TRẦN NHẬT
Cúi xuống thật gần, Phương ơi, em hãy cúi xuống thật gần, em sẽ ngửi thấy được mùi của đất và nước, em đừng khóc, ở đây anh có đồng đội, anh không cô đơn…”.
Minh họa: Phan Thanh Bình
Người lính trẻ vẫn nằm im trong lòng đất, anh vẫn không thôi nghĩ về vợ con mình và về mọi thứ. Chưa bao giờ anh thấy đất gần gũi đến thế, đất ôm anh vào lòng, đất ru anh ngủ. “Nếu anh không về được, em nhớ nói với con trai chúng mình rằng ba đang hành quân cùng đồng đội ở một nơi rất xa, em nhé.” Người lính trẻ cố cử động những ngón tay nhưng không được, mọi thứ trở nên bất động như đóng băng giữa vô vàn đất đá.
“Ba đang hành quân. Mẹ xem này, ba đang hành quân. Khi nào thì ba về hả mẹ?” Đứa bé vừa vẽ trên tờ giấy nhỏ những hình thù dễ thương vừa đem khoe mẹ. Phương nhìn những hình thù trẻ thơ ấy rồi mỉm cười, cô để trang giáo án trên bàn và cúi xuống hôn lên trán con. “Ba sẽ về sớm thôi con.” Phương nói với con và lại nhìn ra ngoài cửa sổ. Mưa trắng trời. Mưa lớn hơn cả những cơn mưa ngày đầu Phương và anh gặp nhau. Khi những cơn gió lớn lao tới đập vào ngôi nhà nhỏ thì Phương đóng cửa sổ lại. Những thông tin về tình hình lụt bão vẫn được cập nhật thường xuyên qua chiếc điện thoại trên bàn làm việc của Phương. Nước sẽ còn dâng lên cao nữa, Phương nhìn quanh gian nhà để xác định những vật dụng nào sẽ kê lên trước, những gì sẽ kê lên sau. Mưa thế này không biết anh và đồng đội có sao không.
“Đồng đội ơi… các anh ở đâu…”. Những người lính vừa đào xới lớp đất đá dưới chân mình vừa gào to. “Đồng đội ơi, chúng tôi đã tới, các anh lên tiếng đi, nào, một tiếng nói nhỏ thôi chúng tôi cũng nghe thấy các anh, các anh đang nằm chỗ nào… Đồng đội ơi…”. Dưới mưa rừng, những người lính trẻ gào thét rồi đào xới lớp đất đá nặng nề vô tri và hoang lạnh. Tất cả họ đang nghĩ tới một phép màu. Một đống đất đá khổng lồ vùi xuống sau cơn thác lũ đã nhấn chìm và vùi lấp tất cả. Mưa mỗi lúc mỗi lớn, đáp lại những tiếng gọi thấu đến trời xanh là sự im lặng đáng sợ của núi rừng. Núi rừng im lặng như sự im lặng của nguyên sơ.
Anh nhớ lần đầu tiên gặp Phương, khi ấy Phương đang là sinh viên. Ngày ấy, Phương như con chim xanh bị ướt nép vào lòng anh trong dịp anh và đồng đội đi tình nguyện sau một trận lũ lớn. Bao năm rồi Phương vẫn thế, Phương như là suối nguồn của đời anh. Anh yêu lắm nụ cười của Phương và cả nụ cười thần tiên của đứa con trai nhỏ. “Núi rừng đẹp lắm Phương ạ, hoa nở trắng trời…”. Người lính trẻ bỗng thấy xung quanh anh là hoa rừng trắng xóa một màu, đất đá biến thành mây, anh thấy mình nhẹ bẫng, anh đang bay lên, bay lên trên lớp đất đá vô tri nặng trĩu.
“Cúi xuống thật gần, Phương ạ, em cúi xuống thật gần mới nghe được anh nói…”. Dưới đống đất đá người lính trẻ lại thì thầm. “Nếu anh không về em hãy nói với mẹ là anh đang hành quân ở một nơi rất xa, nơi ấy anh và đồng đội đang hát vang rừng, em hãy nói với mẹ rằng đừng lo gì cả, anh là người lính, mà việc của người lính là ra đi, đi tới những vùng đất cằn cỗi, đi tới những vùng trời bão giông, bọn anh đi, đi mãi, đi không bao giờ nghỉ ngơi em ạ…”. Bây giờ người lính trẻ cảm thấy khó thở hơn, anh nghe lòng ngực nặng nề, anh cố cử động các ngón tay nhưng anh cảm thấy đang có hàng tấn đất đá đè lên những ngón tay của mình. “Chỉ một xíu nữa thôi là bọn anh đã đến được với đồng bào rồi em ạ, qua đêm nay, nếu không gặp tai nạn này thì sáng sớm mai bọn anh đã đem được bao nhiêu nước, bao nhiêu gạo, chăn và áo ấm nữa đến cho đồng bào vùng lũ… Nhưng… tiếc quá Phương ơi…”.
“Đồng đội ơi… các anh ở đâu?” Những người lính vẫn kêu gào và đào xới. Đất đá có biết gì đâu, đất đá vô tri lắm. Chỉ có lòng người là quặn đau, là tan nát, rối bời. “Chúng tôi đã tới với các anh đây, đồng đội ơi… lên tiếng đi chứ, các đồng chí ơi, một tiếng nhỏ thôi cũng được, lên tiếng đi, nào…”. Những người lính đào xới và thấm mệt, nhưng họ biết họ không vô vọng, họ ngửa mặt lên nhìn bầu trời trắng xóa, họ hy vọng họ sẽ tìm thấy đồng đội của mình dưới đống đất khổng lồ kia. Phía trên họ là một vùng hoang vu, trống trải và đỏ ngầu sau khi một phần ngọn núi sạt lở bởi thác lũ tối qua.
Phương kê giường lên cao hơn, cô đắp thêm chăn cho con trai, cô nhìn vào khuôn mặt nhỏ bé của con trai và thầm cầu nguyện cho anh và đồng đội hoàn thành nhiệm vụ. Phương nghĩ tới ngày anh trở về, thành phố sẽ đầy nắng ấm, hoa trên các công viên sẽ nở sau một đợt mưa lũ mịt mùng. Phương sẽ đón anh trở về với hoa lay ơn trên bàn, với những món ăn tuyệt vời nhất mà Phương có thể lo cho anh. Ngày anh về, Phương sẽ mở tung hết tất cả cánh cửa để ánh nắng rọi vào trong nhà, Phương và con sẽ hát cho anh nghe, và Phương biết anh lại hôn lên trán Phương và chơi tàu bay với con trai nhỏ. Rồi cả nhà sẽ ra phố, phố đầy hoa và dòng người cười nói sau những tháng ngày mỏi mệt.
“Cúi xuống nữa, thật gần nữa Phương ơi, nếu không đủ gần em sẽ không nghe được lời đất nói, bây giờ anh gần như không thở được nữa. Có cái gì đó đè lên ngực anh, anh nhớ em và con, con trai chúng mình giờ này chắc đã ngủ. Em đừng oán trách đất, đất đá vô tri em à.” Người lính trẻ cảm thấy toàn thân mình biến thành một tảng đá khổng lồ, tảng đá cố chui lên khỏi lớp bùn đất nhưng càng cố tảng đá ấy càng lún sâu xuống. “Anh không thở được Phương ơi, anh tiếc quá, chỉ một xíu nữa thôi bọn anh đã đến được với đồng bào, đồng bào mình khổ quá em ạ, lam lũ, cơ hàn. Nếu anh không về em đừng oán trách đất, đất không có lỗi, Phương ơi. ”
Thằng bé trở mình, Phương thức dậy, bây giờ đã là hai giờ khuya. Phương không biết giờ này anh ở đâu. “Ba, đừng để vụt mất con chim ấy.” Con trai đang ngủ mê, trong giấc mơ nó gọi tên ba. Phương kéo chăn đắp lại cho con trai rồi cúi xuống hôn lên trán nó. “Ngủ ngon, con yêu, ba sẽ không để những cánh chim ấy vụt mất đâu.” Phương nói. Có lẽ giờ này anh và đồng đội vẫn đang hành quân, có lẽ giờ này đồng đội và anh đang ở trong lòng đồng bào, Phương nghĩ vậy rồi mỉm cười trong đêm. Phương ước gì bây giờ trời đã sáng, và nắng đã lên. Cô bước ra khỏi giường và nhìn ra ngoài trời qua khung kính cửa sổ, ngoài trời gió vẫn rít lên từng cơn, mưa như hàng tỉ sợi nước vô tâm trút xuống ngôi nhà nhỏ bé. Dưới chân Phương nước đang dâng lên một cách vô tình, dâng lên mà không để ý tới sự lo lắng mơ hồ của cô.
“Đồng đội ơi…”. Những người lính vẫn không ngớt kêu đồng đội mình. Bây giờ hàng trăm tấn đất đá đã biến thành bùn nhão dưới chân họ. Vẫn không tìm thấy một tia hy vọng nào. Giờ này, tất cả họ và tất cả người dân cả nước đang chờ đợi một phép màu sẽ tới, tấn bi kịch này sẽ qua mau và sự đoàn viên trong nước mắt, nụ cười sẽ tới. Mưa mỗi lúc mỗi lớn, những chiếc đèn pha từ những cỗ máy phát điện lớn sáng rực trong đêm mặc cho mưa gió bão bùng. Những chú chó nghiệp vụ và những máy móc hiện đại vẫn đang miệt mài tìm kiếm hy vọng trong đêm. Nhưng đêm thâu và gió rít vẫn vô tình. Rồi đằng xa ấy có ai đó gào lên khi chú chó nghiệp vụ rục mõm xuống dưới lớp bùn đất. Những đôi dép cao su và những chiếc mũ cối được một người lính moi lên khỏi lớp bùn nhão đục ngầu. Mọi người chạy về phía người lính ấy rồi bất lực lặng im như không tin nổi vào mắt mình. Mưa vẫn trút xuống, mưa vô tri, vô tình.
“Nếu anh nằm lại với đất, Phương hãy nhớ anh và đồng đội đã sống một cuộc đời tươi đẹp, một cuộc đời đáng sống Phương ạ. Anh chỉ tiếc con mình còn quá nhỏ, quá nhỏ để anh nói với nó về sứ mệnh của một người lính. Sứ mệnh của người lính là ra đi em ạ, ra đi để những bông hoa hé nở, ra đi để khổ đau lụi tàn và hy vọng được nhen lên…”. Bây giờ người lính trẻ đang thấy mình lún dần sâu vào lòng đất đá. Anh không cảm thấy khó thở nữa mà ngược lại, anh thấy người mình nhẹ bẫng như đang bay lên. Anh không oán trách đất đá. Anh mỉm cười và thấy mình bay lên. Trên tầng cao ấy anh nhìn thấy những dòng nước lũ đang bao quanh núi đồi, trên tầng cao ấy anh nhìn thấy đồng bào mình đang chống chọi với từng con nước dâng. Trên tầng cao ấy anh nhìn thấy đồng đội anh đang tìm kiếm hy vọng trong đống đất đá khổng lồ. Trên tầng cao ấy, anh nhìn thấy những đôi mắt của đồng bào đang hướng về những dấu chân của các anh để cầu mong một phép màu sẽ tới. Anh bay lên, anh bay lên mãi và anh mỉm cười.
“Cúi xuống gần anh nữa đi Phương ơi, anh sợ mình không về được nữa, anh thấy mình đang bay lên, lúc này đây anh thấy rõ khuôn mặt của em và con. Nếu anh không về em nói với mẹ và con là anh đang hành quân ở một nơi rất xa, rất xa em nhé, nơi ấy anh và đồng bào đang chống chọi với thiên tai. Sứ mệnh của người lính là ra đi mà em.” Lúc này người lính trẻ cảm nhận được hơi ấm của đất. Anh không cảm thấy đất lạnh nữa mà ngược lại, anh cảm thấy đất ấm áp như đang ôm anh vào lòng. Đất như đang thì thầm với anh về những câu chuyện giấu kín dưới đáy sâu, đất đá thì thầm với anh về những tủi hờn của chúng, về những tháng năm đất cằn cỗi bạc màu, về những tháng năm đất bị xé nát ra. Đất đá nói với anh rằng chúng không vô tri, đất đá có linh hồn và đất đá cần con người yêu thương chúng như yêu thương những rừng cây, như yêu thương loài thú trong đại ngàn. Người lính trẻ nghe thấy tiếng nói của vạn vật, những tiếng nói bao năm bị đè nén nay chúng thì thầm vào tai anh. Chúng nói rằng thiên nhiên có linh hồn, núi sông có linh hồn, cỏ cây có linh hồn. Mọi vật thì thầm với anh về những vết thương bao năm con người sinh ra trên thân thể và trong tâm hồn chúng. Mọi vật nói với anh hãy cúi xuống thật thấp để nghe lời thì thầm của chúng.
Trong mưa, những người lính vẫn không ngớt gọi tên đồng đội. Bây giờ thay vì cuốc xẻng, họ phải dùng chính bàn tay của mình để tìm kiếm trong đất, họ sợ cuốc xẻng sẽ làm đau đồng đội. Đất dưới chân người lính đã biến thành một dòng sông đỏ trôi đi trong mưa. Những người lính vẫn tìm kiếm và gọi nhau mỗi khi tìm thấy đồng đội của mình dưới lớp đất đá.
Nửa đêm, Phương thức giấc vì một giấc mơ vô lối, Phương thấy anh đang hành quân cùng đồng đội nhưng không hiểu sao trong giấc mơ ấy hình ảnh anh cứ mờ dần. Có lẽ vì mưa, trong những giấc mơ mưa vẫn luôn hiện hình. Một nỗi bất an dấy lên trong Phương, Phương co mình lại để đứa bé nằm gọn trong lòng mình. Không biết giờ này anh ở đâu. Những ký ức về anh cứ hiện lên trong đầu óc Phương khi mờ khi rõ. Nước dưới giường không dâng lên nữa, đêm nay mưa đã ngớt hơn so với hôm qua. Phương mừng vui vì mưa đã ngớt. Rồi Phương nghĩ tới những giấc mơ màu nhiệm. Những mầm cây nhỏ bé nảy mầm từ lòng đất. Đứa trẻ cựa mình và nói mớ trong mơ: “Ba ơi, đuổi theo những con chim ấy đi…”. Phương ngửi mùi mồ hôi trên tóc con nhỏ và nói: “Ngủ đi con, ba sẽ về sớm và con đừng lo, ba và con còn có cả một cuộc đời để đi theo những cánh chim ấy…”. Phương thì thầm với con trai về những người đàn ông dũng mãnh. “Con ơi, có những người đàn ông có thể bảo vệ được vợ con mình, có những người đàn ông có thể bảo vệ được cha mẹ, anh em và làng mạc của mình. Và con ạ, có những người đàn ông bảo vệ được cả tổ tiên và đồng bào của mình, con biết không, ba con là một người đàn ông bảo vệ được hết tất thảy mọi thứ trên thế gian…”. Phương nói thế rồi Phương mỉm cười trong đêm, vừa mỉm cười Phương lại nghĩ tới anh. Giờ này chắc anh đã đến được với đồng bào mình ở những nơi xa xôi nào đó.
Người lính trẻ vẫn thấy mình bay lên, anh bay lên trên những cơn mưa để nhìn xuống nỗi thống khổ của đồng bào, của quê hương non nước mình, anh bay lên với đôi cánh rộng lớn, đôi cánh của sự hy sinh, của lòng bao dung và trắc ẩn. Trên tầm cao ấy anh lại nhìn thấy con trai anh mỉm cười, con trai anh luôn mỉm cười trong những giấc ngủ. “Con hãy ở lại, không có ba bên cạnh con hãy thay ba bảo vệ mẹ và mọi người con nhé…”. Nói rồi anh tan biến vào hư không.
Khi Phương thức giấc những tia nắng đầu tiên le lói qua song cửa sổ sau một đợt mưa dài. Nước đã rút ra ngoài sân. Con trai vẫn đang ngủ. Phương tranh thủ dọn nhà, bây giờ ngôi nhà như một bãi chiến trường. Nhưng Phương cảm thấy những tia nắng kia đang như những tia hy vọng chiếu vào căn nhà của mình, nắng chiếu lên con trai khi nó đang ngủ. Nắng chiếu vào và không gian sáng bừng lên. Rồi khi con thức giấc, Phương bế nó lên và nói: “Nào, dậy đón nắng nào con trai…”. Đứa trẻ mỉm cười nhìn Phương, hai mẹ con sung sướng bởi nắng đã lên rồi.
T.N
(TCSH381/11-2020)
Tải mã QRCode
NGUYỄN TRƯỜNGThấy tôi ngồi chăm chú đọc thư, miệng cứ tủm tỉm cười, vợ tôi mới giả giọng, hỏi đùa:- Có việc chi thích thú mà cười một chắc rứa?- Có chuyện vui bất ngờ đấy em ạ! - Tôi vừa trả lời vừa kéo tay vợ ngồi xuống, rồi đọc lại một mạch toàn văn bốn trang thư của ba tôi từ Huế mới gửi vào.
VIỆT HÙNGGa H. một đêm mưa phùn ảm đạm.Khách chờ tàu nằm la liệt dọc các hành lang.Tôi bước vào phòng đợi, trong tâm trạng không vui mà cũng chẳng buồn. Tìm một chỗ ngồi bất kỳ…
TRẦN KIÊM ĐOÀN Ngôi nhà một thời là tổ ấm trên đồi bỗng trở thành rộng gấp đôi, gấp ba và vắng vẻ như một tòa lâu đài cổ từ khi Bé Út dọn ra khỏi nhà để lên miền Bắc học. Đứa con 18 tuổi trên đất Mỹ nầy rời nhà đi học xa thường có nghĩa là đang bước vào đời, ra khỏi vòng tay cha mẹ, thật khó lòng về lại. Những bước tiếp nối là học ra trường, kiếm việc làm, chọn nhiệm sở như cánh buồm đưa tuổi trẻ ra khơi. Bất cứ nơi nào có thể an cư lạc nghiệp trên 50 tiểu bang sẽ là nơi đất lành chim đậu. Tuổi thành niên tiêu biểu của văn hóa Âu Mỹ là tự lập, gắn liền với vai trò chuyên môn và xã hội chứ không phải quanh quẩn với đời sống gia đình.
ĐỖ PHẤNĐêm rất khuya dưới chân núi H. Khó khăn lắm chúng tôi mới tìm được một con đò bằng tôn móp méo xác xơ. Chẳng hiểu ban ngày trông nó thế nào. Có lẽ đây là chiếc đò bị cấm lưu hành? Không thể có mặt ở bến vào ban ngày. Cũng là cấm làm phép. Dòng suối không có chỗ nào đủ sâu để có thể chết đuối.
ĐỖ KIM CUÔNGBây giờ bạn bè ít được gặp anh lang lang trên phố. Thảng hoặc dăm bữa nửa tháng, có khi hơn mới tóm được anh. Ấy là khi anh phải ra khỏi nhà đi nạp bài cho những tờ báo mà anh thường cộng tác, hoặc đi nhận nhuận bút một vài bài thơ lẻ in trên báo.
VŨ NAM TRỰC Truyện ngắn
TRẦM NGUYÊN Ý ANHÔng Nhâm bước chầm chậm theo con đường tráng xi-măng ngoằn ngoèo trong con hẻm nhỏ. Căn nhà ông ở cuối xóm, một trệt, một lầu... mới tinh. Cánh cửa sắt đóng im ỉm. Ông ngồi bệt xuống nền xi-măng vì chân ông đã mỏi. Lẽ ra, khi mấy đứa con ông chưa bàn nhau cất lại căn nhà, ông đã có thể đẩy cánh cửa rào bằng tre và đàng hoàng bước vào nhà mình.
XUÂN CHUẨNĐể rồi tôi kể cho ông nghe về lai lịch cái quạt, để ông ông khỏi coi tôi là Thằng Bờm có cái quạt mo. Cái thời quạt điện quạt đá, máy lạnh mà cứ bo bo cái quạt kè, thỉnh thoảng lại đạp phành phạch như mẹ hàng cá thách lên giữa chợ. Cũng chẳng có gì li kỳ, hay mùi mẫn rơi lệ, chỉ là chuyện đời tầm phào.Hai ông trải chiếu ngồi giữa sân, nhâm nhi chén trà, ông Thân nói với đại tá Tiến về hưu như vậy khi đại tá ngỏ ý thích cái quạt kè của ông.
TRẦN THỊ TRƯỜNG Bim chào đời vào lúc kém 19 phút. Trăng hạ tuần phun nhẹ màu đục của sữa vào bầu trời. Hôm sau trời lất phất mưa. Bố nói với bà ngoại trước khi đi làm: "Nếu không thấy con về thì bà giúp con cùng nhà con nuôi cháu". Câu nói ám ảnh làm trí tưởng tượng của bà ngoại nhiều lần thắt lại. Sau này nhiều khi bà ngoại sợ cả cái bóng của mình.
NAM TRUNG Ông Hãnh cứ đi tới đi lui trong phòng khách nhà ông, vừa đi vừa quạu cọ lẩm bẩm: thằng Hùng nó nói vậy là nó có ý coi thường mình, nó dám trứng khôn hơn vịt. Rồi mày sẽ biết tay ông. Ông sẽ cho mày còn lâu mới được vào Đảng, ông sẽ bác tất cả những đề xuất về mày...
HOÀNG THÁI SƠNKhi tôi lớn lên thì nội tôi đã mất từ lâu nhưng thỉnh thoảng dân làng vẫn nhắc đến người với niềm cảm mến về những chuyện không ít ly kỳ. Ông tôi rất khoẻ, người tròn vo, đen như sừng, tục danh Cu Trắt - phương ngữ vùng quê tôi nghĩa là nhỏ và rắn chắc. Ông ham mê võ thuật, thạo côn quyền, thuở trai thường đóng vai ông địa trong đám múa lân. Đám múa năm nào hễ thiếu ông là coi như nhạt trò, dân làng chẳng ai buồn xem. Người ta đồn ông tôi tài ba lỗi lạc, như có thể đi trên lửa, nhảy qua nóc nhà, còn những thứ chui vào hậu cung đình làng mà không cần dở ngói là xoàng... Kho chuyện về ông ngày càng dày do mồm miệng dân gian thêu dệt thêm, tuy nhiên trong đó nhiều chuyện là có thật.
PHAN XUÂN HẬUTôi trở về quê sau mười năm xa cách. Quê tôi nằm cuối con sông Vẹn, con sông này là nhánh của sông Dinh, bắt nguồn từ dãy núi Gám, chảy qua bến Dền. Nơi đây xưa kia là kinh đô của vua Dền. Vua Dền tụ tập lực lượng chống lại nhà Trần khi đó đang trấn áp nhà Lý. Vua Dền là hậu duệ của Lý Thái Tổ, ông không chịu sự chuyên quyền của vua tôi Trần Thủ Độ bèn lập căn cứ ở miền Tây Yên Thành, tức quê tôi, và Dền là kinh thành của ông, dân quen gọi ông là vua Dền.
NGUYỄN VĂN VINHTết Mậu Thân năm ấy tôi tròn mười sáu tuổi. Soi gương, tôi thấy y xì một con bé tóc lơ xơ hoe nắng, xấu tệ.
CHÂU DIÊNĐơn vị của tôi đi bộ từ một tỉnh miền Trung, lên qua Mường Phăng thì Điện Biên đã giải phóng. Sau một tháng đi bộ nhưng gần như chạy bộ, chúng tôi được phép nghỉ lại hai ngày ở một bản, hồi đó bản này nằm khá sâu trong rừng, nhưng nay thì nó đã ở bên một nhánh đường mới làm dẫn ra phố huyện Tuần Giáo để nối vào con đường số 6 chạy tuốt lên Điện Biên Phủ.
NGUYỄN TRƯỜNGLàng Hạ nằm phía hạ nguồn sông La Ngà. Đất chật. Người đông. Đói nghèo thành nếp. Hồi hai bên đánh nhau, nơi đây là vùng địch hậu. Giải phóng hơn chục năm mà làng Hạ đói nghèo vẫn hoàn nghèo đói. Không ít người bỏ làng đi xa chẳng thèm ngoái cổ nhìn lại. Vậy mà hơn mười năm lại đây, nhờ vực dậy cái nghề tơ tằm truyền thống vốn có từ xưa, làng Hạ đang trở thành một làng nghề giàu có nhất nhì trong vùng. Nhà cũ lỗi thời phá đi xây mới. Đường làng bùn lầy được thay bê-tông. Trường tiểu học tranh tre nứa lá hồi nào nay lên hai tầng. Điện lưới dọc ngang khắp làng đã đẩy năng suất ươm tơ kéo sợi lên cao chưa từng thấy. Chất lượng tơ tằm đạt chuẩn xuất khẩu. Hàng bán chạy hơn cả tôm tươi. Thu nhập người dân ngày một cao.
LÊ TRÂMNgồi với tôi và Kh là một đôi nam nữ còn khá trẻ. Chàng thanh niên, theo lời gã, vừa mới về từ Thái Lan sau khi trúng một hợp đồng béo bở. Gã là đại diện của một công ty xuất nhập khẩu nổi tiếng ở bên ấy.
NGÔ TỰ LẬPCó lẽ tôi đã ngủ rất lâu trước khi bị lay dậy một cách dữ dội. Tôi cố nằm thêm, mặc dù đó không phải là thói quen của một người lính cũ. Thường thì tôi bật dậy ngay. Trước khi tôi vào lính, cha tôi, một đại tá từng trải ba cuộc chiến tranh, chỉ dặn mỗi một câu: “Hãy chồm dậy ngay tiếng còi báo động đầu tiên!”. Lời dạy của ông tôi làm theo trong suốt thời gian tại ngũ và cả khi giải ngũ. Nhưng có những lúc ta không làm chủ được mình. Tôi thấy mình đau ê ẩm và phải một lúc khá lâu sau tôi mới chậm chạp mở mắt.
PHẠM THỊ CÚCTừ những ngày thơ bé còn cắp sách đến trường cho đến khi đã bước vào đời, con cái đã khôn lớn và trưởng thành, trong ký ức của tôi vẫn luôn lưu giữ những hình ảnh sinh động và kỳ diệu của hàng ngàn con cò trắng rợp cả cánh đồng bát ngát, những cánh rừng và vườn cây trĩu nặng vô vàn chim chóc, hình ảnh chim cò thân thiết đậu cả trên vai người, trên đầu người, quẩn dưới chân người... là chuyện của Vùng Đồng tháp Mười qua những trang viết hấp dẫn của các nhà văn Sơn Nam và Đoàn Giỏi.
MAI NINHTrong khoảng giữa buổi chiều thăm viếng cơ sở và dạ tiệc, tôi chạy về nhà thay quần áo. Dưới vòi nước ấm, tôi nao nao xúc động nhớ lại từng khuôn mặt bạn bè. Ngoài một hai người thỉnh thoảng gặp nhau nhờ ở lại nơi này sau khi tốt nghiệp, còn hầu hết thì sau một phần tư thế kỷ đã qua đi, bây giờ mới tái ngộ. Làm sao không ngẩn người trước những tên bạn ngày xưa mặt mũi căng hồng tí tửng nhố nhăng, giờ đây làn da gấp nếp, râu ria đạo mạo, ra dáng sếp lớn sếp nhỏ cả rồi. Và dấu chân chim của thời gian càng rõ rệt hơn nữa, nơi những cô đầm bạn gái của tôi.
MAI NINH- Rối, Rối ơi! Dậy đi nào. - Nằm mãi đây cũng đừng hòng có ai lượm xác đem chôn. - Dậy đi! Rối ơi.