- Anh không buồn ngủ đấy chứ? - Chị Mônica chợt quay sang tôi. - Không, thưa chị… - Trên kính chiếu hậu của xe, tôi kịp nhận ra đôi mắt bắt đầu đỏ hườm của mình. Bữa cơm trưa kéo dài với một ít rượu mùi, gió từ đồng trống phả lại, tiếng bánh xe lướt êm trên mặt đường nhựa… Tôi muốn đánh một giấc cho tới Đà Nẵng. Chị Mônica tiếp tục ngắm phong cảnh hai bên đường. Xe đang băng qua vùng ven thành phố. Cánh đồng quốc lộ đều vắng vẻ. Có lẽ mọi người đang nghỉ trưa. - Cám ơn các bạn - chị Mônica nói, mắt vẫn không rời mảnh màu xanh thiên nhiên, như thể nói với chính mình. Điều ấy khiến tôi tỉnh hẳn, im lặng nhìn chị - chị Mônica Vácnênxca, nhà văn, phó chủ tịch Hội hữu nghị Ba Lan - Việt Nam. Đi công tác về, tôi đọc thấy trên bản thông báo của tòa soạn: Chiều 25-1-83, 14 giờ, tiếp đoàn nhà văn Ba Lan. Và tôi đã dửng dưng. Nhưng tôi đã vô cùng ngạc nhiên và thú vị khi nghe anh Vũ Quần Phương, người đi theo đoàn, giới thiệu về chị. Điều ấy cũng dễ hiểu, tôi vốn làm việc trong vùng địch tạm chiếm trước đây. Thì ra, lần này là lần thứ mười chị Mônica sang thăm và công tác tại Việt Nam. Cũng chưa lạ bằng chuyện chị từng len lỏi vào tận tòa Quốc hội Sài Gòn thời Diệm với tư cách một phóng viên Pháp. Càng khó tưởng tượng hơn về chuyện chị từng đi B, từng vượt Trường Sơn, vượt bom pháo, trải qua bao gian nguy thử thách, vào công tác tận chiến trường sôi động miền Nam! Số thành của những chuyến đi như thế của chị là, cho đến nay, mười lăm tập truyện ký viết về Việt Nam đã được xuất bản. Vì vậy, khi được phân công đưa chị Mônica đi thăm Huế, quê hương của tôi, tôi rất sốt sắng. Nhớ lại tâm trạng mình khi được biết quá trình hoạt động ủng hộ Việt Nam trong chiến tranh cũng như trong hòa bình của chị, tôi buột miệng: - Chúng tôi cảm ơn chị mới phải. - Hử? - Chị Mônica quay lại, không hiểu đầu đuôi gì cả. - Không… - Tôi mỉm cười lãng chuyện, tránh phân bua dài dòng. Chị cũng cười. - Các bạn Huế cho tôi một bữa ăn đặc biệt quá. - Vâng, các món ăn trưa nay rất Huế - Tôi gật đầu xác nhận và buồn cười nhớ lại cảnh chị Mônica thưởng thức các món ăn Huế. Chị ngần ngại nhìn bát nước lèo bốc hơi nóng thơm lừng, đĩa rau sống xanh mơn mởn. Cuối cùng, chị xin muối tiêu và ăn bánh khoái chấm muối tiêu. Đến món bánh cuốn cũng thế. - Các bạn quý tôi, nhưng hơi khó dùng… - Chị Mônica vừa nói vừa cười ở đôi mắt. - Xin lỗi chị, chị Mônica Vácnênxca thân mến! Tôi đã không kịp báo nhà ăn rằng chị kiêng các món biển như tôm, cua… - Ồ! Thế ra vừa rồi tôi có dùng các thứ ấy à? - Chị kêu lên, ngạc nhiên nhiều hơn là lo ngại. - Vâng, tất cả đều được chế biến, pha phách… - Tôi không biết cách nói cho chị Mônica hiểu thêm nghệ thuật nấu ăn của phụ nữ Huế. Và để chị quên đi phần nào ấn tượng đã ăn phải các món kiêng cử, tôi kể chị nghe một kỷ niệm. Hồi đó, ở đại học Huế, tôi có quen với một giáo sư ngôn ngữ học người Đức. Ông ta học tiếng Việt rất nhanh. Về nước, ông gửi sang cho tôi một bức thư bằng tiếng Việt. Trong đó, ông cám ơn tôi đã giới thiệu cho ông những món ăn rất Huế, rất Việt Nam như cháo ruột, cháo máu! Thật ra, người Việt gọi là cháo lòng, cháo huyết, Ruột và máu thì ai còn dám đụng đến?! Chị Mônica hiểu và cười bằng thích. Chị lại liên hệ chuyện học tiếng Việt của mình: - Tôi viết nhiều sách về Việt Nam, đến nỗi ở Ba Lan người ta gọi tôi là một nhà văn Việt Nam viết bằng tiếng Ba Lan, Pháp, Anh. Nhưng tôi lại không biết tiếng Việt. Người dạy tôi học tiếng Việt đầu tiên là nhà văn Nguyễn Công Hoan. Tôi đã cố gắng học thuộc lòng một số mẫu câu. Một hôm, ở Hà Nội, trước đám đông, tôi trổ tài nói tiếng Việt: - Tôi hân hạnh được quen biết ông Nguyễn Công Hoan, một nhà văn lớn! Dứt câu, tôi thấy mọi người im phăng phắc, trố mắt nhìn nhau còn anh Nguyễn thì trán toát mồ hôi lạnh! Về sau, tôi mới biết rằng mình phát âm nhầm lẫn. Thay vì lớn tôi nói thành lợn! Tôi trả ơn thầy như thế đấy. Từ ấy, tôi giả từ luôn giấc mơ học giỏi tiếng Việt. Vâng, phong tục tập quán khác xa nhau nhưng chị đã sát cánh cùng nhân dân Việt Nam trong mọi hoàn cảnh. Ngôn ngữ bất đồng nhưng chị xứng đáng được nhân dân Việt Nam xem như một nhà văn của mình. Không chỉ ủng hộ Việt Nam bằng tác phẩm văn học, chị còn diễn thuyết, kêu gọi mọi người, mọi đoàn thể tiến bộ đứng về phía Việt Nam, giúp Việt Nam chống kẻ thù chung của loài người: chủ nghĩa đế quốc. Chị đã đi khắp nơi để quyên góp, chuyển thuốc kháng sinh cho bệnh nhân, ra-đi-ô cho bộ đội, kính hiển vi cho trường học ở Việt Nam… Và cũng vì vậy, chị Mônica Vácnênxca có nhiều kẻ thù. Chúng là ai, ta thừa hiểu. Có lần, chị nói đùa: “Vừa rồi, nếu những người cộng sản Ba Lan thất bại, không biết tôi đã như thế nào. Nhưng dù thế nào chăng nữa thì tôi cũng đã chọn”. Rất tiếc, sách của chị còn chưa được biết nhiều ở Việt Nam. Hầu hết tác phẩm của chị đều viết về chiến tranh Việt Nam. Điều đáng chú ý là chị đã liên tục theo dõi số phận của những nhân vật. Mỗi lần trở lại Việt Nam, gặp lại những nhân vật - nguyên hình xã hội, chị lại nhận ra dấu ấn của thời gian, của cuộc sống đầy những chuyển biến sôi động trên đất nước trẻ trung này. Chị Mônica tâm sự: “Mơ ước lớn nhất của tôi là được viết về hòa bình và xây dựng. Lần này, tôi quan tâm đến các vấn đề văn hoá, lịch sử, nghệ thuật của Việt Nam. Sau 1975, tôi tưởng mình đã có thể thể hiện ước mơ của mình. Nhưng ngay sau đó tôi phải viết những cuốn sách phản ảnh kịp thời, trung thực về cuộc chiến tranh chống Pôn-pốt, chống bành trướng Bắc Kinh của Việt Nam. Sách của tôi góp phần đánh bại âm mưu bôi nhọ Việt Nam của bọn phản động quốc tế. Tôi lại viết những bài báo về hậu quả chiến tranh hóa học của Mỹ ở Việt Nam. Tôi còn diễn thuyết về đề tài này tại Tây Đức, nước đang sản xuất chất độc màu da cam cho Mỹ! - Anh vui lòng phát âm mấy chữ này - Chị Mônica đã mở sổ tay từ lúc nào. - Di Lạc. - Phật? - Vâng. - Tôi gật đầu và hiểu chị đang nghĩ đến tượng Phật đặt ở tiền đường chùa Thiên Mụ. - Thời nào? - Vị lai. - Vị lai? Theo kinh Phật thì bao giờ Di Lạc giáng sinh? - Tôi chịu bí, đành đùa: không phải băn khoăn chuyện ấy lắm. Vì có đúng vậy chăng nữa, ngài cũng không sinh vào các nước xã hội chủ nghĩa đâu! Chị Mônica cười ngặt nghẻo. Khi cười, trông chị rất trẻ. - Không ngờ đến Huế tôi được gặp nhiều đồng chí quen biết trong thời chiến tranh đến thế. - Vừa nói, chị Mônica vừa mân mê tấm ảnh đã tróc nước thuốc mà anh Xuân Hoàng vừa biếu chị. Đó là bức hình chị chụp chung với anh Xuân Hoàng ở Quảng Bình. Và, tôi còn được biết chị Mônica là hội viên danh dự của Hội văn nghệ Quảng Bình ngay trong thời chiến tranh. - Thật xúc động khi gặp lại các đồng chí ấy - chị nói tiếp. Tôi cũng đã xúc động khi chứng kiến cảnh chị Mônica vừa bước xuống xe, trước cổng nhà khách tỉnh ủy, lập tức có nhiều người nhận ra chị chạy lại bắt tay chị, ôm chầm lấy chị, kêu lên mừng rỡ: “Chị Ba!”, “Chị Ba!”. Rồi bất chấp ngôn ngữ bất đồng, họ nhiệt tình hỏi thăm sức khỏe, hỏi thăm Ba Lan mà không cần đến sự giúp sức của đồng chí thông dịch. Lúc ấy, tôi thấy mắt chị long lanh, miệng hé ra như cười, gật đầu với tất cả mọi người. Bất giác, tôi biết chị hiểu các bạn Việt Nam, chiến hữu của chị, đang nói gì với chị, nghĩ gì về chị. Chị hiểu rất sâu. Tôi tin thế. - Lăng tẩm được xây dựng ngay khi nhà vua còn sống? - Chị trở lại với cuốn sổ tay, bút đặt trên những niên đại. - Vâng. Lên ngôi, nhà vua có hai việc lớn: tu sửa cung điện và xây lăng tẩm. Nhân dân chúng tôi vẫn bảo nhau như vậy để chê trách chế độ phong kiến. - Đang sống đã lo cái chết! Những năm qua, người Việt Nam kề bên cái chết, đối diện cái chết lại chỉ nghĩ đến sự sống. Mở tập bưu ảnh thắng cảnh Huế, chị Mônica xem một cách trân trọng, nói thật khẽ: - Một thành phố tuyệt diệu! Ba Lan là quê hương của các lâu đài cổ nhưng tôi vẫn bàng hoàng trước Huế. Chiến tranh! Ôi, chiến tranh đã cướp đi của loài người biết bao giá trị… - Hiện đang có những kiến trúc sư Ba Lan giúp chúng tôi trùng tu các di tích văn hoá, lịch sử. Và tôi tin rằng, trong số ấy, có người đến phục vụ tại Việt Nam vì đã đọc được những cuốn sách của chị. - Anh quá lời rồi đó! - Chị Mônica lắc đầu cười, nhìn tôi bằng ánh mắt chế giễu. Tôi cãi: - Chính những khách du lịch người Ba Lan cùng nói như vậy - Những người đã tìm đến thăm chị khi hay tin chị đang có mặt ở cùng một khách sạn đó mà, chị nhớ chứ? - Thế thì tôi vĩ đại quá! Chị Mônica che miệng cười khúc khích. - Vâng, chị vĩ đại như một đầu máy xe lửa! - Tôi cũng cười và nhại nguyên văn lời ca tụng chân tình, thô thiển, méo mó nghề nghiệp của anh em công nhân đường sắt Ba Lan đã dành cho chị sau một buổi diễn thuyết. Xe đã lên tới đỉnh đèo Hải Vân. Từ điểm cao này, chúng tôi có thể nhìn thấy thành phố cảng Đà Nẵng. Bỗng nhiên, chị Mônica ngoảnh lại phía Bắc đèo, hướng về thành phố cổ kính mờ nhạt sau lớp sương núi buổi chiều, vẫy tay: - Tôi sẽ trở lại thành phố này. - Chị Mônica khẽ nói rồi mãi miết ghi chép gì đó trong sổ tay. Còn tôi, tôi sẽ đợi chờ chị, đợi chờ cuốn sách chị viết về thành phố tuổi thơ của tôi. Đà Nẵng, tháng 2-83. V.Q. (1/5&6-83) |
Tải mã QRCode
TẤN HOÀIHưởng ứng cuộc vận động học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí MinhĐêm đó, Bác nghỉ lại tại Cọt Mạ - một thị trấn nhỏ của Trung Quốc, thị trấn nhỏ như một bản miền núi miền nam Trung Quốc, có một cái chợ nhỏ, cách biên giới Việt Nam khoảng trên bốn cây số. Tất nhiên, đó là một cơ sở của cách mạng Trung quốc. Hôm sau, Bác về nước cùng với những đồng chí Việt Nam đi đón Bác trong đó có Dương Đại Lâm, Lê Quảng Ba, Bằng Giang. Những người này về sau trở thành cán bộ lãnh đạo của khu tự trị Việt Bắc. Bác về đúng vào tháng 2 năm 1941. Bác đã ghi trên một phiến đá trong hang Cốc Bó, nằm trong khu vực Pác Bó. Gia tài Bác chỉ có một chiếc va li cũ đan bằng mây, bên cạnh một chiếc máy đánh chữ mà Bác luôn luôn xách bằng tay.
HOÀNG QUỐC HẢI Bút kýVì sao khi Lý Công Uẩn (Lý Thái Tổ) được nước, cung điện nơi thành Hoa Lư các vua Đinh, vua Lê dựng như “điện Bách Bao thiên tuế, cột điện dát vàng, dát bạc làm nơi coi chầu, bên đông là điện Phong Lưu, bên tây là điện Cực Lạc, rồi làm lầu Đại Vân, dựng điện Trường Xuân làm nơi vua ngủ, bên cạnh điện Trường Xuân lại dựng điện Long Lộc, lợp bằng ngói bạc...”, lâu đài điện các như thế, tưởng đã đến cùng xa cực xỉ.
JEAN-CLAUDE GUILLEBAUDLà một nhà báo - nhà văn Pháp thuộc “thế hệ Việt Nam”, thế hệ những người Pháp mà dấu ấn của cuộc chiến Đông Dương đã và sẽ in đậm trong suốt cuộc đời. Ông có mặt ở Việt Nam vào nhiều mốc lịch sử trước 1975, và từ đó ý định trở lại đất nước Việt Nam vẫn luôn thôi thúc ông. Cuốn “Cồn Tiên” được viết sau chuyến đi Việt Nam từ Nam chí Bắc của ông năm 1992. Bản Công-xéc-tô vĩnh biệt này, có thể nói, nó là nỗi ám ảnh của người pháp về Điện Biên Phủ ở Việt Nam. Hiện Guillebaud đang công tác tại Nhà Xuất bản Le Seuil (Paris).
PHẠM THỊ ANH NGA15-12-2002Hình như trong đám đông tôi vẫn luôn là một bóng mờ. Một bóng dáng nhạt mờ, lẩn trong vô vàn những bóng dáng nhạt mờ khác, mà giữa trăm nghìn người, ai cũng có thể “nhìn” mà không “thấy”, hoặc có vô tình “thấy” cũng chẳng bận lòng, chẳng lưu giữ chút ấn tượng sâu xa nào trong tâm trí.
PHẠM THỊ CÚC KýTôi sinh ra ở một làng quê, không những không nhỏ bé, hẻo lánh mà còn được nhiều người biết đến qua câu ca dao "Ai về cầu ngói Thanh Toàn/ Cho em về với một đoàn cho vui".
HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNG Bút kýNhiều lần thức giấc trong mùi hương rạo rực của ban đêm, tôi chợt phát hiện ra rằng Huế là một thành phố được dành cho cỏ. Tôi không hề có ý xúc phạm, chỉ muốn lưu ý thêm về vai trò của cỏ trong quy hoạch đô thị. Thật vậy, không nơi nào trên thế giới mà những công trình kiến trúc của con người lại mọc lên giữa cỏ hoang như ở Huế. Đà Lạt cũng được xây dựng trên những ngọn đồi; nhưng ở đấy, hình tượng của cây anh đào và cây thông đã khiến người ta quên mất sự có mặt của cỏ dại.
THÁI VŨ Ghi chépNhững năm đầu kháng chiến chống Pháp, từ Quảng Nam- Đà Nẵng vào Bình Thuận lên Tây Nguyên được chia ra làm 3 Quân khu thuộc Uỷ ban Kháng chiến miền Nam Việt Nam, cụ Cố vấn Phạm Văn Đồng là đại diện của Trung ương Đảng và Chính phủ. Qua năm 1947, 3 Quân khu (QK 5, 6 và Tây Nguyên) hợp nhất thành Liên khu (LK) 5.
PHƯƠNG HÀ (truyện ký)Cho anh em trong phân đội trở về các vị trí giấu quân xong thì trời cũng vừa sáng. Đang giăng võng để ngủ lấy sức sau một đêm trinh sát, tôi chợt nhớ phải đến thăm Hoà vì Hoà sắp đến ngày sinh nở. Chúng tôi đang ở ngay làng của mình nhưng làng không còn nhà, dân bị giặc lùa đi hết, muốn tìm nhau thì phải tìm đến những căn hầm.
LÊ TRỌNG SÂMTrong cuộc đời của mỗi chúng ta, khi Bác Hồ còn sinh thời, được gặp Bác một lần đã quý. Trong cuộc sống của tôi, do có nhiều hoàn cảnh, nhiều duyên may lại được gặp Bác đến ba lần thì càng quý biết bao nhiêu. Tự đáy lòng, tôi thầm cảm ơn Đảng, cảm ơn Bác đã cho tôi ba lần vinh dự như vậy. Và những kỷ niệm đó vẫn còn tươi nguyên.
PHẠM THỊ CÚC Ký…Tôi chưa thấy ai hay ở xứ nào làm các tác phẩm mỹ thuật từ cây với dây... Nếu gọi là tranh thì là một loại tranh ngoài trời, lấy tạo hoá, thiên nhiên làm cốt, không giới hạn, dãi nắng, dầm mưa, đu đưa theo chiều gió, màu sắc cũng thay đổi từng giờ, từng phút, tuỳ theo ánh sáng mặt trời hay mặt trăng. Cho nên, tác phẩm rất linh động…
LÊ VĨNH THÁI Ghi chép Sau chặng đường dài gần 20 km vượt qua các con dốc cao ngoằn ngoèo, hiểm trở, tôi đã đến “hành lang” công trình hồ Tả Trạch, nằm giữa vùng rừng núi bạt ngàn thuộc xã Dương Hoà, huyện Hương Thuỷ. Công trình hồ Tả Trạch được khởi công xây dựng ngày 26/11/2005, là công trình trọng điểm của Thừa Thiên Huế và của cả nước, được Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn quản lý đầu tư từ nguồn vốn trái phiếu của Chính phủ, với tổng mức đầu tư khổng lồ 2659 tỷ đồng. Đây là một trong những công trình lớn của vùng Đông Nam Á.
TRƯƠNG ĐÌNH MINH Ký Đợt này trở lại Trường Sơn, tìm hiểu thêm các tấm bê tông xi măng vắt qua đỉnh Trường Sơn, lượn quanh các đèo U Bò, Cù Đăng, A Dớt - A Tép mưa mù phủ trắng... Có đỉnh như đỉnh Sa Mù cao trên 1400m mà đợt tháng 3/2003 vừa rồi chúng tôi đã có mặt. Song do mưa liên miên, xe vận chuyển vật liệu, vật tư đi lại co kéo quá nhiều, đường lầy lội. Các đơn vị thi công chưa hoàn thiện phần nền...
DƯƠNG PHƯỚC THU Bút kýNhiều năm rồi tôi vẫn nghe, đồng chí đồng đội, nhân dân Dương Hoà và những người từng ở hoặc đã qua lại nơi đây trước chiến tranh, khẳng định rằng: Sau khi hy sinh, thi hài liệt sĩ Ngô Hà được đơn vị tổ chức an táng tại sườn tây núi Kệ, nơi có khe suối Ngân Hàng chảy qua thuộc vùng chiến khu Dương Hoà. Trước ngày giải phóng miền Nam, mỗi lần ngang qua chỗ ông nằm mọi người lại tự ý đắp thêm một viên đá nhỏ, để cho ngôi mộ ấy sớm trở thành hòn núi như mới mọc lên từ đất, ghi dấu chỗ ông yên nghỉ ... Chờ ngày chiến thắng.
ĐỖ KIM CUÔNGNăm cuối cùng của bậc học phổ thông, tôi được học 2 tiết văn giới thiệu về "Dòng văn học lãng mạn Việt Nam 1930 - 1945". Cũng không có tác phẩm thơ hoặc văn xuôi được tuyển chọn để phân tích, bình giảng như bây giờ. Ngày ấy - những năm chống Mỹ cứu nước, thơ văn lãng mạn được xem là điều cấm kỵ.
TRƯỜNG ANChúng ta đang sống giữa những ngày rực lửa truyền thống hào hùng của Tháng Năm trong lịch sử cách mạng Việt và thế giới. Trước hết, hãy nhắc đến một sự kiện lớn của giai cấp công nhân quốc tế. Ngày 1.5.1886, do yêu cầu không được đáp ứng một cách đầy đủ, công nhân trên toàn nước Mỹ đã tham gia bãi công nhằm gây áp lực buộc giới chủ thực hiện yêu sách của mình. Đầu tiên là cuộc bãi công tại thành phố Chicago với biểu ngữ “Từ hôm nay không người thợ nào làm việc quá 8 giờ một ngày! Phải thực hiện 8 giờ làm việc, 8 giờ nghỉ ngơi, 8 giờ vui chơi!”.
PHẠM THỊ ANH NGA Gởi hương hồn bạn cũTôi qua đến Pháp ngày hôm trước thì hôm sau ba tôi mất. Cái tin khủng khiếp đó đối với tôi vẫn không đột ngột chút nào, bởi từ những ngày hè về thăm nhà, tôi đã biết trước ba tôi sẽ sớm ra đi.
TÔ VĨNH HÀEm hẹn gặp tôi ở quán cà phê Trung Nguyên. Đó là địa điểm em tự chọn. Cái tên ấy cho tôi biết rõ là giữa hai chúng tôi không có gì nhiều hơn một cuộc trao đổi bình thường. Tuy nhiên, sự mách bảo từ nơi nào đó của linh cảm và cả ước muốn, cứ làm cho tôi tin rằng đó là điểm khởi đầu. Đêm cuối xuân, Huế gần như ít buồn hơn bởi cái se lạnh của đất trời. Huế bao giờ cũng giống như một cô gái đang yêu, đẹp đến bồn chồn. Nếu được phép có một lời khuyên thì chắc hẳn tôi đã nói với tất cả những người sẽ được gần nhau rằng, họ hãy cố chờ đến một đêm như thế này để đến bên nhau. Bầu trời mà Thượng đế đã tạo ra sẽ cho mỗi con người biết cách đến gần hơn với những lứa đôi.
CAO SƠNChuyện xưa: Vua Hùng kén tìm phò mã cho công chúa Ngọc Hoa, đồ lễ vật phải có gà chín cựa ngựa chín hồng mao? Thôi thúc Lạc dân xưa kia, đánh thức tiềm năng người dân phải tìm hiểu, lặn lội từ đời này sang đời kia chưa thấy. May sao với thú đi để biết, anh Trần Đăng Lâu, cựu chiến binh, hiện Giám đốc vườn quốc gia Xuân Sơn tỉnh Phú Thọ cho hay: Vườn quốc gia nguyên sinh anh Lâu đang quản lý, mới phát hiện giống gà lạ ấy. Con vật đặc biệt chưa có ai biết tới, chưa được phổ biến rộng rãi, thương trường chưa có cuộc trao bán...
NGUYỄN HỮU THÔNG Bút ký"Buổi mai ăn một bụng cơm cho noChạy ra bến đòMua chín cái tráchBắc quách lên lò
TRẦN NGUYỄN KHÁNH PHONG Bút kýTrong hồi ức của một số cán bộ lão thành cách mạng ở A Lưới kể lại rằng: “Hồi đó có một số người ở đồng bằng tản cư lên sống cùng đồng bào; qua họ, đồng bào nghe đến tên Cụ Hồ, nhưng đồng bào chỉ biết đầy đủ về Bác cũng như thấu hiểu được những điều Bác dạy qua các cán bộ người Kinh lên hoạt động ở đây vào khoảng những năm 1945-1946. Cán bộ bảo: Cụ Hồ muốn nhân dân mình học lấy cái chữ để biết bình đẳng. Muốn bình đẳng còn phải đánh Pháp. Nếu đoàn kết đánh Pháp thì ai ai cũng đánh Pháp và khi đó đồng bào ta nhất định thắng lợi” (1)