Võ Bá Cường - Nguyễn Ngọc Phú - Nguyễn Man Nhiên - Văn Cầm Hải
"Tình xa vắng" - sơn dầu của Công Huyền Tôn Nữ Tuyết Mai
VÕ BÁ CƯỜNG
Nỗi buồn con gái
Ngày xưa nhắc lại làm gì
Dòng trôi bóng nước ra đi nhạt màu
Mấy lần tay hứng thương đau
Mùa ơi đợi mãi không màu trái hoa
Đời người cát bụi sương sa
Tóc xanh sợi ngắn bạc qua sợi dài
Nói làm chi nữa ngày mai
Một năm con gái mười hai tháng buồn
NGUYỄN NGỌC PHÚ
Vớt
Em vớt được tôi
Ngang trời mây bạc
Tóc rối tóc mây, buộc vào thất lạc
Tôi vớt được em
Đi ngang chóng mặt
Đá sỏi gan gà, ngàn sao
giăng mắc
Bạn vớt câu thơ
Trong veo đáy rượu
Cuộc đời sủi tăm, rượu buồn hay khóc
Ai vớt tình yêu
Tưởng chừng tuột mất
Hạnh phúc cầm tay, ngỡ là
không thật
Tôi vớt hy vọng
đến ngày cỏ xanh
nỗi đau khát vọng
chưa nguôi, chưa lành...
NGUYỄN MAN NHIÊN
Đêm dịu dàng thế kia, và gió
và đêm xuống, anh tự pha cho mình một tách cà phê
một ít đường, cái vị đắng quyến rũ
tiếng thìa quậy trong thành ly
tiếng que diêm phụt cháy trong bóng tối
những lúc ấy sống dậy một thứ không khí chừng như đã quên
sống dậy những góc quán ngờm ngợp gió biển
những bãi cát tiếng sóng chạy cùng đường
sống dậy những đêm hè sặc sỡ
sống dậy bao nhiêu thứ mà anh phải mang theo, cái thành phố ấy
đâu phải chỉ mình anh muốn lãng quên, anh bạn trẻ của tôi
ngần ấy năm chúng ta sống, chúng ta yêu, chúng ta làm việc như những kẻ bạc nhược
khao khát hạnh phúc, thứ hạnh phúc nhiều bóng tối hơn ánh sáng
kinh khiếp là cái đời sống cứ đều đều một cách giả dối
cái mặt hồ phẳng lặng ấy
cho đến khi một hòn sỏi
rơi xuống
đâu phải chỉ mình anh thức đêm nay, anh bạn trẻ của tôi
những nhà máy đang vào ca tối
tiếng máy chạy thâu đêm
háo hức
những chuyến tàu đi qua mặt sông thẫm đen
tiếng còi rúc mười giờ
tiếng sóng thì thầm cảng gió
những tiếng động lớn lao
ngần ấy năm chúng ta chờ đợi
như đứa bé chập chững lớn lên, cái thành phố ấy
không khỏi khiến anh run lên lòng tràn ngập xúc động
và đêm xuống, khi anh đứng bên này đường
hai hàng me no gió
chờ một tiếng còi quen
tiếng còi rúc mười giờ
chờ những cột đèn phụt sáng
soi rõ căn nhà đang xây
hồng hào khoẻ mạnh
và đêm xuống, những đêm hè thoảng hương
tiếng trái chín rụng trong vườn
tiếng gió chạy trên mái ngói
những lúc ấy không hẳn tôi muốn nói với riêng tôi
chúng ta yêu thành phố biết chừng nào phải không anh
VĂN CẦM HẢI
Đời chị
đời chị
như viện bảo tàng
có nhiều mặt nạ đàn ông
giờ đây
có ngày yên mệnh
tuổi chị về qua đôi chân dài óng mượt
người ta háo hức
lũ ruồi đòi làm cột thu lôi
nhưng dưới đất trầm
sấm qua rồi gửi lại
lưỡi búa thiên thần
tôi tiếc mình đến chậm mấy mươi năm
Ngã lòng
anh ghé vai nâng cầu cho em bước
anh không sợ ly rượu nồng
vì một ngày như thế mù lòa
em ném vào ngõ tối nỗi âm thầm lá tre rơi
anh tật nguyền ve vuốt đôi bàn chân đất lấp
tôi lo ngay ngáy
bên ấy
có kẻ nào cầm cung tên hạ trăng?
khóc cười biển xóa tiếng tù và hun hút
chiếc ống điếu
uống mây
tự mình bốc cháy

(TCSH54/03&4-1993)
Tải mã QRCode
Lưu Thị Bạch Liễu - Nguyễn Thuấn - Ngô Thị Ý Nhi - Nguyễn Đạt - Nguyễn Thiền Nghi
Ngọc Biển - Bích Hải - Nguyễn Thị Duyên Sanh - Đông Hương - Hồng Vinh
Kiều Công Luận - Phan Công Tuyên - Hoàng Lê Diễm Trang - Lê Hào - Trần Hương Giang - Nguyễn Hoàng Dương
PHẠM VĂN VŨ
NGUYỄN THỊ ANH ĐÀO
Từ Hoài Tấn có thơ xuất hiện khá sớm trên báo Văn (miền Nam) khoảng giữa năm 1960. Ngay từ buổi đầu, thơ Từ Hoài Tấn đã có một giọng điệu riêng. Và khác với một số người trong nhóm Nội Dung ngày ấy (như Thái Ngọc San, Mường Mán, Nguyễn Miên Thảo…), Từ Hoài Tấn có vẽ lặng lẽ như sự tách biệt của một con đường độc đạo để đi vào khu rừng nội tâm.
HỒ ĐẮC THIẾU ANH
*Ghi nhớ ngày tiễn đưa Cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn 01-04-2001
Lê Từ Hiển - Nguyễn Như Huyền
Hồ Đắc Thiếu Anh - Nguyễn Hoàng Thọ - Trần Xuân An - Trần Hữu Dũng - Dương Thành Vũ - Nguyễn Hoàng Anh Thư
NGUYỄN HƯNG HẢI
Trần Vàng Sao - Ngô Minh - Phùng Tấn Đông - Nguyễn Văn Phương - Lê Ánh
Phùng Tấn Đông - Bạch Diệp - Nguyễn Man Kim - Đoàn Mạnh Phương - Ngô Công Tấn - Vĩnh Nguyên - Phan Trung Thành - Lê Hưng Tiến - Nhất Lâm - Châu Thu Hà - Nguyên Tiêu
Nguyễn Đức Quang - Đặng Thị Vân Khanh - Tuyết Nga - Thạch Quỳ
LTS: Phùng Quán sinh năm 1932, quê xã Thủy Dương thành phố Huế, gia nhập Vệ Quốc đoàn năm 13 tuổi (1-1946) làm liên lạc, chiến sĩ trinh sát trung đoàn 101.
Đinh Thu - Thái Kim Lan - Ngàn Thương - Hoàng Thị Thương - Nguyễn Miên Thượng - Nguyễn Loan - Vũ Trọng Quang - Trần Hữu Lục - Lê Huy Quang - Đỗ Hàn - Mai Văn Hoan - Trần Tịnh Yên
Nguyễn Đạt - Lê Ngã Lễ - Nguyễn Đông Nhật - Xuân Cao - Từ Hoài Tấn - Tôn Phong
PHAN ĐẠO
Đinh Cường - Anh Túc - Trần Hoàng Vy - Trần Hữu Lục - Nguyễn Thiền Nghi - Đông Hương - Thanh Trắc Nguyễn Văn
ĐỖ TẤN ĐẠT
Thái Kim Lan - Nguyễn Đặng Mừng - Đông Hương