Nguyễn Đình Xuân - Đỗ Văn Xuân - Nguyễn Văn Song - Lê Quốc Hán - Phan Lệ Dung - Đào Đức Tuấn - Trần Hoàng Phố
Tác phẩm "Mưa" của HS Nguyễn Thanh Tùng
NGUYỄN ĐÌNH XUÂN
Trăng ở Trường Sa
Sóng biển cuộn trăng táp bờ
Lăn tăn vỏ sò, vỏ ốc
Đêm trăng như mơ
Gió xổ tung tóc rối.
Ở đảo không đêm tối
Sóng xanh dát vàng
Đảo tự vẽ mình
Giữa mênh mang
Đảo giữ vầng trăng giữa biển
Như ngôi sao trên nền cờ Tổ quốc
Vững vàng giữa trùng khơi.
Trăng đảo luôn sáng tỏ
Trái tim người lính luôn thức
Đôi mắt dõi chân trời
Dưới chòi canh
Giàn hoa mướp nở vàng
Lung linh dưới trăng.
.jpg)
ĐỖ VĂN XUÂN
Mùa gặt
Trời mờ sương giăng
Gà vang tiếng giục đàn sao giật mình chạy trốn*
Trái gấc mặt trời thẹn đỏ
Mẹ cầm liềm trăng ra cánh đồng thu
Mật nắng giát vàng sóng lúa
Thoăn thoắt liềm trăng mẹ cắt
Nắng hong trắng vệt muối loang
Áo mẹ!!!
Con ra đồng tìm về phía mẹ
Ngậy thơm muỗm nướng chớm mùa
Mót gié thóc vương gốc rạ
Vàng trĩu giọt thu
Mẹ gánh lúa về
Mắt dềnh sóng đọng phù sa ngọt lịm
Đòn gánh cong vít cầu vồng
Hình dung bát cơm sáng bừng môi cười con trẻ
Quên bộn bề giông bão sau lưng
Con ra sân hong khô giọt mồ hôi mặn đắng
Sàng sẩy những nỗi niềm
Giữ lại ký ức lúa vàng, lửa ấm cơm thơm
.........................................
(*) Ý thơ trong bài thơ “Ò ó o” của nhà thơ Trần Đăng Khoa
NGUYỄN VĂN SONG
Chiếc lá
Đêm qua bên ô cửa
Mềm gió và đẫm hương
Một chiếc lá ứa đỏ
Lặng lẽ dầm hơi sương
Lá hay là mắt nhớ
Tiếc những mùa đã xanh?
Lá hay là đốm lửa
Cháy cạn những ân tình?
Sáng nay ra ô cửa
Chiếc lá cũ đâu rồi
Nghe như lòng ứa đỏ
Cả một trời phai phôi.
Chín
Lá vàng chín gió thu êm
Dệt ngàn mảnh nhớ bên thềm đợi ai
Giọt sương chín nắng ban mai
Đậu hờ ngọn cỏ thơm ngoài bờ đê
Đồng làng chín những niềm quê
Mẹ cong lưng bóng ngả về hoàng hôn
Chùa làng chín những giọt chuông
Ni cô khép vạt áo buông nâu sồng
Con thuyền chín khói bờ sông
Có người đứng gọi rạc lòng đêm xưa
Nghe trong dầu dãi nắng mưa
Bao nhiêu hương sắc chín mùa nhân gian.
LÊ QUỐC HÁN
Xin
Cụ Tố Như ngủ đó
Cụ Uy Viễn nghỉ đây
chiều chớm thu trở gió
cách một làn hương bay
Người cạn dòng huyết lệ
khấp “thập loại chúng sinh”
ưu: ba trăm năm lẻ
thêm ai khóc cùng mình
người nguyện trong trời đất
quyết chí lập công danh
sao lại mong kiếp khác
sẽ hóa thành thông xanh
tôi sinh linh bé nhỏ
giữa dòng đời nổi trôi
về đây xin phù hộ
mai ngày tìm thấy tôi
Tiếng hót
có thể đến từ núi cao rừng thẳm
đang lạc bầy khản giọng hót tìm nhau
có thể đến từ đồng hoang bãi vắng
véo von ca trước sự sống nhiệm mầu
dẫu đôi lần dính mũi tên hòn đạn
vẫn trong veo tiếng hót thuở ban đầu
trong hữu hạn gắng tìm ra vô hạn
để tình người chạm đến đáy thẳm sâu
rồi một mai héo trên cành cổ thụ
gửi lời ca trong tiếng lá xạc xào
xác tan biến dạt ra ngoài vũ trụ
hồn vẫn còn thánh thót hót trên cao
PHAN LỆ DUNG
Lời hẹn mùa thu
Mỗi khi cánh cửa mở ra
ánh nắng len vào phòng nhỏ
em nghiêng mình nhìn về phía ấy
nơi xa ấy có anh
những mùa hoa bâng khuâng nở muộn
anh nói sẽ về kịp mùa thu
mùa thu xứ Huế
Ở đó có người con gái mơ mòng
Chờ đêm về hốt ánh trăng vào giỏ
có giấc mơ biết nói nở tung trên môi người
trời mưa thu làm ướt lời hẹn thề cánh mỏng
em biết
trong mắt anh luôn in bóng người con gái ấy
dịu dàng
mong manh
nhớ thương vấn trong mái tóc
Bây giờ đã cuối thu
trời sắp mưa
những đám mây màu chàm úp mặt trôi về phía đồi xa
đàn én trên cao hối hả
từ biệt trời xanh
bay về biển
còn lại con đường
mang trên lưng vài chiếc lá vàng
lặng lẽ giấu điều bí mật
dưới cỏ may
ĐÀO ĐỨC TUẤN
Phố gió
mùa thu đang lắng nghe ai
một khắc chừa đông
không thể không ngáp lời
con đường tui
chiều đời vung dại
lá sấu khô chưa
hương sấu còn chua
hoa sữa có còn vương tóc em say rối
hà nậu mùa nào mơ màng
bãng lãng chút hồn tráng khí
kiêu sương ẩn nghĩa chợ chờ
tầm yêu ừ ứ
sẽ biết mọi điều hữu hạn
hỡi chông chênh
phố gió
bồng đào
Tin nhắn
đến một lúc nào đó tự hiểu cuộc đời
lầm thầm
trôi về hư ảo
phía trước xênh xang phía trước xềnh xàng
chưa nguôi khao khát
cháy bỏng không thôi chân lý đời mình
hy vọng như ánh huỳnh quang
con tim bột sáng
soi rọi nồng nàn những hốc rác tối tăm rêu mốc trong thinh
lung linh lúng láy
và thăm thản xanh cây cỏ dâng tràn
TRẦN HOÀNG PHỐ
Tưởng niệm một thi sĩ
Tưởng nhớ thi sĩ Du Tử Lê
Hãy nói về trống vắng
Bên kia cõi trần này
Hãy nói về tĩnh lặng
Cái chết này mây bay
Hãy nói về ánh sáng
Hồn ta ở bên người
Khi ngày cuối cùng đến
Người chờ ta bên trời
Hãy nói về áng mây
Bay ngang bóng cuộc đời
Hãy nói về ảo ảnh
Vầng nguyệt quế ngậm ngùi
Hãy nói về thời gian
Lặng yên và tích tắc
Hãy nói về giấc mơ
Bên được mất kiếp người
Hãy nói về tình yêu
Khi đời muộn màng rồi
Hãy nói về hy vọng
Dù lòng này sầu đau
Hãy nói về bình minh
Dẫu khi ngày tàn rồi
Hãy nói về niềm tin
Dẫu bóng tối tràn đầy
(TCSH370/12-2019)
Tải mã QRCode
NGUYỄN VĂN DINH
NGỌC TUYẾT
Trần Xuân An - Lý Hoài Xuân - Mai Nguyên - Trần Thị Huyền Trang - Trần Bá Đại Dương - Nguyễn Loan - Trần Thị Hiền - Đỗ Văn Khoái - Phùng Tấn Đông - Hồ Huệ - Tôn Lệ Thu Châu - Nguyễn Hữu Quý - Nguyễn Phi Trinh - Việt Trác
Tế Hanh - Hoàng Vũ Thuật - Nguyễn Khắc Mai - Tuyết Nga - Thái Ngọc San - Đặng Thị Kim Liên - Trần Vạn Giả - Huỳnh Duy
HẢI KỲ
Lê Văn Ngăn - Nguyễn Xuân Thâm - Phan Lệ Dung - Bành Thanh Bần - Đào Duy Anh
LÂM THỊ MỸ DẠ
HỒNG NHUChiếc tàu cau (Trích)
Minh Huệ - Xuân Quỳnh - Phương Thúy - Trần Thị Hiền - Trần Hải Sâm - Trần Khắc Tám - Hà Linh Chi - Mai Văn Hoan - Văn Tăng - Thiệp Đáng - Nguyễn Thành Phong - Hà Nhật
LTS: “Đi về sao chửa về đi” có lẽ là câu nhắn nhủ nhiều ý nghĩa nhất của Đào Tiềm vào cuối cuộc nhân sinh. Mười năm trước, ở tuổi bảy mươi, sau hơn 50 năm gắn bó với thơ ca, nhà thơ Tường Linh đã viết bài “Khúc ca quy ẩn” như lời từ giã đời thơ.
LTS: Đỗ Hoàng, sinh ngày 11-10-1949 tại Lệ Ninh, Quảng Bình, có thơ in từ năm 1970 ở các sách báo Trung ương và địa phương. Các tập thơ đã được xuất bản: Mùa lên xanh (in chung) - NXB Tác phẩm Mới 1978; Những miền đất nhớ (in chung) - NXB Lao động năm 1983; Những cánh rừng (in chung) - NXB Thanh niên năm 1984…
Đông Hà - Từ Nguyễn - Đông Triều - Quách Thành - Nguyễn Nhã Tiên - Nguyễn Trọng Văn - Quang Huy - Lê Văn Doãn - Trần Nhuận Minh.
L.T.S: Lý Hoài Xuân: Tên thật là Nguyễn Quốc Duẩn, sinh ngày 26-12-1954 tại Lệ Ninh, Quảng Bình. Tốt nghiệp đại học Luật. In thơ từ năm 1973. Là một chiến sĩ quân đội có mặt trong chiến trường Trị Thiên trong những năm ác liệt nhất. Có nhiều bài thơ và truyện ngắn in trên các báo, tạp chí Văn nghệ, Văn nghệ quân đội , Quân đội nhân dân, Đại đoàn kết, Độc lập, Đất Quảng… và sách của NXB Thuận Hóa , Công an nhân dân.
Thêm một biệt thơ hòa vào xu trào cách tân của Thơ Việt; Phan Quỳnh Dao với bút năng khỏe, cách lập ngôn ngoài khuôn cũ, thơ dòng nào cũng đầy ắp nỗi niềm trong tầng tầng suy tư... Chị vừa xuất bản tập thơ “Khuyết” cuối năm 2010 vừa rồi. Xin trân trọng giới thiệu.Đàn An Nguyên (gt)
Nguyễn Văn Dinh sinh ngày 5-3-1932 tại Quảng Trạch, Bình Trị Thiên. Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam. Có thơ in từ năm 1952. Các tập thơ đã xuất bản: “Hát về ngọn lửa” (in chung), “Cánh buồn quê hương” (in chung), “Hoa trăm miền” (in chung). Giải thưởng về đề tài chống Pháp 1953 của Bộ tư lệnh quân khu 4. Giải thưởng cuộc thi về đề tài lâm nghiệp của Bộ Lâm nghiệp 1969-1971. Giải thưởng văn học Bình Trị Thiên 7 năm 1976-1982.
ĐINH CƯỜNGMười năm rồi Sơn ơi
NGUYỄN PHAN QUẾ MAI
Xuân Hoàng - Nguyễn Xuân Thâm - Phạm Ngọc Cảnh - Mai Nguyên - Thế Dũng - Hải Vân - Hà Đức Hạnh
PHAN DUY NHÂNThơ xuân đọc với nam hà
Lê Huỳnh Lâm - Triệu Nguyên Phong - Nguyễn Hữu Hồng Minh - Trần Ninh Hồ - Phùng Tấn Đông - Trần Hữu Lục - Phạm Trường Thi - Nguyễn Man Kim - Tôn Nữ Thu Thủy - Trương Đăng Dung - Lê Huy Quang - Đoàn Mạnh Phương - Châu Thu Hà - Lê Ngã Lễ - Lâm Anh - Đỗ Văn Khoái - Nguyễn Khắc Thạch - Lê Tấn Quỳnh