- Anh không buồn ngủ đấy chứ? - Chị Mônica chợt quay sang tôi. - Không, thưa chị… - Trên kính chiếu hậu của xe, tôi kịp nhận ra đôi mắt bắt đầu đỏ hườm của mình. Bữa cơm trưa kéo dài với một ít rượu mùi, gió từ đồng trống phả lại, tiếng bánh xe lướt êm trên mặt đường nhựa… Tôi muốn đánh một giấc cho tới Đà Nẵng. Chị Mônica tiếp tục ngắm phong cảnh hai bên đường. Xe đang băng qua vùng ven thành phố. Cánh đồng quốc lộ đều vắng vẻ. Có lẽ mọi người đang nghỉ trưa. - Cám ơn các bạn - chị Mônica nói, mắt vẫn không rời mảnh màu xanh thiên nhiên, như thể nói với chính mình. Điều ấy khiến tôi tỉnh hẳn, im lặng nhìn chị - chị Mônica Vácnênxca, nhà văn, phó chủ tịch Hội hữu nghị Ba Lan - Việt Nam. Đi công tác về, tôi đọc thấy trên bản thông báo của tòa soạn: Chiều 25-1-83, 14 giờ, tiếp đoàn nhà văn Ba Lan. Và tôi đã dửng dưng. Nhưng tôi đã vô cùng ngạc nhiên và thú vị khi nghe anh Vũ Quần Phương, người đi theo đoàn, giới thiệu về chị. Điều ấy cũng dễ hiểu, tôi vốn làm việc trong vùng địch tạm chiếm trước đây. Thì ra, lần này là lần thứ mười chị Mônica sang thăm và công tác tại Việt Nam. Cũng chưa lạ bằng chuyện chị từng len lỏi vào tận tòa Quốc hội Sài Gòn thời Diệm với tư cách một phóng viên Pháp. Càng khó tưởng tượng hơn về chuyện chị từng đi B, từng vượt Trường Sơn, vượt bom pháo, trải qua bao gian nguy thử thách, vào công tác tận chiến trường sôi động miền Nam! Số thành của những chuyến đi như thế của chị là, cho đến nay, mười lăm tập truyện ký viết về Việt Nam đã được xuất bản. Vì vậy, khi được phân công đưa chị Mônica đi thăm Huế, quê hương của tôi, tôi rất sốt sắng. Nhớ lại tâm trạng mình khi được biết quá trình hoạt động ủng hộ Việt Nam trong chiến tranh cũng như trong hòa bình của chị, tôi buột miệng: - Chúng tôi cảm ơn chị mới phải. - Hử? - Chị Mônica quay lại, không hiểu đầu đuôi gì cả. - Không… - Tôi mỉm cười lãng chuyện, tránh phân bua dài dòng. Chị cũng cười. - Các bạn Huế cho tôi một bữa ăn đặc biệt quá. - Vâng, các món ăn trưa nay rất Huế - Tôi gật đầu xác nhận và buồn cười nhớ lại cảnh chị Mônica thưởng thức các món ăn Huế. Chị ngần ngại nhìn bát nước lèo bốc hơi nóng thơm lừng, đĩa rau sống xanh mơn mởn. Cuối cùng, chị xin muối tiêu và ăn bánh khoái chấm muối tiêu. Đến món bánh cuốn cũng thế. - Các bạn quý tôi, nhưng hơi khó dùng… - Chị Mônica vừa nói vừa cười ở đôi mắt. - Xin lỗi chị, chị Mônica Vácnênxca thân mến! Tôi đã không kịp báo nhà ăn rằng chị kiêng các món biển như tôm, cua… - Ồ! Thế ra vừa rồi tôi có dùng các thứ ấy à? - Chị kêu lên, ngạc nhiên nhiều hơn là lo ngại. - Vâng, tất cả đều được chế biến, pha phách… - Tôi không biết cách nói cho chị Mônica hiểu thêm nghệ thuật nấu ăn của phụ nữ Huế. Và để chị quên đi phần nào ấn tượng đã ăn phải các món kiêng cử, tôi kể chị nghe một kỷ niệm. Hồi đó, ở đại học Huế, tôi có quen với một giáo sư ngôn ngữ học người Đức. Ông ta học tiếng Việt rất nhanh. Về nước, ông gửi sang cho tôi một bức thư bằng tiếng Việt. Trong đó, ông cám ơn tôi đã giới thiệu cho ông những món ăn rất Huế, rất Việt Nam như cháo ruột, cháo máu! Thật ra, người Việt gọi là cháo lòng, cháo huyết, Ruột và máu thì ai còn dám đụng đến?! Chị Mônica hiểu và cười bằng thích. Chị lại liên hệ chuyện học tiếng Việt của mình: - Tôi viết nhiều sách về Việt Nam, đến nỗi ở Ba Lan người ta gọi tôi là một nhà văn Việt Nam viết bằng tiếng Ba Lan, Pháp, Anh. Nhưng tôi lại không biết tiếng Việt. Người dạy tôi học tiếng Việt đầu tiên là nhà văn Nguyễn Công Hoan. Tôi đã cố gắng học thuộc lòng một số mẫu câu. Một hôm, ở Hà Nội, trước đám đông, tôi trổ tài nói tiếng Việt: - Tôi hân hạnh được quen biết ông Nguyễn Công Hoan, một nhà văn lớn! Dứt câu, tôi thấy mọi người im phăng phắc, trố mắt nhìn nhau còn anh Nguyễn thì trán toát mồ hôi lạnh! Về sau, tôi mới biết rằng mình phát âm nhầm lẫn. Thay vì lớn tôi nói thành lợn! Tôi trả ơn thầy như thế đấy. Từ ấy, tôi giả từ luôn giấc mơ học giỏi tiếng Việt. Vâng, phong tục tập quán khác xa nhau nhưng chị đã sát cánh cùng nhân dân Việt Nam trong mọi hoàn cảnh. Ngôn ngữ bất đồng nhưng chị xứng đáng được nhân dân Việt Nam xem như một nhà văn của mình. Không chỉ ủng hộ Việt Nam bằng tác phẩm văn học, chị còn diễn thuyết, kêu gọi mọi người, mọi đoàn thể tiến bộ đứng về phía Việt Nam, giúp Việt Nam chống kẻ thù chung của loài người: chủ nghĩa đế quốc. Chị đã đi khắp nơi để quyên góp, chuyển thuốc kháng sinh cho bệnh nhân, ra-đi-ô cho bộ đội, kính hiển vi cho trường học ở Việt Nam… Và cũng vì vậy, chị Mônica Vácnênxca có nhiều kẻ thù. Chúng là ai, ta thừa hiểu. Có lần, chị nói đùa: “Vừa rồi, nếu những người cộng sản Ba Lan thất bại, không biết tôi đã như thế nào. Nhưng dù thế nào chăng nữa thì tôi cũng đã chọn”. Rất tiếc, sách của chị còn chưa được biết nhiều ở Việt Nam. Hầu hết tác phẩm của chị đều viết về chiến tranh Việt Nam. Điều đáng chú ý là chị đã liên tục theo dõi số phận của những nhân vật. Mỗi lần trở lại Việt Nam, gặp lại những nhân vật - nguyên hình xã hội, chị lại nhận ra dấu ấn của thời gian, của cuộc sống đầy những chuyển biến sôi động trên đất nước trẻ trung này. Chị Mônica tâm sự: “Mơ ước lớn nhất của tôi là được viết về hòa bình và xây dựng. Lần này, tôi quan tâm đến các vấn đề văn hoá, lịch sử, nghệ thuật của Việt Nam. Sau 1975, tôi tưởng mình đã có thể thể hiện ước mơ của mình. Nhưng ngay sau đó tôi phải viết những cuốn sách phản ảnh kịp thời, trung thực về cuộc chiến tranh chống Pôn-pốt, chống bành trướng Bắc Kinh của Việt Nam. Sách của tôi góp phần đánh bại âm mưu bôi nhọ Việt Nam của bọn phản động quốc tế. Tôi lại viết những bài báo về hậu quả chiến tranh hóa học của Mỹ ở Việt Nam. Tôi còn diễn thuyết về đề tài này tại Tây Đức, nước đang sản xuất chất độc màu da cam cho Mỹ! - Anh vui lòng phát âm mấy chữ này - Chị Mônica đã mở sổ tay từ lúc nào. - Di Lạc. - Phật? - Vâng. - Tôi gật đầu và hiểu chị đang nghĩ đến tượng Phật đặt ở tiền đường chùa Thiên Mụ. - Thời nào? - Vị lai. - Vị lai? Theo kinh Phật thì bao giờ Di Lạc giáng sinh? - Tôi chịu bí, đành đùa: không phải băn khoăn chuyện ấy lắm. Vì có đúng vậy chăng nữa, ngài cũng không sinh vào các nước xã hội chủ nghĩa đâu! Chị Mônica cười ngặt nghẻo. Khi cười, trông chị rất trẻ. - Không ngờ đến Huế tôi được gặp nhiều đồng chí quen biết trong thời chiến tranh đến thế. - Vừa nói, chị Mônica vừa mân mê tấm ảnh đã tróc nước thuốc mà anh Xuân Hoàng vừa biếu chị. Đó là bức hình chị chụp chung với anh Xuân Hoàng ở Quảng Bình. Và, tôi còn được biết chị Mônica là hội viên danh dự của Hội văn nghệ Quảng Bình ngay trong thời chiến tranh. - Thật xúc động khi gặp lại các đồng chí ấy - chị nói tiếp. Tôi cũng đã xúc động khi chứng kiến cảnh chị Mônica vừa bước xuống xe, trước cổng nhà khách tỉnh ủy, lập tức có nhiều người nhận ra chị chạy lại bắt tay chị, ôm chầm lấy chị, kêu lên mừng rỡ: “Chị Ba!”, “Chị Ba!”. Rồi bất chấp ngôn ngữ bất đồng, họ nhiệt tình hỏi thăm sức khỏe, hỏi thăm Ba Lan mà không cần đến sự giúp sức của đồng chí thông dịch. Lúc ấy, tôi thấy mắt chị long lanh, miệng hé ra như cười, gật đầu với tất cả mọi người. Bất giác, tôi biết chị hiểu các bạn Việt Nam, chiến hữu của chị, đang nói gì với chị, nghĩ gì về chị. Chị hiểu rất sâu. Tôi tin thế. - Lăng tẩm được xây dựng ngay khi nhà vua còn sống? - Chị trở lại với cuốn sổ tay, bút đặt trên những niên đại. - Vâng. Lên ngôi, nhà vua có hai việc lớn: tu sửa cung điện và xây lăng tẩm. Nhân dân chúng tôi vẫn bảo nhau như vậy để chê trách chế độ phong kiến. - Đang sống đã lo cái chết! Những năm qua, người Việt Nam kề bên cái chết, đối diện cái chết lại chỉ nghĩ đến sự sống. Mở tập bưu ảnh thắng cảnh Huế, chị Mônica xem một cách trân trọng, nói thật khẽ: - Một thành phố tuyệt diệu! Ba Lan là quê hương của các lâu đài cổ nhưng tôi vẫn bàng hoàng trước Huế. Chiến tranh! Ôi, chiến tranh đã cướp đi của loài người biết bao giá trị… - Hiện đang có những kiến trúc sư Ba Lan giúp chúng tôi trùng tu các di tích văn hoá, lịch sử. Và tôi tin rằng, trong số ấy, có người đến phục vụ tại Việt Nam vì đã đọc được những cuốn sách của chị. - Anh quá lời rồi đó! - Chị Mônica lắc đầu cười, nhìn tôi bằng ánh mắt chế giễu. Tôi cãi: - Chính những khách du lịch người Ba Lan cùng nói như vậy - Những người đã tìm đến thăm chị khi hay tin chị đang có mặt ở cùng một khách sạn đó mà, chị nhớ chứ? - Thế thì tôi vĩ đại quá! Chị Mônica che miệng cười khúc khích. - Vâng, chị vĩ đại như một đầu máy xe lửa! - Tôi cũng cười và nhại nguyên văn lời ca tụng chân tình, thô thiển, méo mó nghề nghiệp của anh em công nhân đường sắt Ba Lan đã dành cho chị sau một buổi diễn thuyết. Xe đã lên tới đỉnh đèo Hải Vân. Từ điểm cao này, chúng tôi có thể nhìn thấy thành phố cảng Đà Nẵng. Bỗng nhiên, chị Mônica ngoảnh lại phía Bắc đèo, hướng về thành phố cổ kính mờ nhạt sau lớp sương núi buổi chiều, vẫy tay: - Tôi sẽ trở lại thành phố này. - Chị Mônica khẽ nói rồi mãi miết ghi chép gì đó trong sổ tay. Còn tôi, tôi sẽ đợi chờ chị, đợi chờ cuốn sách chị viết về thành phố tuổi thơ của tôi. Đà Nẵng, tháng 2-83. V.Q. (1/5&6-83) |
Tải mã QRCode
ĐOÀN MINH TUẤN Tùy bútĐã từ lâu lắm, nhiều mùa xuân đã qua, nhà văn Đoàn Giỏi có cho tôi mượn cuốn sách rất hay viết về "chó và mèo trên thế giới" của hai tác giả người Pháp Marlyse et Frange.
NGUYỄN QUANG HÀHầu như mỗi chúng ta chỉ biết Mai Xuân Hòa là nhạc sĩ. Anh đã ra mắt hai tập nhạc viết cho người lớn: "Nỗi đợi chờ", "Khát vọng",và hai tập cho thiếu nhi: " Những điều em thích", " Những ngôi sao đẹp".
PHAN THỊ THU QUỲ(Hưởng ứng cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”)
LÊ KHAI Bút kýAnh đưa tôi một tờ giấy cuộn tròn và nói: Tuần qua tôi đi tìm mộ liệt sĩ ở Truồi (huyện Phú Lộc). Tìm một mộ mà phát hiện ra tám mộ. Buồn! Tôi làm bài thơ. Anh xem và chữa giúp. Cả đời tôi chưa quen làm thơ. Anh chào tôi rồi vội vã về vì đang có việc cần.
HÀ KHÁNH LINH Trích Hồi ký… Mùa xuân 1967, địch tăng cường đánh phá suốt ngày đêm, ngày một ác liệt hơn. Các trạm khách dọc tuyến đường 559 không ngày nào không bị đánh trúng hoặc B52 hoặc bom tọa độ, hoặc pháo tầm xa. Ngày nào cũng có thương vong. Có những đơn vị trên đường hành quân vào Nam chưa đến địa điểm tập kết đã bị đánh tơi tả, chỉ còn sót lại vài người. Các cơ quan đơn vị đóng chung quanh khu vực phần nhiều đã bị đánh trúng.
TUỆ GIẢI NGUYỄN MẠNH QUÝ Tạp bútNhư nhân duyên, như định mệnh, cuộc đời tôi như thu hết vào trong một chung trà. Tuổi thơ đã qua, bây giờ và sẽ mãi mãi, cuộc đời tôi luôn vương vấn một hương trà. Tôi thường hay nói đùa cùng bằng hữu rằng sinh ra và lớn lên được ướp trong hương trà, tôi cũng chỉ mơ một ngày về thiên cổ được vẫy tiễn linh hồn bằng một chén trà ngon, được chôn theo cùng là một bộ ấm trà quý nhất và được vẫn cùng người “hồng nhan tri kỷ” đồng ẩm tương phùng ở thế giới bên kia!!!
TRẦN KIM HỒĐảo Cồn Cỏ là vọng gác tiền tiêu, là con mắt của Vĩnh Linh - khu Vĩnh Linh là tiền đồn của miền Bắc XHCN, là hậu phương trực tiếp của tiền tuyến lớn miền Nam; do đó đảo Cồn Cỏ có vị trí vô cùng quan trọng, mặc dù diện tích chỉ có 4km2. Mât Cồn Cỏ, miền Bắc XHCN trực tiếp bị uy hiếp, nhất là vào lúc nguỵ quyền Ngô Đình Diệm không ngớt hô hào lấp sông Bến Hải, Bắc tiến; đế quốc Mỹ từng trắng trợn tuyên bố biên giới Hoa kỳ kéo dài đến vĩ tuyến 17.
PHẠM NGUYÊN TƯỜNGHai cái máy lạnh hai cục trong căn phòng 40m2 của nhà hàng Hoa Chuối cộng với cả trận mưa chiều đột ngột tầm tã không làm dịu được sức nóng từ tấm thịnh tình của gần 50 cộng tác viên thân thuộc của tạp chí Sông Hương tại thủ đô Hà Nội.
TÔ VĨNH HÀTrong lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam, 60 năm qua là một chặng đường đặc biệt. Chưa bao giờ dân tộc ta phải đương đầu với nhiều thử thách đến như thế, phải chiến đấu và chiến thắng nhiều kẻ thù đến như thế. Pháp rồi Nhật, Tưởng và Anh; hết Mỹ đến Khơmer “đỏ”... Kẻ thù và đau khổ nhiều đến mức tưởng chừng như đất nước Việt Nam được tạo hoá sinh ra là để cho các loại kẻ thù nhòm ngó, tìm mọi cách thôn tính.
NGÔ MINHTừ tháng 7-1954, Hiệp định Giơnevơ ký kết cho đến cuối năm 1964 đôi bờ giới tuyến Hiền Lương lặng im tiếng súng, nhưng đây là 11 năm diễn ra cuộc đối đầu văn hóa nóng bỏng, quyết liệt nhất giữa ta và địch.
PHAN THỊ THU QUỲ Trên bờ Hương Giang êm đềm, có ngôi nhà nhỏ tôi được sinh ra ở đó. Hằng ngày tung tăng cắp sách đến trường Đồng Khánh, tôi cũng nhảy nhót trên bờ Hương Giang. Lớn lên tôi hoạt động nội thành thường đến hò hẹn bên cây phượng vỹ trước cửa Thượng Tứ, nơi đó là địa điểm giao nhận những “gói nhỏ”, để nhận công việc và để nhớ mật hiệu. Cho nên trên bờ Hương Giang tôi đã ngắm dòng sông thơ mộng với tôi gắn bó biết bao từ tuổi ấu thơ cho đến bước vào đời.
NGUYỄN VĂN VINH Bút ký Thôn Hiền An, xã Vinh Hiền là một thẻo đất cát bạch sa cuối phá Tam Giang phía Bắc vào. Như một ốc đảo ba bề, bốn bên là nước, nếu không có đường 49B chạy dọc phá đến cùng đường, tận biển. Và mỗi ngày, hai chuyến xe đò chở khách cùng mấy chục chuyến đò ngang phá qua lại Lộc Bình đem chút xôn xao thị tứ, phố chợ về với thôn, xã thì Hiền An càng xa xôi heo hút.
TRẦN HOÀI Ghi chépThung lũng A Lưới chạy dài theo hướng Bắc Nam đến vài chục km. Đó là một thung lũng đẹp, là một vị trí quân sự chiến lược, là nơi giao tranh ác liệt giữa ta và địch trong cuộc kháng chiến vừa qua...
LÊ BÁ ĐẢNGBạn của tôi rất nhiều. Năm ba bạn mà tôi nhắc nhở ra đây phần nhiều là bác sĩ, kỹ sư, giáo sư còn nghệ sĩ thì chất cả đống.
NGUYỄN THẾ QUANGMùa hạ, trời Bát Tam Boong trong xanh. Những hàng cây thốt nốt lặng lẽ kiêu hãnh xòa những tán lá xanh che mát cả khu đồi. Trong căn nhà của sở chỉ huy Sư 179 quân đội Cămpuchia, trung tá Nguyễn Văn Du chuyên gia của bộ đội Việt Nam cởi thắt lưng ra treo khẩu K54 lên vách. Anh vui mừng trước khả năng chiến đấu ngày càng tốt của quân đội bạn. Trận đánh trả lực lượng quân đội Thái Lan bảo vệ sáu nghìn dân tị nạn ở chòm Rumthumây diễn ra nhanh chóng.
TỐ HỮU Trích chương V, hồi ký Nhớ lại một thời
VÕ MẠNH LẬP Ghi chépTrong những ngày tháng ba, hai lẻ sáu trời Hà Nội đẹp và dễ chịu. Cái nắng vàng phủ tràn thành phố, tôn màu của cây thêm xanh biếc, ngói trên các mái nhà như thắm thêm lên, đường phố đi lại thanh thoát và đặc biệt có chút se lạnh vào sáng sớm như sợi tơ vương của hơi thở cuối mùa đông còn lưu sót lại.
NGUYỄN QUANG HÀ Bút kýMã Yên là tên trên bản đồ của một ngọn núi, còn dân địa phương thì gọi đó là núi Yên Ngựa. Núi Yên Ngựa là một trong những ngọn núi ngoài cùng về phía Đông của dãy Trường Sơn.
NGUYỄN QUANG HÀ Bút kýNắng chiều vàng trải dài trên những hàng bia trắng như mơ, như kỳ ảo. Đi trong nghĩa trang tôi có cảm giác mình như đang ngỡ ngàng, có cái gì đó nghèn nghẹn nơi cổ khi hàng hàng những bia trắng dài kia không có một nét mực ghi tên. Đó là những tấm bia vô danh.
NGUYỄN TRI TÂMNgười kể chuyện phải lục tìm những tấm ảnh lưu niệm để nhớ chính xác hơn. Sau tấm ảnh đen trắng cỡ 18x24, tướng Hoàng Văn Thái kí tên và ghi rõ “Thân tặng đồng chí trung tá Lương Văn Chính, người chiến sĩ Điện Biên năm xưa, huyện đội trưởng huyện đội Điện Biên. Kỉ niệm ngày lên thăm Điện Biên 3-4-1984”.