm nước mắt
Hương thơm phả khói bếp
Ước mơ tôi bị chặn sau song cửa nhỏ
Tiếng cọ nồi va nhau loảng xoảng
Mùi nước rửa chén che khuất, lấm lem


Mỗi buổi sáng
Ngước mắt bầu trời xanh
Chim se sẻ ríu rít
Đứa trẻ líu ríu đi học
Và vội vã tôi giỏ đi chợ
Tính toán kế hoạch một ngày
Xoay xoay
Những khát vọng theo nhau rời bỏ
Cuộc sống khó khăn bám gót
Đôi chân nứt nẻ
Đôi môi khô rát
Chồng chéo


Ngày kéo ngày
Ô cửa nhỏ
Cánh chim lạc trời
Nhạt đầy bữa cơm
Hôm nay
Tôi lại nhìn mình trong gương...






(TCSH329/07-2016)






 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • Trần Xuân An - Lý Hoài Xuân - Mai Nguyên - Trần Thị Huyền Trang - Trần Bá Đại Dương - Nguyễn Loan - Trần Thị Hiền - Đỗ Văn Khoái - Phùng Tấn Đông - Hồ Huệ - Tôn Lệ Thu Châu - Nguyễn Hữu Quý - Nguyễn Phi Trinh - Việt Trác

  • Tế Hanh - Hoàng Vũ Thuật - Nguyễn Khắc Mai - Tuyết Nga - Thái Ngọc San - Đặng Thị Kim Liên - Trần Vạn Giả - Huỳnh Duy

  • Lê Văn Ngăn - Nguyễn Xuân Thâm - Phan Lệ Dung - Bành Thanh Bần - Đào Duy Anh

  • HỒNG NHUChiếc tàu cau                        (Trích)

  • Minh Huệ - Xuân Quỳnh - Phương Thúy - Trần Thị Hiền - Trần Hải Sâm - Trần Khắc Tám - Hà Linh Chi - Mai Văn Hoan - Văn Tăng - Thiệp Đáng - Nguyễn Thành Phong - Hà Nhật

  • LTS: “Đi về sao chửa về đi” có lẽ là câu nhắn nhủ nhiều ý nghĩa nhất của Đào Tiềm vào cuối cuộc nhân sinh. Mười năm trước, ở tuổi bảy mươi, sau hơn 50 năm gắn bó với thơ ca, nhà thơ Tường Linh đã viết bài “Khúc ca quy ẩn” như lời từ giã đời thơ.

  • LTS: Đỗ Hoàng, sinh ngày 11-10-1949 tại Lệ Ninh, Quảng Bình, có thơ in từ năm 1970 ở các sách báo Trung ương và địa phương. Các tập thơ đã được xuất bản: Mùa lên xanh (in chung) - NXB Tác phẩm Mới 1978; Những miền đất nhớ (in chung) - NXB Lao động năm 1983; Những cánh rừng (in chung) - NXB Thanh niên năm 1984…

  • Đông Hà - Từ Nguyễn - Đông Triều - Quách Thành - Nguyễn Nhã Tiên - Nguyễn Trọng Văn - Quang Huy - Lê Văn Doãn - Trần Nhuận Minh.

  • L.T.S: Lý Hoài Xuân: Tên thật là Nguyễn Quốc Duẩn, sinh ngày 26-12-1954 tại Lệ Ninh, Quảng Bình. Tốt nghiệp đại học Luật. In thơ từ năm 1973. Là một chiến sĩ quân đội có mặt trong chiến trường Trị Thiên trong những năm ác liệt nhất. Có nhiều bài thơ và truyện ngắn in trên các báo, tạp chí Văn nghệ, Văn nghệ quân đội , Quân đội nhân dân, Đại đoàn kết, Độc lập, Đất Quảng… và sách của NXB Thuận Hóa , Công an nhân dân.

  • Thêm một biệt thơ hòa vào xu trào cách tân của Thơ Việt; Phan Quỳnh Dao với bút năng khỏe, cách lập ngôn ngoài khuôn cũ, thơ dòng nào cũng đầy ắp nỗi niềm trong tầng tầng suy tư... Chị vừa xuất bản tập thơ “Khuyết” cuối năm 2010 vừa rồi. Xin trân trọng giới thiệu.Đàn An Nguyên (gt)

  • Nguyễn Văn Dinh sinh ngày 5-3-1932 tại Quảng Trạch, Bình Trị Thiên. Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam. Có thơ in từ năm 1952. Các tập thơ đã xuất bản: “Hát về ngọn lửa” (in chung), “Cánh buồn quê hương” (in chung), “Hoa trăm miền” (in chung). Giải thưởng về đề tài chống Pháp 1953 của Bộ tư lệnh quân khu 4. Giải thưởng cuộc thi về đề tài lâm nghiệp của Bộ Lâm nghiệp 1969-1971. Giải thưởng văn học Bình Trị Thiên 7 năm 1976-1982.

  • ĐINH CƯỜNGMười năm rồi Sơn ơi

  • Xuân Hoàng - Nguyễn Xuân Thâm - Phạm Ngọc Cảnh - Mai Nguyên - Thế Dũng - Hải Vân - Hà Đức Hạnh

  • PHAN DUY NHÂNThơ xuân đọc với nam hà

  • Lê Huỳnh Lâm - Triệu Nguyên Phong - Nguyễn Hữu Hồng Minh - Trần Ninh Hồ - Phùng Tấn Đông - Trần Hữu Lục - Phạm Trường Thi - Nguyễn Man Kim - Tôn Nữ Thu Thủy - Trương Đăng Dung - Lê Huy Quang - Đoàn Mạnh Phương - Châu Thu Hà - Lê Ngã Lễ - Lâm Anh - Đỗ Văn Khoái - Nguyễn Khắc Thạch - Lê Tấn Quỳnh