Tâm cảnh của Thiên Vũ

09:24 01/08/2025
LÊ MINH PHONG Nghệ thuật của Đoàn Quỳnh Như, cả hội hoạ lẫn thi ca, đều là những nỗ lực phóng chiếu thế giới nội tâm. Ở đó, ta thấy một vùng trời rộng lớn và huyền bí khó xâm nhập,đóchính là tâm thức của thi sĩ. Nhờ vào những thi/ hoạ phẩm ấy, ta có thể lần tìm và cảm nhận được phần nào thế giới tâm thức mênh mông của Như, nơi không dễ để thấu cảm.  
      (Viết nhân dịp triển lãm “Thiên Vũ” của hoạ sỹ Đoàn Quỳnh Như tại 22 Gallery, 22 Phạm Cự Lượng, Phường Tân Sơn Hoà, Thành phố Hồ Chí Minh từ ngày 02/08 đến ngày 10/08 và dự kiến sẽ diễn ra ở Trung tâm Liên Văn hóa, 98 Bạch Đằng, phường Phú Xuân, thành phố Huế từ ngày 16/08 đến ngày 23/08/ 2025.)      

Như vẽ thiên nhiên, Như lấy thiên nhiên làm điểm xuất phát nhưng mục đích không chỉ là để mô tả, mà sâu xa hơn, hoạ sĩ muốn chinh phục vùng trời tâm thức vốn vô hình và vô biên. Tranh Như phối trộn, hỗn dung giữa hình thể và giải hình thể, giữa tư duy nghệ thuật trừu tượng và phảng phất cách thức thực hành của ấn tượng và biểu hiện. Rất khó để phân định một cách sáng rõ những đường biên này trong thế giới của Như. Tranh Như cómột chiều sâu tâm thức khó lý giải tường minh nhưng lại đầy mê hoặc. Tôi có cảm giác Như là hoạ sỹ thiên về trực giác, điều này cũng thường thấy trong thi ca của Như. Trực giác trong Như có sự mách bảo của vô thức, nó lựa chọn và gọi tên đối tượng nhanh chóng. Cái sinh khí trong tranh hình thành một cách khó kiểm soát, tức thời và lan toả tới vùng trời bên trong (vùng trời tâm lý) và tớichân trời của các sự kiện,cácvật thể bên ngoài thiên nhiên.


Tác phẩm Khâu vết thương đêm của họa sỹ Đoàn Quỳnh Như
 

Thế giới của Như không hình thành từ sự tính toán lựa chọn của lý tính. Cái sinh khí từ những bức tranh ấy đến từ sự mách bảo của bản năng nguyên thuỷ. Vì thế, tranh Như không phảilà nhữnghọa phẩm để trang trí mà chúng lớn hơn, là nỗ lực và khát vọng phơi bày bản năng gốc đang lẩn khuất. Những tác phẩm này làm tôi nhớ tới mục đích khởi nguyên của nghệ thuật, là nhữngcuộc rượt đuổi trong thế giới tâm linh huyền bí, nơi đó có sự hiện hữu của ma thuật, nghi lễ và những âm thanh nguyên sơ.


Tác phẩm Ngân Thanh
 

Thiên nhiên của Như là thiên nhiên tưởng tượng, và đúng như thế, cốt lõi của nghệ thuật là tưởng tượng, từ tưởng tượng sinh ra những khả thể mới của tồn tại. Những hình thể thiên nhiên ấy không bấu víu vào hiện thực, đó là một kiểu thiên nhiên của Như, kiểu thiên nhiên khả thể rất giàu thi tính.


Tác phẩm Thiên vũ
 

Cũng như trong thơ, nhịp điệu trong tranh Như đem tới những cảm giác mới lạ với những tiết tấu điệp trùng của những đường chân trời kéo về phía sâu thẳm, gợi nhớ tới thuở trời đất hồng hoang. Thoạt nhìn, những hình thể như núi đồi, dòng sông, đám mây… đang diễn giải về ngoại vật nhưng chúng luôn gợi mở về những chân trời khác, về nội giới, về thế giới tinh thần của họa sỹ. Ở đó có cái gì đó hun hút, xa xăm và cô độc. Ở đó có những tiếng gọi, những bàn tay với vào điệp trùng nhưng dường như không có thanh âm nào đáp lại. Tất cả tạo nên một cá tính riêng, một cá tính được làm nên không phải từ sự quan sát ngoại cảnh mà nó đến từ tâm tưởng. Khi Như vẽ thiên nhiên thì dường như vật thể chỉ là cái cớ, những khả tín của thị giác chỉ là sự gợi hứng ban đầu để người hoạ sỹ lặn lộn vào trong.  Tôi luôn quan niệm rằng những ai lắng nghe và đối thoại được với những tiếng thì thầm vọng về từ nguyên thủy thì biên giới của người ấy trở nên rộng lớn. Như vẽ về đất mẹ, đồi núi và những đường chân trời, ấy không chỉ là thiên nhiên thuần tuý mà với tôi, đó là tiếng thì thầm của khởi nguyên, nơi chứa đựng những giấc mơ miên viễn của loài thi sĩ.
 


Tác phẩm Mấy rặng quan san 
 

Như vẽ thiên nhiên nhưng đó không phải là một thiên nhiên hoa lá khoe sắc với những điệu nhạc huê tình làm vui lòng những tâm hồn dễ dãi. Thiên nhiên của Như là một kiểu dạng thiên nhiên rắn đặc, u trầm và biến động, nơi trú ẩn của cô đơn, nơi sự cô độc đã trở nên đặc quánh, nơi khởi đi của những suy nghiệm về tồn tại, về không - thời gian và về cả những hữu hạn của thân phận người. Thiên nhiên ở Như được tinh giản để chỉ còn lại là những hình khối mang tính biểu nghĩa thay cho sự biểu hình, vì thế thiên nhiên ở đây mang nhiều ý niệm.


Tác phẩm Miên hạ


Như vẽ nhanh và mạnh, không truyền đạt chi tiết, giảm thiểu tối đa sự kể tả, thay vào đó là cách khai thác sự vật dựa trên cái nhìn tổng thể, đặt các hình thể một cách hợp lý để nhằm đưa tới một kích động thị giác mạnh mẽ. Vì thế thiên nhiên của Như hiện lên khỏe khoắn, mang tính mô hình gợi dẫn, để lại ấn tượng về những ngẫu tượng có sức mạnh biểu nghĩa lớn hơn cách vẽ thiên nhiên theo lối kể tả thường thấy. Trong tranh Như, thoạt nhìn, núi vẫn là núi, sông vẫn là sông, ghềnh đá vẫn là ghềnh đá nhưng ẩn sau những họa tiết ấy có cái gì đó sâu xa hơn, va chấn hơn và gợi dẫn về chiều sâu của huyền bí nội tâm. Thiên nhiên trong tranh Như không mượt mà, không hướng tới sự hài hoà về hình thức, không an ủi chở che mà là một thứ thiên nhiên mang những vết thương, những vết thương đến từ chính con người, buộc con người phải tự vấn về hành vi của mình nếu không muốn đối diện với sự tận diệt. Tôi có cảm giác thiên nhiên đi vào Như không phải thông qua thị giác, không đi từ ngoài vào mà là một thứ thiên nhiên đi từ bên trong ra. Là một thi sĩ nên trực giác cộng thông với thứ bản năng mạnh mẽ là nguồn khởi sinh cho kiểu dạng thiên nhiên ấy. Một kiểu thiên nhiên của Như, không trộn lẫn. Kiểu thiên nhiên không phải để ngắm mà là để nghĩ, để truy vấn. Một kiểu thiên nhiên làm khó cho mọi diễn giải, nơi để cảm nhận và rồi để bặt âm.

Từ cách thực hành nghệ thuật của Như, rất khó đặt Như vào một địa hạt nào đó để gọi tên. Như vừa có cái mênh mông ma mị của lãng mạn, vừa có sự quằn quại thô ráp của hiện thực, vừa giàu tính trực giác của ấn tượng, lại phối trộn với những khát vọng bày tỏ nội tâm của biểu hiện. Đó có lẽ là thế giới của một thi sĩ phản tư, khó gọi tên nhưng mê hoặc.


Đoàn Quỳnh Như sinh năm 1978, lớn lên bên dòng Thạch Hãn, thị xã Quảng Trị (nay thuộc phường Quảng Trị), tỉnh Quảng Trị. Quê ngoại Bao Vinh, phường Hương Vinh (nay thuộc phường Hóa Châu), thành phố Huế. Từng học ngành Văn hoá - Du Lịch tại trường CĐ Văn Hoá  Nghệ Thuật Huế. Đến nay cô đã có những triển lãm đáng chú ý như: “Khiêu vũ tới trập trùng”, tại Sài Gòn - Việt Nam 2022 ,  “Mộng cảnh”, tại Hamburg - Đức 2024. Cô cũng là tác giả của những thi phẩm như: “Như là”- Nxb Maya 2005, “Vọng”- Nxb Hội nhà văn 2009. Như còn viết kịch bản phim cho bộ phim  “Thiên thai”, 2008 (Hãng Chánh Phương Film giữ bản quyền).  Từ 2010 cô sinh sống tại Cộng hòa Liên bang Đức.

Việc đi vào thế giới nội tâm của thi sỹ rồi gọi ra những ẩn mật bên trong họ là điều không dễ, thậm chí có thể là bất khả. Khi chúng ta đọc thơ của Như rồi đặt nó bên cạnh những họa phẩm của chính cô, chúng ta nhận thấy có một sự nối kết và lan toả giữa hai địa hạt này. Ngầm ẩn bên dưới thơ và tranh của Như là một dòng sông biến động, sâu kín. Dòng sông ấy chứa những tàn tích xưa cũ, những phản tư đương thời và cả những dự phóng cho ngày mai.


Tác phẩm Nguyệt lạnh
 

Tác phẩm Dặm trường



Tác phẩm Đất sinh nở


L.M.P
(SHO)















 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
  • Trên những con phố nhộn nhịp ở phố cổ Hà Nội, tuy chỉ có một vài cửa hàng bán tranh cổ động, nhưng lại hấp dẫn khiến không ít du khách nước ngoài ghé thăm.

  • Cuối thế kỉ XIX, khi máy ảnh phương Tây bắt đầu du nhập sang các nước châu Á, ở Nhật Bản có trào lưu chụp ảnh chân dung. Đáng chú ý, bonsai là một trong những nghệ phẩm được các tầng lớp người Nhật chọn lựa để chụp cùng nhiều nhất.

  • Sinh ra trong gia đình “Danh gia vọng tộc” về nghệ thuật, có bố là NSND Doãn Hoàng Giang lừng lẫy của sân khấu, mẹ là nữ diễn viên Nguyệt Ánh được xếp vào hàng mỹ nhân nghiêng nước, nghiêng thành của thập niên 70 nhưng Doãn Hoàng Lâm không núp dưới bóng cả.

  • Sau nửa thế kỷ miệt mài sáng tác, họa sĩ Lê Hàn đã để lại nhiều tác phẩm có giá trị nghệ thuật, giành được nhiều giải thưởng uy tín. Nhưng nhắc đến sự nghiệp của ông, người yêu hội họa nhớ mãi những bức tranh vẽ chân dung phụ nữ bình dị mà vẫn toát lên vẻ đẹp nội tâm sâu thẳm.

  • KHẢ HÂN

    Trào lưu nghệ thuật nữ quyền luận xuất hiện vào khoảng cuối những năm 1960 với những tên tuổi như Judy Chicago, Miriam Schapiro, Martha Rosler, Barbara Kruger, Hannah Wilke…

  • Ngày 8-3 tới, triển lãm “Giá Thánh”- một góc nhìn đặc biệt về tín ngưỡng Thờ mẫu của họa sĩ Trần Tuấn Long sẽ được trưng bày tại Bảo tàng Mỹ Thuật Việt Nam. Đây là triển lãm hội họa về tín ngưỡng Đạo Mẫu đầu tiên sau khi được công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.

  • Say mê nghệ thuật, đi nhiều, vẽ nhiều, họa sỹ Nguyễn Văn Tỵ có nhiều tác phẩm hội họa giá trị, nhiều đóng góp cho sự phát triển của mỹ thuật Việt Nam...

  • Nếu nói Đỗ Phấn là người nổi bật nhất xét trên khía cạnh vừa vẽ, vừa viết trong giới văn nghệ cũng thấy không ngoa chút nào.

  • KHẢ HÂN

    Nghệ thuật xếp đá là một loại hình nghệ thuật trình diễn được thực hiện qua việc tạo ra sự cân bằng tự nhiên lên trên đỉnh của một viên đá ở nhiều vị trí khác nhau.

  • Cuộc gặp gỡ của thi ca và hội họa đã là một truyền thống ở các nước Á Đông cũng như ở Việt Nam.

  • KHẢ HÂN

    Julie Mehretu, sinh năm 1970  ở Ethiopia, là một nhà họa sĩ, hiện đang sống và làm việc tại New York.

  • Nguyễn Sáng vẽ Kết nạp Đảng ở Điện Biên Phủ vào năm 1956, kích thước 112,3 x 180 cm, chất liệu sơn mài. Ngay sau khi hoàn thành, bức tranh đã dấy lên nhiều tranh cãi gay gắt trong giới mỹ thuật.

  • KHẢ HÂN

    Nghệ thuật mandala là một loại hình nghệ thuật tiêu biểu của truyền thống Phật giáo Tây Tạng.

  • Ngày 14/12, tại Hà Nội, Hội Mỹ thuật Việt Nam tổ chức kỷ niệm 110 năm ngày sinh họa sỹ Tô Ngọc Vân (15/12/1906-15/12/2016) - một trong những danh họa hàng đầu của nền mỹ thuật Việt Nam hiện đại.

  • Trong các nghiên cứu về danh họa Nguyễn Gia Trí, lác đác có vài nhận xét: Nguyễn Gia Trí chịu ảnh hưởng từ nữ họa sĩ người Pháp Alix Aymé thời cận đại (Mỹ thuật Đông Dương). Vậy Alix Aymé là ai?

  • TUỆ NGỌC

    Robert Rauschenberg sinh năm 1925 tại Port Arthur, Texas, Mỹ, được xem là một trong những nghệ sĩ tiền phong hàng đầu Hoa Kỳ.

  • PHƯỚC VĨNH

    Cách đây tròn 70 năm, năm 1946, họa sĩ Tô Ngọc Vân cùng họa sĩ Nguyễn Đỗ Cung và nhà điêu khắc Nguyễn Thị Kim được Hội Văn hóa Cứu quốc Việt Nam cử vào Bắc Bộ phủ xin vẽ Hồ Chủ tịch.

  • Victor Tardieu (1870 – 1937) thường được nhắc đến với vai trò sáng lập trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương. Tuy nhiên, sức ảnh hưởng của ông đến hội họa Việt Nam đầu thế kỷ 20 còn sâu sắc hơn thế.

  • HẠ NGUYÊN  

    Từ ngày 3/9 đến 12/9, danh họa Nguyễn Đại Giang đã về Huế bày tranh nghệ thuật đảo ngược. Một cuộc triển lãm kỳ thú, và cả những hoạt động của ông cũng góp phần làm cho Huế sôi động: vẽ ký họa chân dung cho công chúng, nói chuyện với sinh viên Đại học Nghệ thuật Huế, tặng cho Bảo tàng Mỹ thuật Huế 3 bức tranh, trong đó có bức “Ca Huế trên sông Hương” thật sự tuyệt mỹ …