Tiểu thuyết không tên

08:53 23/08/2013

HOÀNG LONG 

Đây là một tiểu thuyết cực tiểu, gồm năm thiên. Và không có tên. Cũng như mọi thứ trên đời này đều như vậy. Tự thân không có tên. Chúng ta đặt tên cho chúng và ban cho vạn vật một ý nghĩa nào đó với chúng ta. Tất cả là do tâm tạo tác. Cái vọng tưởng đó của ta chẳng liên quan gì đến thế giới. Vì thế giới vận hành trong sự không tên.

Minh họa: Nhím

Thiên một: TRẦM TÍCH

Người ta khó lòng lừa gạt người khác nhưng rất dễ lừa gạt chính bản thân mình. Biết bao nhiêu bi kịch đều từ đó sinh ra, thảm cảnh kéo dài vô tận. Anh cứ chạy trốn vết thương, tìm kiếm thuốc chữa. Cố gắng lãng quên trong chừng có thể và khi rát bỏng quá, anh vội quấn một lớp băng, bôi một ít thuốc đỏ là xong chuyện. Anh mặc một chiếc áo thời trang vào, yên chí là vết đau khỏi hẳn. Lâu dần anh tin vào chính điều huyễn hoặc này, nói cười ra vẻ rất hạnh phúc. Bảo rằng đời chỉ là ảo tưởng mà thôi. Mà cũng có phần đúng. Tất cả những điều chúng ta làm hay tranh đấu cuối cùng là vô nghĩa, có cũng được không có cũng chẳng sao. Chỉ là ta ban cho nó một ý nghĩa với riêng mình, xem như đó là dấu vết sự hiện hữu của ta mà thôi. Thêm hay bớt một bài thơ, một mạng người thì thế gian này có ng- hĩa gì chứ? Nó cũng vẫn tồn tại như đã tồn tại thế thôi. Nhưng với kẻ làm văn nghệ viết thêm được một bài thơ hay, hắn thấy đời mình có ý nghĩa hẳn, phong phú hơn, đáng sống hơn. Kỳ thực đó chỉ là huyễn ảnh. Trong khi tìm kiếm điều này điều khác mệnh danh là khát vọng với sáng tạo thì khổ đau luôn còn đó như những trầm tích. Những vết thương mưng mủ lên dòi, tha hồ đục phá thân tâm. Một thi hài đi ca tụng cuộc sống. Thật là quá sức kỳ khôi. Anh cũng thấy mình quái đản nhưng không đủ sức để dừng lại trong vòng quay như thác lũ. Ai cũng quay cuồng mà? Đúng vậy? Ai cũng khổ cả. Có lẽ chỉ nỗi khổ đau là thực có ở đời này. Cái ta gọi là sung sướng hạnh phúc chỉ là một mặt khác của khổ đau thôi. Nhưng cứ cuồng quay và đau đớn bỏng rát đến lúc nào đó người ta quá sức mệt mỏi, tỉnh ngộ rằng mình cần phải dừng lại để khử trùng và băng bó vết thương. Thật may là anh đã làm được điều đó. Cuối cùng vẻ nói cười giả tạo của anh đã biến mất trong một khoảnh khắc khi anh nổi cơn giận dữ. Cái tâm uế nhiễm bộc phát ra ngoài như một vết thương bục ra khỏi lớp băng để thấy mình bắt đầu bị hoại tử. Anh cũng như mọi người đã cùng diễn kịch với nhau qua màn sân khấu cuộc đời. Đến khi về nhà, đi ngủ mà vẫn còn diễn kịch với chính mình sao? Trò đùa điên rồ tự mình diễn cho mình xem, tự mình làm khán giả này sẽ kéo dài trong bao lâu nữa? Anh không muốn đi qua cuộc đời này và chấm dứt sinh mệnh mình với bộ dạng của một xác chết biết đi. Anh rúc vào một chỗ kín ẩn cư, với tay cầm con dao tuệ giác, hơ nóng sát trùng bằng định lực và cắm phập vào vết thương khổ não. Anh nạo vét băng bó lại toàn vẹn rồi ngất đi.  


Thiên hai: MÀU XANH BÁT NGÁT

Anh đứng lại nơi dòng sông. Nước trong soi những áng mây mùa xuân trôi qua. Ven bờ, hoa cải nở vàng rực rỡ. Đôi khi một cánh cò vút qua trời rộng. Phong cảnh này là thực có hay tâm anh tạo ra? Nếu quang cảnh vùng đất tâm anh được như vậy thì đây là Thiên đường, là Tịnh độ. Và đây sẽ là chốn tựa nương tuyệt hảo cho bản thân mình. Nhưng đây là ảo ảnh do anh khao khát tạo ra sao? Như vậy cõi tâm anh rách nát, đất tâm anh sa mạc, thân xác anh mệt mỏi kiệt tàn. Cũng do tâm tạo tác mà thôi. Đây cũng không phải là thực tại. “Trong khi viết, ta đừng để mình bị ngăn cách với thực tại, dầu chỉ là một khoảng cách mỏng như một sợi tóc. Ta chỉ có thể hiểu được cây thông từ ngay chính cây thông, ta chỉ có thể học cây trúc từ chính ngay cây trúc… và cái thấy ấy tự nó sẽ sáng tạo nên bài thơ của mình.” (Basho). Để tiếp xúc với thực tại bản thân anh phải là thực tại. Không phải là sự trùng khít của một thực tại nhỏ lên trên một thực tại bao quát hoằng viễn mà là một cú nhảy thẳng vào hư không để mở ra một bầu trời xanh bát ngát. Anh có làm được như thế chăng? Đầu tiên là tu tạo lại vườn tâm đổ nát. Việc này mang lại cho anh nhiều nỗi đớn đau kinh khủng. Bởi những vết thương sâu đục có sức tàn phá nhiều hơn anh nghĩ. Nếu không làm bác sĩ phẫu thuật một lần dùng lưỡi dao bén trí tuệ rạch sâu xuống vết thương đến tận đáy, nạo sạch những phần thịt rữa nát hư hoại, rồi đắp muối vào thì vĩnh viễn không thể chữa lành. Không có thuốc tê hay thuốc mê nào cả. Thao tác tiến hành trong sự tỉnh thức tuyệt đối. Anh đau đớn ngất đi rồi tỉnh dậy. Và khi mở mắt, anh lại được nhìn thấy trời xanh. Tuyệt diệu vô cùng khi thấy mình đứng bên bờ sông, nước trong soi mây mùa xuân và hoa cải vàng rực rỡ. Vườn tâm anh đã mát dịu và có những nụ xanh đầu tiên. Bây giờ phải tinh cần tưới tẩm và duy trì chăm bón cho kỹ lưỡng, canh chừng đừng để cỏ dại của tham hận phát sinh. Anh thở ra khoan khoái. Vậy là tự mình đã chữa bệnh được cho mình. Tuy chưa lành hẳn nhưng đã trị tận gốc vết thương. Anh đã nhảy thẳng vào thực tại. Một cuộc đời mới được tái sinh.  


Thiên ba: ÔNG GIÀ LẨM CẨM

Ông cụ gọi điện đến bảo cà phê cà pháo đi lâu ngày quá rồi. Anh cũng đang rảnh nên phóng xe lên chơi. Quán cà phê nằm trong con hẻm nhỏ, kế bên nhà ông cụ, có tàn cây xanh gió thổi rì rào. Những tia nắng xuyên qua tán cây lấp lánh, tiếng chim hót trong chiếc lồng treo nơi mái hiên càng làm cho quán thêm cảm giác yên bình. Thật là dễ chịu được tách xa ra khỏi náo động cuồng nhiệt của thành phố. Nhâm nhi cà phê, chơi một ván cờ tướng, nói chuyện đời rồi lại về nhà ông uống trà. Về khoản này thì ông cụ đúng là một tay sành sỏi. Những thứ như trà Thiết Quan Âm cụ chẳng còn thiết uống. Bảo tầm thường lắm mà đồ Tàu bây giờ hóa chất cũng kinh nên chuyển qua uống Tứ Quý Xuân Trà trên Đống Đỉnh Sơn hay Kim Huyên Trà trên A Lý Sơn của Đài Loan không thì quay về uống trà mạn Thái Nguyên đậm đà ngọt hậu. Bộ đồ trà của ông cụ cũng chính hiệu Nghi Hưng. Anh bảo với ông cụ hồi anh qua Trung Quốc thấy cô gái quảng cáo ấm Nghi Hưng đã cởi giày bước cả người lên cái ấm nhỏ bé vậy mà cái ấm không hề gì. Lúc đó anh cũng mua một cái rồi sau này qua Nhật mua một cái ấm Tokoname tử sa nổi tiếng về chất đất sét giống Nghi Hưng. Gì chứ về trà thì hai ông cháu hợp nhau. Chỉ khác một điểm là ông cụ không ưa trà Nhật còn anh thì rất mê. Nhiều lần giải thích với cụ là trà Nhật cụ uống là trà bột (mạt trà) dùng trong trà đạo, vị nhạt rất khác với loại trà pha (tiễn trà), vị thanh mát dịu dàng. Đặc biệt loại Ngọc Lộ hái vào mùa xuân là thượng đẳng. Vậy mà ông cụ không nghe. Thôi cũng đành chịu vậy. Xong xuôi hai ông cháu chuyển qua nói về Phật giáo. Anh cứ để cho ông cụ thao thao bất tuyệt trong khi nhâm nhi chén trà. Nghe mệt quá anh mới trêu ông cụ. “Cháu thấy ông chưa hiểu gì về Thiền cả”. Thế là ông cụ gắt ầm lên. “Sao sao, thằng ranh kia, tao bỏ cả đời học Thiền đấy”. Anh mới nói “Thì bởi vậy nên cụ nói cái gì cũng sặc mùi Thiền. Thế là chưa được. Chừng nào phải tẩy sạch cái mùi đó đi. Nói về Thiền mà người nghe không biết đang nói về Thiền mới chính là Thiền vậy”. Ông cụ ngẫm nghĩ một lúc bảo rằng anh có lý, tao cần phải tu luyện tiếp mới được. “Vậy thì cụ tiếp tu luyện đi. Cháu không làm phiền nữa”. Rồi anh phóng xe chạy ra mấy tiệm sách quen, mua vài quyển rồi lại vòng về nhà. Thế là một ngày trôi qua nhẹ nhàng như khói mây.  


Thiên bốn: CÔ GÁI KIÊU KỲ

Thật ra thì nàng cũng có tên. Có thể gọi này là A, B, C hay L, M, N gì cũng được. Nhưng để cho dễ phân biệt, anh gọi nàng là cô gái kiêu kỳ. Nàng hay đòi hỏi mà anh lại dễ xiêu lòng. Nhưng tham vọng của đàn bà thật ghê gớm. Cuối cùng thì nàng vẫn giận anh. Anh biết điều đó sớm muộn gì cũng xảy ra nên thản nhiên chấp nhận. Hai người không liên lạc trong một thời gian dài. Anh nghĩ đến là ngẫu nhiên đi là tất nhiên thôi nên cũng không để tâm. Ai cũng phải sống cuộc đời của mình. Điều cần thiết là biết chấp nhận những gì không thể thay đổi được để sống cho tươi vui. Anh vẫn đọc sách, uống cà phê, đánh cờ tướng với ông già lẩm cẩm, dịch sách, đi dạy mưu sinh. Không cần dư dả nhiều, đủ sống là xong. Thiên hạ xem anh như một tên hâm hấp, phụ nữ xem anh là gã khờ, đồng nghiệp thì coi anh là kẻ lập dị hết thuốc chữa. Anh an vui trong cõi của mình, thấy mình không làm phiền đến ai là được. Trải qua gần mười năm phong ba trong thế giới tư bản, anh cảm nghiệm ra được nhiều điều. Cái mình phấn đấu ước ao đến khi có được trong tay lại thấy quá đỗi bình thường, lại ngậm ngùi rằng nó có đáng giá đến như thế không? Bao nhiêu thời gian tâm lực trút vào một trận chiến mà thành quả đạt được là một miếng bánh nhỏ nhoi. Thế mà lại không nguôi tiếp tục tìm kiếm những ước vọng mới, những trận chiến mới. Cứ như vậy đến bao giờ. Anh còn học thêm được một điều nữa là cho dù có đi đến đâu, sống ở nơi nào đi nữa thì mình vẫn chỉ là mình thôi. Vấn đề không phải nằm ở ngoại cảnh mà là chính bản thân mình. Có thể gọi là nghiệp của cá nhân vậy. Anh nhớ đến niềm hạnh phúc hồi bé khi đủ tiền mua một cây kem đá mơ ước. Lúc đó anh thấy mình hạnh phúc nhất trần gian. Còn bây giờ đi lang thang qua nhiều miền đất xa lạ, ăn cơm thiên hạ đủ kiểu Ý, Nhật, Hoa, Hàn đến mòn cả răng, đã ăn biết bao nhiêu que kem Parm thượng hạng, vậy mà tâm tư lúc nào cũng như ngồi trên đống lửa. Tất cả chỉ tại vì tâm thức của mình thôi, cứ muốn nữa, không hài lòng rồi ham muốn mãi. Can đảm dừng lại, tránh khỏi cái guồng quay đó cho đến giờ là quyết định sáng suốt nhất của đời anh. Chiều nay được nghỉ, anh bày một bữa tiệc nhỏ nơi góc vườn. Ngôi nhà anh ở cuối hẻm nhưng có mảnh vườn nhỏ và khoảng không đủ nhìn thấy một khoảng trời. Hôm nay trăng tròn. Một chai rượu vang Berardenga Chianti Classico với vài món nhắm đơn giản, anh thưởng thức một bữa tiệc bình yên. Ngay khi ấy, nàng gọi điện đến bảo anh đưa em đi chơi. Anh từ chối. Nàng hỏi “anh còn giận em à?”. Anh nói anh chẳng bao giờ giận em cả. Nàng phụng phịu nói “vậy bữa khác nghe” rồi tắt máy. Nâng chiếc ly thủy tinh sóng sánh rượu hồng, anh nhấp một ngụm vô cùng khoan khoái và nói thầm. “Thật sự anh chẳng giận em gì cả. Chỉ là anh không còn thời gian yêu em nữa thôi. Anh bận yêu đời rồi”.  


Thiên năm: MẶT HỒ TĨNH LẶNG HAY THANH ÂM CỦA CÂY ĐÀN KHÔNG DÂY

Không còn cỏ mọc bên này và đá phía bên kia. Tất cả hiển bày trong thực tại. Anh ngồi xuống như một tảng đá, đứng dậy như một thân cây, bước đi như mây bay gió cuốn, hơi thở làm gió mát ngàn phương. Đó là cảm giác của anh khi pha một ấm trà rồi ngắm vầng trăng tròn trịa lặng lẽ trên bầu trời. Bao nhiêu người còn phải tất bật mưu sinh trong lòng thành phố mấy ai có rảnh rang mà ngước nhìn lên trời cao để xem trăng mọc hay lặn. Vậy mà mình làm được. Đúng là tuyệt thú trần ai. Công danh lừng lẫy, áo gấm phong hầu, mỹ nhân tuyệt thế… tất cả rồi cũng chỉ là mộng huyễn như khói như mây. Cuối cùng chỉ bản thân mình còn lại đối diện với mình, nương tựa vào hải đảo tự thân. Chính lúc ấy mà thanh thản bình yên, không sân hận, buồn rầu thì cũng đã là người biết sống. Nhưng nếu không trải qua mấy trận phong ba, đứng trên đầu ngọn sóng thì không thấy được sự quý giá của những khoảnh khắc bình yên. Anh mừng vì mình đã có thời gian quay cuồng trong bão lũ để thấu triệt chân lý hiện sinh. Mừng vì mình đã tận cùng đau khổ để bây giờ hạnh phúc bình yên. Sự chữa trị và chuyển hóa thân tâm thật là tuyệt diệu. Vắng mặt khổ đau nghĩa là hạnh phúc. Cõi Ta Bà và Tịnh Độ không hai. Trong một khoảnh khắc này cũng là vĩnh cửu. Không cần quan tâm nghĩ ngợi gì cả, tận hưởng chén trà thơm ngát tỏa hương. Suối nguồn của nhân sinh của hiện hữu của nhiệm màu. Đây mới chính là thực tại. Là chính điều anh sống trải. Là vĩnh cửu hiện diện trong từng sát na. Tựu chung, đó chính là hiện hữu. Khi thấu cảm được điều đó, bản tâm anh ngân lên một giai điệu của cung đàn không dây và dấu tích mọi nỗi muộn phiền biến tan đi như hoa tuyết rơi vào biển cả.

Nagoya, tháng 4/2013
H.L  
(SH294/08-13)






 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
  • PHẠM NGUYÊN TƯỜNGGhi chép 1.Tôi tự đặt ra một “hạng mục” đinh cho chuyến đi thực tế sáng tác ở A Lưới lần này, và hạ quyết tâm thực hiện bằng được, đó là: phải lên được Đồi Thịt Băm!

  • LGT: Liên Thục Hương là một nhà văn Trung Quốc đương đại, tự ví mình là con mèo đêm co mình nằm trên nóc nhà, nhìn cuộc sống thành phố tấp nập đi qua đáy mắt. Liên Thục Hương còn ký bút danh Liên Gián, có số lượng bản thảo lên tới hơn hai triệu chữ. Năm 2003, “Bài bút ký đầy nước mắt” đã được post lên mạng và năm 2004 nó đã được dựng thành phim và bộ phim ngắn này làm tiền đề cho tác phẩm điện ảnh đoạt giải thưởng của Trung Quốc. Sông Hương xin giới thiệu câu chuyện này qua bản dịch của nữ nhà văn Trang Hạ.

  • NGUYỄN ĐẮC XUÂNAnh em Nguyễn Sinh Khiêm - Nguyễn Sinh Cung sống với gia đình trong ngôi nhà nhỏ trên đường Đông Ba. Ngôi nhà giản dị khiêm tốn nằm lui sau cái ngõ thông với vườn nhà Thượng thư bộ Lễ Lê Trinh. Nhưng chỉ cần đi một đoạn ngang qua nhà ông Tiền Bá là đến ngã tư Anh Danh, người ta có thể gặp được các vị quan to của Triều đình.

  • BẮC ĐẢOBắc Đảo sinh 1949, nhà văn Mỹ gốc Trung Quốc. Ông đã đi du lịch và giảng dạy khắp thế giới. Ông đã được nhận nhiều giải thưởng văn học và là Viện sĩ danh dự của Viện Hàn lâm Nghệ thuật và Văn chương Mỹ. Đoản văn “Những biến tấu New York” của nhà văn dưới đây được viết một cách dí dỏm, với những nhận xét thú vị, giọng điệu thì hài hước châm biếm và những hình ảnh được sáng tạo một cách độc đáo. Nhưng trên hết là một cái nhìn lạ hoá với nhiều phát hiện của tác giả khi viết về một đô thị và tính cách con người ở đó. Nó có thể là một gợi ý về một lối viết đoản văn kiểu tuỳ bút, bút ký làm tăng thêm hương vị lạ, mới, cho chúng ta.

  • PHONG LÊTrong dằng dặc của giòng đời, có những thời điểm (hoặc thời đoạn) thật ấn tượng. Với tôi, cuộc chuyển giao từ 2006 (năm có rất nhiều sự kiện lớn của đất nước) sang 2007, và rộng ra, cuộc chuyển giao thế kỷ XX sang thế kỷ XXI là một trong những thời điểm như thế. Thời điểm gợi nghĩ rất nhiều về sự tiếp nối, sự xen cài, và cả sự dồn tụ của hiện tại với quá khứ, và với tương lai.

  • XUÂN TUYNHĐầu thập niên chín mươi của thế kỷ trước, tên tuổi của Lê Thị K. xuất hiện trên báo chí được nhiều người biết tới. K. nhanh chóng trở thành một nhà thơ nổi tiếng. Với các bài thơ: “Cỏ”, “Gần lắm Trường Sa” v.v... Nhiều nhà phê bình, nhà thơ không tiếc lời ngợi khen K.

  • NGUYỄN QUANG HÀTrần Văn Thà cùng các bạn chiến binh thân thiết tìm được địa chỉ 160 chiến sĩ năm xưa của đảo Cồn Cỏ, các anh mừng lắm, ríu rít bàn cách gọi nhau ra thăm đảo Tiền Tiêu, nơi các anh đã chiến đấu ngoan cường, in lại dấu son đậm trong đời mình, các anh liền làm đơn gởi ra Tỉnh đội Quảng Trị giúp đỡ, tạo điều kiện cho cuộc gặp gỡ này.

  • TRẦN KIÊM ĐOÀN- Đừng ra xa nữa, coi chừng... hỏng cẳng chết trôi con ơi!Nhớ ngày xưa, mẹ tôi vẫn thường nhắc tôi như thế mỗi buổi chiều ra tắm sông Bồ. Hai phần đời người đi qua. Mẹ tôi không còn nữa. Bến Dấu Hàn trên khúc sông Bồ viền quanh phía Đông làng Liễu Hạ năm xưa nay đã “cũ”.

  • NGUYỄN NGUYÊN ANChúng tôi đến Đông trong những ngày cuối hạ. Thị trấn Khe Tre rực rỡ cờ hoa long trọng kỷ niệm 60 năm Ngày thương binh liệt sĩ. Sau bão số 6 năm 2006, tôi lên Nam Đông, rừng cây hai bên đường xơ xác lá, hơn 700 ha cao su gãy đổ tơi bời và hơn 3.000 ngôi nhà bị sập hoặc tốc mái, đường vào huyện cơ man cây đổ rạp, lá rụng dày mấy lớp bốc thum thủm, sức tàn phá của bão Xangsane quả ghê gớm!

  • Trang Web văn học cá nhân là một nhu cầu tương thuộc giữa tác giả và độc giả của thời đại thông tin điện tử trên Internet. Hoặc nói cách khác, nó là nhu cầu kết nối của một thế giới ảo đang được chiếu tri qua sự trình hiện của thế giới đồ vật.So với đội ngũ cầm bút thì số lượng các nhà văn có trang Web riêng, nhất là các nhà văn nữ còn khá khiêm tốn nhưng dù sao, nó cũng đã mở thêm được một “không gian mạng” để viết và đọc cho mỗi người và cho mọi người.

  • NGUYỄN NGỌC TƯSinh năm 1976. Quê quán: huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau.Hiện là biên tập viên Tạp chí Bán đảo Cà MauNguyễn Ngọc Tư từng đạt nhiều giải thưởng trung ương và địa phương. Trong đó, truyện vừa Cánh đồng bất tận (giải thưởng Hội Nhà văn Việt ) đã được chuyển ngữ qua tiếng Hàn Quốc. http://ngngtu.blogspot.com

  • VÕ NGỌC LANThuở nhỏ, tôi sống ở Huế. Mỗi lần nhớ về nơi chôn nhau cắt rốn của mình, tôi vẫn gọi đó là ký ức xanh.

  • TÔN NỮ NGỌC HOATôi còn nhớ như in cảnh cả nhà ngồi há miệng nghe chính cậu em tôi là thanh niên xung phong trở về từ Đắc Lắc sau đợt đi khai hoang chuẩn bị đưa dân lập vùng kinh tế mới kể chuyện.

  • TRẦN HẠ THÁPThời gian tuôn chảy vô tình. Con người mê mải cuốn theo dòng cho đến khi nhìn lại thì tuổi đời chồng chất… Ngày thơ dại đã mịt mờ trong kỷ niệm. Mặt trăng rằm tỏa rạng còn đó nhưng dường như không còn là màu trăng xưa cũ. Thứ ánh sáng hồn nhiên một thuở mang sắc màu kỳ diệu không thể nào vẽ được. Dường như chưa trẻ thơ nào ngước nhìn trăng mà sợ hãi.

  • TRẦN HOÀNGCũng như nhiều bạn bè cùng thế hệ, vào những năm cuối thập niên năm mươi của thế kỷ trước, chúng tôi đã được tiếp xúc với Văn học Nga - Xô Viết thông qua nhiều tác phẩm được dịch từ tiếng Nga ra tiếng Việt. Lứa tuổi mười bốn, mười lăm học ở trường làng, chúng tôi luôn được các thầy, cô giáo dạy cấp I, cấp II động viên, chỉ bảo cho cách chọn sách, đọc sách…

  • MAI TRÍHễ có dịp lên A Lưới là tôi lại đến thăm gia đình mẹ Kăn Gương. Song, lần này tôi không còn được gặp mẹ nữa, mẹ đã đi xa về cõi vĩnh hằng với 6 người con liệt sỹ của mẹ vào ngày 08/01/2006.

  • HỒ ĐĂNG THANH NGỌCNếu cắt một lát cắt tương đối như cơ học trong hành trình trùng tu di tích, cắt thời gian dương lịch của năm 2007, sẽ thấy đây là năm mà người ta nhận ra di sản Huế đang mỉm cười từ trong rêu cỏ dẫu đây đó vẫn còn có nhiều công trình đang thét gào, kêu cứu vì đang xuống cấp theo thời gian tính tuổi đã hàng thế kỷ.

  • NGUYỄN QUANG HÀBấy giờ là năm 1976, đất nước vừa thống nhất. Bắc trở về một mối. Người miền Bắc, miền xôn xao chạy thăm nhau, nhận anh em, nhận họ hàng. Không khí một nhà, vui không kể xiết.

  • HÀ VĂN THỊNH Trong cuộc đời của Chủ tịch Hồ Chí Minh, quãng thời gian ở Huế không phải là ngắn. Lần thứ nhất, từ mùa hè 1895 đến tháng 5 - 1901 và lần thứ hai, từ tháng 5 - 1906 đến tháng 5 - 1909. Tổng cộng, Nguyễn Sinh Cung - Nguyễn Tất Thành (NTT - tên được đặt vào năm 1901) đã sống ở Huế 9 năm, tức là hơn 1/9 thời gian sống ở trên đời. Điều đặc biệt là, bước ngoặt quyết định của NTT đã diễn ra ở Huế; trong đó, việc tham gia vào phong trào chống thuế có ý nghĩa quan trọng nhất.

  • NGÔ ĐỨC TIẾNVào những năm 1950 đến năm 1954, tại khu rừng Khuổi Nậm, Tân Trào. Ở chiến khu Việt Bắc, người ta thấy một cán bộ khoảng trên dưới 40 tuổi, người tầm thước, nói giọng Nghệ trọ trẹ, thường có mặt ở các cuộc họp quan trọng của Chính phủ kháng chiến để làm thư ký tốc ký cho Trung ương và Hồ Chủ tịch.