HOÀNG LONG
Đây là một tiểu thuyết cực tiểu, gồm năm thiên. Và không có tên. Cũng như mọi thứ trên đời này đều như vậy. Tự thân không có tên. Chúng ta đặt tên cho chúng và ban cho vạn vật một ý nghĩa nào đó với chúng ta. Tất cả là do tâm tạo tác. Cái vọng tưởng đó của ta chẳng liên quan gì đến thế giới. Vì thế giới vận hành trong sự không tên.
Minh họa: Nhím
Thiên một: TRẦM TÍCH
Người ta khó lòng lừa gạt người khác nhưng rất dễ lừa gạt chính bản thân mình. Biết bao nhiêu bi kịch đều từ đó sinh ra, thảm cảnh kéo dài vô tận. Anh cứ chạy trốn vết thương, tìm kiếm thuốc chữa. Cố gắng lãng quên trong chừng có thể và khi rát bỏng quá, anh vội quấn một lớp băng, bôi một ít thuốc đỏ là xong chuyện. Anh mặc một chiếc áo thời trang vào, yên chí là vết đau khỏi hẳn. Lâu dần anh tin vào chính điều huyễn hoặc này, nói cười ra vẻ rất hạnh phúc. Bảo rằng đời chỉ là ảo tưởng mà thôi. Mà cũng có phần đúng. Tất cả những điều chúng ta làm hay tranh đấu cuối cùng là vô nghĩa, có cũng được không có cũng chẳng sao. Chỉ là ta ban cho nó một ý nghĩa với riêng mình, xem như đó là dấu vết sự hiện hữu của ta mà thôi. Thêm hay bớt một bài thơ, một mạng người thì thế gian này có ng- hĩa gì chứ? Nó cũng vẫn tồn tại như đã tồn tại thế thôi. Nhưng với kẻ làm văn nghệ viết thêm được một bài thơ hay, hắn thấy đời mình có ý nghĩa hẳn, phong phú hơn, đáng sống hơn. Kỳ thực đó chỉ là huyễn ảnh. Trong khi tìm kiếm điều này điều khác mệnh danh là khát vọng với sáng tạo thì khổ đau luôn còn đó như những trầm tích. Những vết thương mưng mủ lên dòi, tha hồ đục phá thân tâm. Một thi hài đi ca tụng cuộc sống. Thật là quá sức kỳ khôi. Anh cũng thấy mình quái đản nhưng không đủ sức để dừng lại trong vòng quay như thác lũ. Ai cũng quay cuồng mà? Đúng vậy? Ai cũng khổ cả. Có lẽ chỉ nỗi khổ đau là thực có ở đời này. Cái ta gọi là sung sướng hạnh phúc chỉ là một mặt khác của khổ đau thôi. Nhưng cứ cuồng quay và đau đớn bỏng rát đến lúc nào đó người ta quá sức mệt mỏi, tỉnh ngộ rằng mình cần phải dừng lại để khử trùng và băng bó vết thương. Thật may là anh đã làm được điều đó. Cuối cùng vẻ nói cười giả tạo của anh đã biến mất trong một khoảnh khắc khi anh nổi cơn giận dữ. Cái tâm uế nhiễm bộc phát ra ngoài như một vết thương bục ra khỏi lớp băng để thấy mình bắt đầu bị hoại tử. Anh cũng như mọi người đã cùng diễn kịch với nhau qua màn sân khấu cuộc đời. Đến khi về nhà, đi ngủ mà vẫn còn diễn kịch với chính mình sao? Trò đùa điên rồ tự mình diễn cho mình xem, tự mình làm khán giả này sẽ kéo dài trong bao lâu nữa? Anh không muốn đi qua cuộc đời này và chấm dứt sinh mệnh mình với bộ dạng của một xác chết biết đi. Anh rúc vào một chỗ kín ẩn cư, với tay cầm con dao tuệ giác, hơ nóng sát trùng bằng định lực và cắm phập vào vết thương khổ não. Anh nạo vét băng bó lại toàn vẹn rồi ngất đi.
Thiên hai: MÀU XANH BÁT NGÁT
Anh đứng lại nơi dòng sông. Nước trong soi những áng mây mùa xuân trôi qua. Ven bờ, hoa cải nở vàng rực rỡ. Đôi khi một cánh cò vút qua trời rộng. Phong cảnh này là thực có hay tâm anh tạo ra? Nếu quang cảnh vùng đất tâm anh được như vậy thì đây là Thiên đường, là Tịnh độ. Và đây sẽ là chốn tựa nương tuyệt hảo cho bản thân mình. Nhưng đây là ảo ảnh do anh khao khát tạo ra sao? Như vậy cõi tâm anh rách nát, đất tâm anh sa mạc, thân xác anh mệt mỏi kiệt tàn. Cũng do tâm tạo tác mà thôi. Đây cũng không phải là thực tại. “Trong khi viết, ta đừng để mình bị ngăn cách với thực tại, dầu chỉ là một khoảng cách mỏng như một sợi tóc. Ta chỉ có thể hiểu được cây thông từ ngay chính cây thông, ta chỉ có thể học cây trúc từ chính ngay cây trúc… và cái thấy ấy tự nó sẽ sáng tạo nên bài thơ của mình.” (Basho). Để tiếp xúc với thực tại bản thân anh phải là thực tại. Không phải là sự trùng khít của một thực tại nhỏ lên trên một thực tại bao quát hoằng viễn mà là một cú nhảy thẳng vào hư không để mở ra một bầu trời xanh bát ngát. Anh có làm được như thế chăng? Đầu tiên là tu tạo lại vườn tâm đổ nát. Việc này mang lại cho anh nhiều nỗi đớn đau kinh khủng. Bởi những vết thương sâu đục có sức tàn phá nhiều hơn anh nghĩ. Nếu không làm bác sĩ phẫu thuật một lần dùng lưỡi dao bén trí tuệ rạch sâu xuống vết thương đến tận đáy, nạo sạch những phần thịt rữa nát hư hoại, rồi đắp muối vào thì vĩnh viễn không thể chữa lành. Không có thuốc tê hay thuốc mê nào cả. Thao tác tiến hành trong sự tỉnh thức tuyệt đối. Anh đau đớn ngất đi rồi tỉnh dậy. Và khi mở mắt, anh lại được nhìn thấy trời xanh. Tuyệt diệu vô cùng khi thấy mình đứng bên bờ sông, nước trong soi mây mùa xuân và hoa cải vàng rực rỡ. Vườn tâm anh đã mát dịu và có những nụ xanh đầu tiên. Bây giờ phải tinh cần tưới tẩm và duy trì chăm bón cho kỹ lưỡng, canh chừng đừng để cỏ dại của tham hận phát sinh. Anh thở ra khoan khoái. Vậy là tự mình đã chữa bệnh được cho mình. Tuy chưa lành hẳn nhưng đã trị tận gốc vết thương. Anh đã nhảy thẳng vào thực tại. Một cuộc đời mới được tái sinh.
Thiên ba: ÔNG GIÀ LẨM CẨM
Ông cụ gọi điện đến bảo cà phê cà pháo đi lâu ngày quá rồi. Anh cũng đang rảnh nên phóng xe lên chơi. Quán cà phê nằm trong con hẻm nhỏ, kế bên nhà ông cụ, có tàn cây xanh gió thổi rì rào. Những tia nắng xuyên qua tán cây lấp lánh, tiếng chim hót trong chiếc lồng treo nơi mái hiên càng làm cho quán thêm cảm giác yên bình. Thật là dễ chịu được tách xa ra khỏi náo động cuồng nhiệt của thành phố. Nhâm nhi cà phê, chơi một ván cờ tướng, nói chuyện đời rồi lại về nhà ông uống trà. Về khoản này thì ông cụ đúng là một tay sành sỏi. Những thứ như trà Thiết Quan Âm cụ chẳng còn thiết uống. Bảo tầm thường lắm mà đồ Tàu bây giờ hóa chất cũng kinh nên chuyển qua uống Tứ Quý Xuân Trà trên Đống Đỉnh Sơn hay Kim Huyên Trà trên A Lý Sơn của Đài Loan không thì quay về uống trà mạn Thái Nguyên đậm đà ngọt hậu. Bộ đồ trà của ông cụ cũng chính hiệu Nghi Hưng. Anh bảo với ông cụ hồi anh qua Trung Quốc thấy cô gái quảng cáo ấm Nghi Hưng đã cởi giày bước cả người lên cái ấm nhỏ bé vậy mà cái ấm không hề gì. Lúc đó anh cũng mua một cái rồi sau này qua Nhật mua một cái ấm Tokoname tử sa nổi tiếng về chất đất sét giống Nghi Hưng. Gì chứ về trà thì hai ông cháu hợp nhau. Chỉ khác một điểm là ông cụ không ưa trà Nhật còn anh thì rất mê. Nhiều lần giải thích với cụ là trà Nhật cụ uống là trà bột (mạt trà) dùng trong trà đạo, vị nhạt rất khác với loại trà pha (tiễn trà), vị thanh mát dịu dàng. Đặc biệt loại Ngọc Lộ hái vào mùa xuân là thượng đẳng. Vậy mà ông cụ không nghe. Thôi cũng đành chịu vậy. Xong xuôi hai ông cháu chuyển qua nói về Phật giáo. Anh cứ để cho ông cụ thao thao bất tuyệt trong khi nhâm nhi chén trà. Nghe mệt quá anh mới trêu ông cụ. “Cháu thấy ông chưa hiểu gì về Thiền cả”. Thế là ông cụ gắt ầm lên. “Sao sao, thằng ranh kia, tao bỏ cả đời học Thiền đấy”. Anh mới nói “Thì bởi vậy nên cụ nói cái gì cũng sặc mùi Thiền. Thế là chưa được. Chừng nào phải tẩy sạch cái mùi đó đi. Nói về Thiền mà người nghe không biết đang nói về Thiền mới chính là Thiền vậy”. Ông cụ ngẫm nghĩ một lúc bảo rằng anh có lý, tao cần phải tu luyện tiếp mới được. “Vậy thì cụ tiếp tu luyện đi. Cháu không làm phiền nữa”. Rồi anh phóng xe chạy ra mấy tiệm sách quen, mua vài quyển rồi lại vòng về nhà. Thế là một ngày trôi qua nhẹ nhàng như khói mây.
Thiên bốn: CÔ GÁI KIÊU KỲ
Thật ra thì nàng cũng có tên. Có thể gọi này là A, B, C hay L, M, N gì cũng được. Nhưng để cho dễ phân biệt, anh gọi nàng là cô gái kiêu kỳ. Nàng hay đòi hỏi mà anh lại dễ xiêu lòng. Nhưng tham vọng của đàn bà thật ghê gớm. Cuối cùng thì nàng vẫn giận anh. Anh biết điều đó sớm muộn gì cũng xảy ra nên thản nhiên chấp nhận. Hai người không liên lạc trong một thời gian dài. Anh nghĩ đến là ngẫu nhiên đi là tất nhiên thôi nên cũng không để tâm. Ai cũng phải sống cuộc đời của mình. Điều cần thiết là biết chấp nhận những gì không thể thay đổi được để sống cho tươi vui. Anh vẫn đọc sách, uống cà phê, đánh cờ tướng với ông già lẩm cẩm, dịch sách, đi dạy mưu sinh. Không cần dư dả nhiều, đủ sống là xong. Thiên hạ xem anh như một tên hâm hấp, phụ nữ xem anh là gã khờ, đồng nghiệp thì coi anh là kẻ lập dị hết thuốc chữa. Anh an vui trong cõi của mình, thấy mình không làm phiền đến ai là được. Trải qua gần mười năm phong ba trong thế giới tư bản, anh cảm nghiệm ra được nhiều điều. Cái mình phấn đấu ước ao đến khi có được trong tay lại thấy quá đỗi bình thường, lại ngậm ngùi rằng nó có đáng giá đến như thế không? Bao nhiêu thời gian tâm lực trút vào một trận chiến mà thành quả đạt được là một miếng bánh nhỏ nhoi. Thế mà lại không nguôi tiếp tục tìm kiếm những ước vọng mới, những trận chiến mới. Cứ như vậy đến bao giờ. Anh còn học thêm được một điều nữa là cho dù có đi đến đâu, sống ở nơi nào đi nữa thì mình vẫn chỉ là mình thôi. Vấn đề không phải nằm ở ngoại cảnh mà là chính bản thân mình. Có thể gọi là nghiệp của cá nhân vậy. Anh nhớ đến niềm hạnh phúc hồi bé khi đủ tiền mua một cây kem đá mơ ước. Lúc đó anh thấy mình hạnh phúc nhất trần gian. Còn bây giờ đi lang thang qua nhiều miền đất xa lạ, ăn cơm thiên hạ đủ kiểu Ý, Nhật, Hoa, Hàn đến mòn cả răng, đã ăn biết bao nhiêu que kem Parm thượng hạng, vậy mà tâm tư lúc nào cũng như ngồi trên đống lửa. Tất cả chỉ tại vì tâm thức của mình thôi, cứ muốn nữa, không hài lòng rồi ham muốn mãi. Can đảm dừng lại, tránh khỏi cái guồng quay đó cho đến giờ là quyết định sáng suốt nhất của đời anh. Chiều nay được nghỉ, anh bày một bữa tiệc nhỏ nơi góc vườn. Ngôi nhà anh ở cuối hẻm nhưng có mảnh vườn nhỏ và khoảng không đủ nhìn thấy một khoảng trời. Hôm nay trăng tròn. Một chai rượu vang Berardenga Chianti Classico với vài món nhắm đơn giản, anh thưởng thức một bữa tiệc bình yên. Ngay khi ấy, nàng gọi điện đến bảo anh đưa em đi chơi. Anh từ chối. Nàng hỏi “anh còn giận em à?”. Anh nói anh chẳng bao giờ giận em cả. Nàng phụng phịu nói “vậy bữa khác nghe” rồi tắt máy. Nâng chiếc ly thủy tinh sóng sánh rượu hồng, anh nhấp một ngụm vô cùng khoan khoái và nói thầm. “Thật sự anh chẳng giận em gì cả. Chỉ là anh không còn thời gian yêu em nữa thôi. Anh bận yêu đời rồi”.
Thiên năm: MẶT HỒ TĨNH LẶNG HAY THANH ÂM CỦA CÂY ĐÀN KHÔNG DÂY
Không còn cỏ mọc bên này và đá phía bên kia. Tất cả hiển bày trong thực tại. Anh ngồi xuống như một tảng đá, đứng dậy như một thân cây, bước đi như mây bay gió cuốn, hơi thở làm gió mát ngàn phương. Đó là cảm giác của anh khi pha một ấm trà rồi ngắm vầng trăng tròn trịa lặng lẽ trên bầu trời. Bao nhiêu người còn phải tất bật mưu sinh trong lòng thành phố mấy ai có rảnh rang mà ngước nhìn lên trời cao để xem trăng mọc hay lặn. Vậy mà mình làm được. Đúng là tuyệt thú trần ai. Công danh lừng lẫy, áo gấm phong hầu, mỹ nhân tuyệt thế… tất cả rồi cũng chỉ là mộng huyễn như khói như mây. Cuối cùng chỉ bản thân mình còn lại đối diện với mình, nương tựa vào hải đảo tự thân. Chính lúc ấy mà thanh thản bình yên, không sân hận, buồn rầu thì cũng đã là người biết sống. Nhưng nếu không trải qua mấy trận phong ba, đứng trên đầu ngọn sóng thì không thấy được sự quý giá của những khoảnh khắc bình yên. Anh mừng vì mình đã có thời gian quay cuồng trong bão lũ để thấu triệt chân lý hiện sinh. Mừng vì mình đã tận cùng đau khổ để bây giờ hạnh phúc bình yên. Sự chữa trị và chuyển hóa thân tâm thật là tuyệt diệu. Vắng mặt khổ đau nghĩa là hạnh phúc. Cõi Ta Bà và Tịnh Độ không hai. Trong một khoảnh khắc này cũng là vĩnh cửu. Không cần quan tâm nghĩ ngợi gì cả, tận hưởng chén trà thơm ngát tỏa hương. Suối nguồn của nhân sinh của hiện hữu của nhiệm màu. Đây mới chính là thực tại. Là chính điều anh sống trải. Là vĩnh cửu hiện diện trong từng sát na. Tựu chung, đó chính là hiện hữu. Khi thấu cảm được điều đó, bản tâm anh ngân lên một giai điệu của cung đàn không dây và dấu tích mọi nỗi muộn phiền biến tan đi như hoa tuyết rơi vào biển cả.
Nagoya, tháng 4/2013
H.L
(SH294/08-13)
Tải mã QRCode
MINH CHUYÊN (Tiếp Sông Hương số 12-2008)
MINH CHUYÊN (Tiếp theo và hết)
LÊ HUỲNH LÂMCó thể gọi xứ Huế là thành phố của những tiếng chuông. Sự khởi đầu của một ngày, một ngày mai hun hút trong tương lai cũng như một ngày tận trong nghìn trùng quá khứ. Một ngày mà âm thanh từ đại hồng chung phát ra; vang, ngân, vọng và im bặt. Người ta gọi âm thanh đó là tiếng chuông. Vậy thì, im bặt cũng là một phần của tiếng chuông.
MINH CHUYÊNCảnh làng mới Trà Tân cuối chiều mùa đông. Con suối chảy qua nước trong veo, róc rách. Phía tây con suối cách làng chừng nửa tầm mắt là rừng Sắc Rông, đủ các loại cây tầng tầng, lớp lớp. Cánh rừng đang chìm trong sương chiều. Rừng hoang vắng, huyền bí. Người ta kể sau ngày chiến tranh chấm dứt, rừng Sắc Rông càng trở nên bí ẩn. Người chỉ có vào mà không có trở ra. Vậy mà mấy tháng gần đây lại thường xuyên xuất hiện một người đàn bà ở đó.
PHẠM NGUYÊN TƯỜNGNgày xưa nhà mẹ nghèo hung, cơm không có ăn, khố không có mặc, suốt ngày lang thang trong rừng đào củ mài củ sắn kiếm cái cho vào bụng. Có ngày không tìm được chi, bụng đói lắc lư.
NGUYỄN KHẮC PHÊTrước ngày Huế khởi nghĩa 23/8/1945, có một sự kiện khiến cả thành phố náo nức vui mừng: đó là việc lá cờ đỏ sao vàng được kéo lên đỉnh cột cờ Huế ngày 21/8 thay cho cờ quẻ ly. Người chiến sĩ được đồng chí Trần Hữu Dực trực tiếp giao nhiệm vụ quan trọng ấy là chàng thanh niên 25 tuổi Đặng Văn Việt (ĐVV).
NGUYỄN QUANG HÀTạp chí văn nghệ của 6 tỉnh Bắc miền Trung gồm: Xứ Thanh, Sông Lam, Hồng Lĩnh, Nhật Lệ, Cửa Việt, Sông Hương có một cam kết thú vị, luôn luôn trong nỗi chờ mong là mỗi năm anh chị em trong tạp chí thay nhau đăng cai luân phiên, mỗi năm gặp nhau một lần, ở thời điểm thích hợp nhất do tạp chí đăng cai tự chọn.
NGUYỄN THỊ ANH ĐÀOTháng bảy, nồng nàn hương lúa mới trên những ruộng lúc mới vừa mùa gặt tháng 5, mùi rơm rạ kéo tôi ra khỏi thế giới của những đường phố xênh xang, đầy bụi và chật người. Tôi leo lên một tầng gác và nhìn về hướng quê tôi, hình dung đủ thứ nhưng nhớ vẫn là khói lam chiều với dáng mẹ tôi gầy cong như đòn gánh.
VĨNH NGUYÊNPhải nói tôi có ý định dông một chuyến xe máy ra Bắc đã lâu mà chưa có dịp. Nay có điều kiện để đi song tôi vẫn băn khoăn, không hiểu chuyến đi này mình sẽ gặp những ai đây? Hay là phải thở dài dọc đường xa với những cảnh đời khốn khó? Thôi thì tôi chỉ biết đi và đi.
VÕ MẠNH LẬP Ghi chépNhân vật Mười Hương nhiều người đã biết đến qua sách báo và đặc biệt là vùng đất Nam Bộ - Sài Gòn.
DƯƠNG THÀNH VŨTrong đêm mỏng yên tĩnh dịu dàng, một mình một cõi với ly rượu trắng, cùng mùi hương của hoa rộn ràng, huy hoàng phát tiết; tôi miên man nhớ tới cõi người đến- cõi người đi nơi xa chốn gần, thời gian tuyến tính lẫn thời gian phi tuyến tính.
NHẬT HOA KHANH Mười năm những mấy ngàn ngày... (Tố Hữu: Mười năm )
TRUNG SƠNĐoàn văn nghệ sĩ Thừa Thiên - Huế (TTH) lên đường “đi thực tế” một số tỉnh phía Bắc vào lúc lễ giỗ Tổ ở đền Hùng (10 tháng 3 âm lịch) vừa kết thúc. Tiền có hạn, thời gian có hạn chưa biết sẽ tới được những đâu, nhưng ai cũng “nhất trí” là phải lên Phú Thọ thăm Đền Hùng, dù lễ hội đã qua.
ALẾCHXĂNG GRINTại Luân Đôn, mùa xuân năm 1921, có hai ngài trung niên ăn mặc sang trọng dừng chân ở góc đường, nơi phố Pakađilli giao nhau với một ngõ nhỏ. Họ vừa ở một tiệm ăn đắt tiền đi ra. Ở đó, họ đã ăn tối, uống rượu vang và cùng đám nghệ sỹ của nhà hát Đriuđilenxky đùa cợt.
PHONG LÊQuê tôi là một xã nghèo ven chân núi Mồng Gà, huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh. Từ Hà Nội, việc về thăm quê, đối với tôi không mấy khó khăn. Hồi là sinh viên thì mỗi năm hai lần, lần nghỉ hè lần nghỉ Tết. Khi đã là cán bộ, có gia đình thì mỗi năm một lần, cả nhà dắt díu về, với hai hành trình là tàu hoả từ Hà Nội vào Vinh, rồi là xe đạp từ Vinh về nhà.
NGUYỄN TRỌNG HUẤNBạn tôi là nhà thơ. Thơ ông hay, nổi tiếng, nhiều người ái mộ. Thời buổi “nhuận bút không đùa với khách thơ”, kinh tế khó khăn, gia đình ông vẻ như cũng “rất ư hoàn cảnh”.
ĐẶNG NHẬT MINHGia đình tôi ở Huế có một cái lệ: cứ vào dịp trước Tết tất cả nhà cùng nhau lên núi Ngự Bình quét dọn, làm sạch cỏ trên những nấm mộ của nhũng người thân đã khuất. Sau đó trở về nhà thờ của dòng họ, cùng nhau ăn một bữa cơm chay. Cái lệ đó người Huế gọi là Chạp. Ngày Chạp hàng năm không cố định, có thể xê dịch nhưng nhất thiết phải trước Tết và con cháu trong gia đình dù đi đâu ở đâu cũng phải về để Chạp mộ.
DƯƠNG PHƯỚC THUMùa xuân năm Đinh Mùi, 1307, tức là chỉ sau có mấy tháng kể từ ngày Công chúa Huyền Trân xuất giá qua xứ Chàm làm dâu, thì những cư dân Đại Việt đầu tiên gồm cả quan binh gia quyến của họ, đã rời khỏi vùng châu thổ sông Hồng, sông Mã theo chân Hành khiển Đoàn Nhữ Hài, vượt qua ngàn dặm rừng rậm, núi cao, biển rộng đến đây cắm cây nêu trấn yểm, xác lập chủ quyền quốc gia.
NGUYỄN XUÂN HOÀNGNhững ngọn gió heo may cuối cùng đã tắt. Nắng buổi sáng hanh vàng ngoài bến sông. Hàng cây trên phố Huế đã chừng như thay lá, lung linh một màu lá tơ non, mỏng như hơi thở của bầy con gái trường Hai Bà Trưng đang guồng xe đạp đến trường. Mùa xuân đã về bên kia sông. Đã về những cánh én nâu đen có đôi mắt lay láy màu than đá. Đã về những đóa hoa hoàng mai, vàng rưng rức như một lời chào ngày tao ngộ...
TÔ VĨNH HÀCon chó Giắc nhà tôi đẹp nhưng mà hư quá. Tôi hét nó nằm thì nó cứ giương mắt ra, rồi ngồi. Tôi không cho nó chạy vào nhà vì sợ nó làm bẩn cái nền nhà vừa lau thì nó đi vòng cửa sau, khi tôi ra cửa trước. Bực nhất là ngày lễ - nói chung là những ngày có việc, bất cứ ai vào nó cũng sủa rộn ràng. Tôi thì không muốn xóm giềng để ý. Vậy mà chó có biết cho tôi đâu...