Tạm biệt Huế với anh, giờ vĩnh biệt

16:23 25/05/2009
NGUYỄN TRỌNG TẠOLTS: Nhà thơ Thu Bồn có nhiều duyên nợ với Huế, với Sông Hương. 20 năm trước, trong dịp TCSH ra đời, anh có mặt ở Huế và viết bài thơ “Tạm biệt” - một trong ít ỏi những bài thơ hay nhất về Huế, 20 năm sau, cũng vào dịp TCSH kỷ niệm tròn 20 tuổi thì anh lại ra đi, ra đi trong lời vĩnh biệt!Thương tiếc nhà thơ tài hoa Thu Bồn, Sông Hương xin trân trọng giới thiệu một vài kỷ niệm vaì tình cảm của bạn bè, đồng nghiệp dành cho anh.                                                                TCSH

Nhà thơ Thu Bồn

1. Mùa lụt 1983 tôi ghé Huế, tình cờ gặp nhà thơ Thu Bồn đang uống rượu ở nhà Nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường. Anh đang sướng vì câu nói ngây thơ và rất nên thơ của bé Hoàng Dạ Thi: "Huế vừa đi vừa tím”. Thu Bồn thú nhận rằng, anh đã đến Huế nhiều lần, và cũng bị ám ảnh về "Huế tím", nhưng không thể nào hình dung ra được "Huế vừa đi vừa tím" rất xuất thần như vậy. Anh bảo, thơ ca lạ lùng nhất phát ra từ cặp mắt và tâm hồn trẻ thơ, và khen Hoàng Dạ Thi là một "thi sĩ đại tài thiên bẩm". Khi rượu đã ngấm men, tình càng thúc gọi, anh rủ tôi đi bộ qua cầu Gia Hội sang Chi Lăng thăm cô gái anh mới quen, cô Châu. Cô Châu mắt to, mũi cao, da ngăm, có dáng thể thao khoẻ mạnh, vui vẻ đón chúng tôi. Ngồi uống nước trước bàn thờ còn đọng ngấn nước sau trận lụt mới vừa lui, Thu Bồn bảo chính ngấn nước ngập bàn thờ ấy đã "xui" anh viết được bài thơ về lụt Huế, rồi anh đọc rất xúc động bài thơ ấy. Tôi nhớ có câu thật ấn tượng: "Một phen cóc nhái nhảy lên bàn thờ". Nhưng có lẽ bài thơ hay nhất anh viết về Huế lại là bài "Tạm biệt" anh viết sau đó mấy hôm.

            Bởi vì em dắt anh lên thăm ngôi đền cổ
            Chén ngọc giờ chìm dưới đáy sông sâu


Anh thổ lộ với tôi, em trong bài thơ là một cô gái có thật. Tôi đoán cô Châu. Anh cười hiền.
Người yêu thơ ở Huế không ai không thuộc bài thơ này. Bài thơ có hai câu rất xuất thần về Huế - sông Hương:

            Con sông dùng dằng con sông không chảy
            Sông chảy vào lòng nên Huế rất sâu


Sau này anh tục huyền với nghệ sĩ Lý Bạch Huệ, trong các cuộc rượu với Thu Bồn, anh em Huế thường đùa anh, đọc trệch chữ Huế thành ra Huệ bằng giọng Huế rất dễ thương: "Sông chảy vào lòng nên Huệ rất sâu". Đến hai câu kết bài thơ "Tạm biệt Huế với chiếc hôn thầm lặng - Anh trở về hoá đá phía bên kia", anh em lại đùa anh: "Anh trở về hoá đá ở trong bia". Đá ở đây là nước đá và bia ở đây là bia anh vẫn hay uống, chứ không phải là "trăm năm bia đá thì mòn". Điều đó chứng tỏ bài thơ "Tạm biệt" của Thu Bồn đã trở thành bài thơ ngôn truyền hết sức độc đáo.

Có một điều thú vị là khi đưa in bài thơ này, có một chữ đã được thay đổi so với "bản gốc" mà tôi được nghe anh đọc lần đầu ở câu: "Tạm biệt Huế với em là vĩnh biệt", thành ra "Tạm biệt Huế với em là tiễn biệt". Tôi nghĩ rằng, trong trực giác, Thu Bồn đã biết trước một tình yêu không thành và anh đã gieo vào lòng mình hai chữ "vĩnh biệt", nhưng hình như nói thế sợ xui xẻo, nên anh đã đổi thành tiễn biệt, nó đẹp và còn mang theo chút hy vọng trở lại với "Em", với Huế. Bây giờ bài thơ đã tròn 20 tuổi, và Thu Bồn đã mãi mãi vĩnh biệt Em, vĩnh biệt Huế, vĩnh biệt thế gian này, hai từ vĩnh biệt trong bản gốc bài thơ anh viết bỗng cứ ám ảnh trở lại trong tôi. Và tôi bỗng nhớ cô Châu mắt to, mũi cao... Mười năm trước tôi gặp cô bán hàng áo quần thùng cạnh đường Lê Lai thành phố Hồ Chí Minh, bây giờ Châu đang ở đâu? Bây giờ chắc cô còn nhớ câu thơ đẹp trong bài thơ "Tạm biệt" của Thu Bồn:

            Nón rất Huế mà đời không phải thế
            Mặt trời lên từ phía nón em nghiêng


Không biết hôm đưa Thu Bồn đi thăm thú Huế, cô Châu có đội nón bài thơ Huế không nhỉ? Hay đấy chỉ là một ấn tượng chung về những chiếc nón bài thơ xứ Huế đã nhập vào thơ anh?...

2. Năm 1985 vào ngày đổi tiền, tôi và Thu Bồn lang thang trên đường phố Hà Nội, không đồng xu dính túi, mà lại thèm ngồi nhâm nhi chén rượu với nhau. Thu Bồn tháo đồng hồ tay và lấy chiếc mũ cối bộ đội của tôi đi bán cho con phe để lấy tiền uống rượu, nhưng con phe cũng từ chối. Anh quyết định "đẩy" chiếc xe máy Vec-pa, nhưng người hẹn mua không tới. Liền rủ tôi đến nhà văn Ngô Thảo xúc mấy ký gạo ra chợ Âm Phủ đổi lấy rượu và thịt chó. Thế là bạn bè kéo đến uống rượu, đọc thơ. Tối hôm ấy, tôi và Thu Bồn ngủ trên sân thượng nhà Nguyễn Thuỵ Kha (cùng ngõ với Ngô Thảo). Ngủ trên sân thượng thật mát mẻ, phóng khoáng, nhưng quá nửa đêm trời đổ mưa. Sợ phiền vợ chồng Kha, tôi và anh cuốn chiếu xuống hành lang cạnh cầu thang ngủ tiếp. Nào ngờ cản đường chuột chạy. Một con chuột cống đã cắn vào trán Thu Bồn, toé máu. Sáng ra, vợ Kha hốt hoảng, tìm bông băng băng lại vết thương cho anh. Ngô Thảo thương quá, tổ chức một tiệc rượu để "chia buồn" với thi sĩ bị chuột cắn. Cuộc rượu toàn những nhà thơ nhà văn lính. Bỗng có hai cô gái Hà Nội rất xinh dến thăm "thương binh", họ ào vào ngồi hai bên tả hữu Thu Bồn mà... rót rượu. Nhà nghiên cứu phê bình Đào Thái Tôn xuất hiện, đòi ngồi cạnh Thu Bồn để "nghiên cứu" vết thương trên trán anh, nhưng hai cô gái quyết cố thủ. Họ Đào thất thế, bỗng xuất thần đọc câu thơ sáu chữ trả miếng hai cô gái:

            Anh ngon đến chuột cũng thèm!

Câu thơ xuất thần bất ngờ được vỗ tay tán thưởng, khiến hai cô đỏ mặt, vội nhường chỗ cho họ Đào ngồi bên Thu Bồn để "nghiên cứu" vết thương và rượu làng Vân.

Sau hôm đó tôi làm bài thơ "Những nhà thơ lính" đề tặng Thu Bồn, có hai câu kết:

            Không phải khách ăn theo không phải thợ gặt giùm
            Những nhà thơ qua máu lửa chiến trường!


3. Vâng! Thu Bồn là một nhà thơ lính thực thụ. Anh tên thật là Hà Đức Trọng, sinh ngày 1-12-1935 tại Quảng Nam, nơi có con sông Thu Bồn cát trắng dâu xanh mà anh lấy làm bút danh để tạ ơn quê hương mình. Anh gia nhập quân đội cuối cuộc kháng chiến chống Pháp sau vài năm đi dạy học, và trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, anh bám trụ ở chiến trường Trung Trung Bộ cho đến ngày đất nước thống nhất mới về làm biên tập ở tạp chí Văn nghệ Quân đội. Anh là nhà thơ rất nổi tiếng với tập trường ca Bài ca chim Chrao (1964) được trích giảng trong sách giáo khoa, đoạt giải thưởng Hoa Sen của hiệp hội nhà văn Á - Phi và giải thưởng văn học Nguyễn Đình Chiểu. Anh đã xuất bản nhiều tập thơ, đặc biệt là đã in hàng loạt trường ca dài hơi như Cămpuchia hy vọng, Bazan khát, Oran 76 ngọn, v.v... đồng thời anh cũng là một nhà văn xuôi sung bút với nhiều tập tiểu thuyết viết về chiến tranh và cách mạng như Chớp trắng, Dưới đám mây màu cánh vạc, Xa cảng miền Tây, Đỉnh núi, v.v... Thơ văn anh có thể ví với dòng sông đầy ghềnh thác, cuộn xiết và réo gọi. Tâm hồn anh luôn khoẻ mạnh, vạm vỡ. Anh là một người khai phá trên các ngọn núi đời sông, cày xới tung lên cả đất tốt và đất sỏi bạc màu. Đất tốt và đất xấu anh đều gieo hạt văn thơ và gặt hái bội thu sau những mùa gieo vãi. Ngòi bút anh găm sâu vào những đề tài mang tính anh hùng ca, nhưng cũng chan hoà máu lệ trong những bi thương, đau khổ của kiếp người. Có lúc nghe anh ngâm thơ mà tưởng như anh đang khóc:

            Lấy khăn mà gói bơ vơ
            Tay cầm nước mắt sững sờ chiêm bao

Có khi lại thấy anh như một kẻ đa tình tài hoa:

            Thôi đừng cong nữa làn mi
            Trời sinh con mắt khỏi đi đường vòng

Trong một bài thơ tự họa tặng tạp chí Cửa Việt viết năm 1990, Thu Bồn tự nhận mình là "Con Xà Mâu tội nghiệp":

            Lấy xó tối cạnh nhà làm tổ ấm. Ta cẩn thận vòng quanh để bước vào giấc ngủ mà không bao giờ ngủ. Con ruồi lượn trước mắt ta, con kiến cắn bụng ta, con bọ chó chui vào mũi ta, con mèo đến giỡn cấu giấc ngủ ta.
            ...Ta là con Xà Mâu... làm sống giấc ngủ ngon của bao người chủ mới.
            ...Ta là con Xà Mâu xếp hạng cùng phường chó hoang, chó chạy rong, chó ghẻ, chó điên, chó ngộ... là mục tiêu cho những chiếc dây thừng... Những tay săn tha hồ bắn tỉa, ném vòng chịt tiếng sủa ta từ trong cổ họng - tiếng sủa trung thành trở thành phản phúc - con Xà Mâu bị mai phục giữa hai làn đạn chéo súng cực nhanh.
            ...Hãy cất giấu tiếng tru vào bức vách trời xanh, ta nằm nghiêng trên bờ biển đông trên đầu muôn ngọn núi khoả sóng lân tinh với trăng sao...


Đấy là bài thơ Thu Bồn viết vào thời kỳ đổi mới, ngẫm ngợi về con người mình, con người tự nguyện hiến dâng cho sự nghiệp, nhưng cũng là sự chia sẻ tận đáy lòng với những con người tận trung, tận hiếu. Tôi còn nhớ khi chúng tôi đưa in bài thơ này của anh trên tạp chí Cửa Việt, anh đã cảm động rơi nước mắt. Quả thật như vậy, Thu Bồn là một nhà thơ quân đội, không màng chức tước, bổng lộc. Anh sống thật với mọi người, ngang tàng, khí phách và thật giàu tình cảm. Cả đời anh xả vào thơ văn, ộc vào thơ văn và thăng hoa vào thơ văn. Nhờ thế mà thơ văn anh cuồn cuộn, bay bổng và khoan sâu vào tâm thức yêu nước yêu người...

4. Người ta thường tiếu lâm về cái tính tằn tiện của người khu Năm, nhưng với Thu Bồn thì khác. Có tiền là anh nghĩ đến việc tổ chức cuộc vui cho bạn bè. Hồi tôi còn ở Huế, Thu Bồn vào sống ở Sài Gòn, một dịp đi qua Huế, anh đưa một xe bạn bè vào nhà tôi và tuyên bố với vợ tôi là sẽ bày cuộc nhậu tại đây. Vợ tôi đang lúng túng vì tôi đang vắng nhà, anh bảo vợ tôi vào bếp nổi lửa lên, còn anh thì mang vào một lồng gà và mấy ký thịt bò mua dọc đường. Và Thu Bồn xắn tay lên làm bếp. Khi tôi về thì đã thấy một bữa tiệc linh đình bày ra trên sàn nhà lát gạch. Anh bảo tôi gọi bạn bè Huế đến nhậu. Nhậu xong, anh mang chiếc cát-sét ra bật nhạc lên và... nhảy. Thu Bồn thích nhảy những điệu nhảy Mỹ-Latinh, khiến cả căn phòng nhộn nhịp như một vũ trường.

Năm 1998, tôi từ Hà Nội vào Đà Nẵng dự hội nghị văn học miền Trung, ở cùng phòng với Thu Bồn. Tôi kiểm tra ví của anh. Anh bảo: "Thu Bồn giờ túi hết tiền, bút hết mực, súng hết đạn rồi. Buồn lắm!". Tôi thấy thương anh quá, đưa anh ít tiền tiêu vặt. Sáng hôm sau, tôi cùng Thanh Thảo, Nguyễn Thụy Kha đến thăm một tổng biên tập báo, được nhận một số tiền đặt viết bài. Chúng tôi gom lại đưa cho Thu Bồn. Anh cảm động lắm. Nhưng tối hôm đó, anh đã dùng tất cả số tiền ấy mua một chai rượu Tây loại xịn mở ra mời mọi người cùng uống. Tôi trách anh. Anh nói nhỏ nhẹ với tôi: "Tao thấy chúng nó thèm rượu quá mà chẳng đứa nào chịu chi. Hình như chúng nó cũng chẳng có tiền đâu Tạo ạ".

Lại nhớ một lần vào Sài Gòn, tôi rủ Thu Bồn đến quán bia 81 Trần Đức Thảo, nơi anh em văn nghệ vẫn thường lui tới. Tôi gọi một can bia hơi, Thu Bồn ngăn lại. Anh bảo chỉ gọi hai ly và một đĩa đậu phộng thôi. Tôi ngạc nhiên. Anh bảo: "Ta chỉ gọi cò mồi thôi. Lát nữa chúng nó tới, không đủ sức mà nhậu đâu". Quả đúng như vậy, một lát sau anh em văn nghệ tới, người gọi bia, kẻ gọi đồ nhậu cứ tưng bừng như nhà có đám. Trịnh Công Sơn vừa gọi 10 lon bia Ken ứng với số tiền trong túi, thì Trần Tiến đã gọi một thùng đặt vào bàn rồi cáo lui vì có việc bận. Không biết trong cuộc nhậu, Thu Bồn đã hò hẹn thế nào mà tối hôm đó tại nhà Thu Bồn ở số 6 Đặng Thái Thân tụ hội gần 20 người bạn. Bữa tiệc ấy do anh làm đầu bếp cùng với mấy chị rất xinh đẹp đều là vợ của bạn anh. Lại đọc thơ, lại hát. Tôi còn nhớ, Trịnh Công Sơn khen bộ bàn ghế bằng gốc dừa của Thu Bồn thật dễ thương. Thế là sáng hôm sau anh thuê xe chở cả bộ bàn ghế ấy đến nhà họ Trịnh tặng bạn...

5. Có lẽ nhiều người phái đẹp yêu anh không chỉ vì anh là một thi tài nổi tiếng, mà còn vì lối sống rất đàn ông "quân tử" của anh. Tôi không biết nhiều về những người phụ nữ yêu anh hay được anh yêu, nhưng thú thật là tôi có biết. Bây giờ anh vừa nằm xuống mà kể ra, e mình bị coi là người đưa chuyện. Nhưng phải nói thật rằng, tình yêu của anh nói chung là rất đáng yêu. Có lần, anh nhờ tôi đến Viện Ngôn ngữ đưa thư cho một người con gái, hẹn cô đến nhà bạn dự tiệc. Lúc ấy tôi mới thấy một cô gái Hà Nội đẹp đến thế, có thể nói là "nghiêng nước nghiêng thành". Cô tỏ ra mừng rỡ khi nhận được thư mời của Thu Bồn. Và cô nhận lời ngay, không hề phải giả vờ kiểu cách. Còn Thu Bồn thì cứ đi ra đi vào ở ngõ nhà bạn lóng nga lóng ngóng như một kẻ si tình. Nghe nói người yêu cũ của Thu Bồn rủ bạn gái đến nhà cô gái ấy đánh ghen. Cô bạn vào nhà "thám thính” xong, chạy ra nói với người yêu cũ của anh: "Nó đẹp như thế thì mày đánh ghen làm gì. Thôi, về đi".

Tôi có hỏi Thu Bồn, tại sao anh lại thay người yêu như thay áo vậy? Anh bảo: "Thu Bồn thích một tình yêu tự do, mà tìm mãi chưa gặp được". Có lẽ vì thế mà đôi lúc, anh biến tình yêu thành một trò đùa kỳ quái. Đó là lần anh tổ chức một cuộc tiệc gặp gỡ bạn hữu tại Văn nghệ Quân đội. Vừa nâng ly lên, anh tuyên bố giọng rất nghiêm trọng (cũng là một cách đùa của Thu Bồn): "Hôm nay là đám cưới của hai chúng tôi - anh chỉ vào một người phụ nữ xinh đẹp đã có chồng - Xin mời thầy Hiến nói lời chấp thuận cho!". Giáo sư Hoàng Ngọc Hiến bị "bỏ bom" bất ngờ, nhưng thật hóm hỉnh, ông nói: "Hôm nay thầy chúc cho hai con tự do". Ai cũng biết đấy là đùa, là vui. Vậy mà hôm sau đã có lời đồn đại: Nhà thơ Thu Bồn vừa cưới vợ! Quả là chuyện yêu đương của Thu Bồn chẳng khác gì huyền thoại thời hiện đại...

6. Từ khi có Lý Bạch Huệ, Thu Bồn vẫn rong chơi lãng tử, nhưng chỉ khác là trong các cuộc vui gần nhà hay xa nhà, hai người cứ dính vào nhau như hình với bóng. Lý Bạch Huệ là một nghệ sĩ nổi tiếng, và khi đã chấp nhận Thu Bồn thì không quản rong chơi. Và làm nữa. Có lúc cả hai người phải đi "rao bán" lịch để sống. "Rao bán" lịch mà "trúng" thì vui lắm. Những ngày tháng này, Thu Bồn như khoẻ hơn. Anh vác đá vác đất đắp nền dựng nhà ở Suối Lồ Ồ, cạnh một cái chùa. Mấy nghìn mét đất bên chùa trở thành nhà cửa đúng "gu" Thu Bồn. Nhà xây và nhà tre nứa. Chất đầy tranh tượng phong cách Tây Nguyên. Và chum choé, vò lớn vò bé. Trang trí cung tên, súng săn, đầu trâu, đầu ngựa, sừng hươu sừng nai. Cứ như một bảo tàng nghệ thuật dân tộc học. Cổng to, sân rộng, có thể đậu hàng chục ô tô bạn bè đến thăm viếng vui chơi...

Bỗng Thu Bồn bị tai biến mạch máu não. Tuổi sáu lăm đang phong độ bỗng sụp xuống như một con voi ngã bệnh. Đủ các loại thầy thuốc xắn tay cứu chữa. Cuối năm 2001, tôi và Nguyễn Thụy Kha vào thăm mộ Trịnh Công Sơn ở chùa Quảng Bình nghĩa trang Gò Dưa, ghé suối Lồ Ồ thăm Thu Bồn. Chúng tôi đến sau 1 giờ gọi điện thoại. Ô tô vừa đến cổng đã thấy Thu Bồn đứng giữa sân dang hai tay lên trời như muốn ôm chầm lấy cả chiếc ô tô. Nguyễn Đình Toán nhảy khỏi xe chụp ảnh lia lịa về cuộc gặp gỡ này. Thu Bồn đưa chúng tôi đi thăm khắp vườn, lên nhà trên, xuống nhà dưới, vào tận phòng ngủ của hai người. Trên đầu giường vẫn để một khẩu súng ngắn và mấy viên đạn đồng vàng sẫm. Thu Bồn nói rằng, anh chưa bao giờ rời khẩu súng này. Để làm gì. Để nhớ lính, và để ngừa kẻ trộm. Nhưng kẻ trộm đã lẻn vào khuân đi khá nhiều tranh tượng quí giá của anh. Biết chúng tôi đến, nhưng Lý Bạch Huệ không kịp về. Chị đang mải đi tặng thơ, bán thơ Thu Bồn vừa xuất bản tận trên Biên Hoà.

Thu Bồn lấy một bình rượu quí bảo tôi rót mời mọi người nâng ly. Thu Bồn cũng nâng ly, nhưng anh chỉ nhấp môi chứ không dám uống. Bệnh tật đã cướp đi của anh cái thú vui mãn tính. Thu Bồn nhìn chúng tôi uống rượu, chợt cười buồn...

Xe chúng tôi rời cổng nhà anh, anh vẫn đứng giữa sân dạng hai tay lên trời. Mái tóc bạc trắng bay tung trong gió. Nụ cười sáng giữa lởm chởm râu bạc.

7. 17 tháng 6-2003, tôi về Huế dự lễ kỷ niệm 20 năm Tạp chí Sông Hương. Đêm thơ Sông Hương người ta ngâm thật hay bài thơ "Tạm biệt" của Thu Bồn khi biết tin anh đang hôn mê. Sáng hôm sau, đọc báo đã thấy tin anh qua đời, tôi lại nhớ những dòng thơ tự họa "Con Xà Mâu tội nghiệp":

Ánh sáng róc rách, ánh sáng xoa bóp, ánh sáng vỗ về, ánh sáng râm ran mạch máu, ánh sáng tuỷ năng, ánh sáng hồng cầu, ánh sáng đại não, ánh sáng thần kinh - Ánh sáng là Em. Khối ánh trăng đã đọng thành da thịt, thành vai em, ngực em, đùi em, noãn sào (buồng trứng)... cả hằng hà sa số đợi chờ anh.

Vâng! Thu Bồn đã nhập vào ánh sáng, nhập vào vũ trụ. Anh nhập vào phía nam, anh hoà vào phía bắc, anh bay về trong dâu xanh cát trắng nước trong của dòng sông quê mẹ hay trên những ngôi đền cổ xứ Cố Đô... Câu thơ của hai mươi năm trước anh viết khi xa Huế, giờ đã trở thành định mệnh của đời anh:

            Tạm biệt Huế với em là vĩnh biệt
            Vĩnh biệt anh, Thu Bồn - Hà Đức Trọng!

Huế 19 - 6 - 2003
N.T.T
(173/07-03)

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • Rất nhiều hoa, rất nhiều nụ cười đã hiện diện một cách cởi mở và đầm ấm trong buổi chiều ngày 18.7.2008 tại Trung tâm Du lịch và Dịch vụ Festival - Huế, nơi diễn ra Lễ kỷ niệm 25 năm Tạp chí Sông Hương phát hành số báo đầu tiên (1983-2008).

  • HỒ THẾ HÀĐến nay, Tạp chí Sông Hương đã tròn một phần tư thế kỷ (1983-2008) kể từ số đầu tiên được ra mắt bạn đọc. Hai mươi lăm năm đủ để vui buồn ôn lại những chặng thác ghềnh và phẳng lặng của một dòng sông từ nguồn ra biển.

  • ĐẶNG VĂN VIỆTKỷ niệm 63 năm Cách mạng Tháng TámSau ngày đảo chính (9-3-1945), Nhật lật đổ Pháp. Phong trào Việt Minh như một luồng gió mạnh, thổi từ miền Bắc vào miền Trung, miền Nam, thức tỉnh lòng yêu nước, thương nòi của người dân đất Việt, thúc giục mọi người sẵn sàng để chớp thời cơ, giành lại chính quyền về tay nhân dân.

  • TRẦN THÙY MAIThuở trước, mỗi đêm cuối năm, anh Hải Bằng bao giờ cũng đến thăm trụ sở Hội Văn nghệ, rồi túc tắc ngự trên chiếc xe babeta màu đỏ, ghé thăm nhà bạn bè thân hữu đó đây trước khi quay về để kịp đón giao thừa.

  • NGUYỄN QUANG HÀCuối cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, cả nước xôn xao về vụ án Trần Dụ Châu.

  • NGUYỄN KHẮC PHÊTrong một cuộc vui gần đây, nhân nhắc đến việc bình chọn các nhân vật, sự kiện nổi bật trong năm trên báo chí, có ý kiến phong cho nhà văn Hồng Nhu là người đạt nhiều cái “nhất” nhất trong làng văn ở Huế.

  • TRẦN THỊ TRƯỜNG - Chúng ta lại thắng rồi. Thỉnh thoảng lão lại reo lên như thế khi bất chợt gặp một người mà lão coi là bạn. Lão nói câu ấy cả khi lão đang thoi thóp trên giường bệnh, miệng méo xệch lão nói một cách khó khăn nhưng vừa nói lão vừa cười khiến cho người ta yên tâm là lão bắt đầu sống trở lại, cái chết còn lâu mới quật được lão.

  • PHẠM QUANG TRUNGAnh Cao Xuân Hạo kính mến!Trước tiên, xin thú nhận, tôi là người mê say tên tuổi anh đã từ lâu. Tuổi trẻ và sau đó là những năm tháng trực tiếp giảng dạy, nghiên cứu, phê bình văn chương đã đưa tôi đến những trang dịch văn xuôi Nga – Xô viết đầy sức cuốn hút của anh, như Chuyện núi đồi và thảo nguyên, Chiến tranh và hòa bình, Truyện ngắn Gorki, Con đường đau khổ, Tội ác và trừng phạt…

  • VINH HUỲNHLTS: Có bạn đọc gửi thư đến Toà soạn chúng tôi đề nghị nếu chọn topten sự kiện nổi bật trong làng báo chí năm 2001 thì không nên bỏ qua “hội chứng” đánh vào các trường đại học, trong đó có Đại học Nghệ thuật Huế và trường Viết văn Nguyễn Du.

  • NGUYỄN KHẮC THẠCH(Tham luận đọc trong hội thảo)Cho đến đầu thế kỷ 21 này, chúng ta vẫn đang đứng trước nguy cơ tụt hậu về mặt kinh tế đã là điều đáng sợ nhưng cái đáng sợ hơn là nguy cơ vong bản về mặt văn hoá. Xu thế toàn cầu hoá đang xâm nhiễm và xâm thực vào đời sống chúng ta một cách ngọt ngào mà chua cay, dịu êm mà đẫm máu.

  • TRẦN HOÀNLTS: Từ ngày 4 đến ngày 7 tháng 12 năm 2001 đã diễn ra cuộc tập huấn - hội thảo báo chí văn nghệ địa phương tại thủ đô Hà Nội. Nhạc sĩ Trần Hòan, Phó Ban Tư tưởng Văn hóa Trung ương, Phó Chủ tịch UBTQ.LH các Hội V.H.N.T Việt Nam đã đọc báo cáo đề dẫn hội nghị. Sông Hương xin trích đăng một phần trong báo cáo đó (đầu đề do chúng tôi đặt).

  • NGUYỄN KHOA ĐIỀM(TBT: 1983 - 1986)Bây giờ nhìn lại những số Sông Hương đầu tiên (số 1 ra mắt tháng 6-1983) không khỏi cảm thấy tờ tạp chí như một… cô gái quê, giản dị, khiêm nhường, có vẻ… tồi tội. Giấy đen. Bìa mỏng. Bát chữ typo chỗ đậm chỗ nhạt. Sông Hương làm sang cho in ảnh tác giả, khốn nỗi, ảnh loè nhoè, không rõ mặt. Giá bao cấp 7 đồng/số, vẫn bị chê đắt. Được cái lượng bản in ngay số đầu là 4.000 bản. Trông khí sắc cuốn tạp chí vẫn chưa xa cái thời tranh đấu chống Mỹ, in sách báo trong gác trọ sinh viên.

  • TÔ NHUẬN VỸ(TBT: 1986 - 1989)Có năm kỷ vật của Hải Bằng tặng tôi và gia đình, từ ngày anh còn sống cho đến nay, sau 10 năm anh mất, tôi vẫn nhìn ngắm và chăm sóc hàng ngày. Đó là bức tranh hồ sen, là hai câu thơ anh viết trên giấy đặc biệt, là tất cả các tập thơ anh in từ sau 1975, là đôi chim hạc anh tạo bằng rễ cây và con chó Jò bé xíu.

  • NGUYỄN KHẮC PHÊ(TBT: 1991)Tôi có may mắn được làm Phó Tổng biên tập nhiều năm cho hai “đời” Tổng biên tập nổi tiếng là Nguyễn Khoa Điềm và Tô Nhuận Vỹ, nhưng đến “phiên” mình được gánh vác trọng trách thì chỉ đảm đương được một thời gian ngắn. Đã đành do tài hèn sức mọn, nhưng cũng vì đó là giai đoạn khó khăn sau “Đổi Mới”, chúng ta đang phải tìm đường, nhiều quan niệm - nhất là về văn học nghệ thuật chưa dễ được nhất trí…

  • HỒNG NHU(TBT: 1992 - 1997)Thời gian như bóng câu qua cửa. Mới đó mà đã một phần tư thế kỷ, tờ tạp chí Sông Hương có mặt cùng bạn đọc trong và ngoài nước.

  • NGUYỄN KHẮC THẠCH(TBT: 2000 - 2008)Vậy là đã tròn một phần tư thế kỷ. Ngày ấy, cũng vào mùa “Hạ trắng” nắng lên thắp đầy như nhạc Trịnh, tờ Tạp chí Sông Hương - tạp chí sáng tác lý luận phê bình nghiên cứu văn học nghệ thuật của xứ Huế được ra đời và đi qua cái ngưỡng “vạn sự khởi đầu nan” một cách kỳ diễm, đầy ấn tượng.

  • MAI VĂN HOANSáng 8 - 5 - 2008, ghé quán  26 Lê Lợi (trụ sở Hội Văn nghệ Thừa Thiên Huế) ngồi uống cà phê với hai nhà thơ Kiều Trung Phương và Ngàn Thương, tôi vô cùng sửng sốt khi Ngàn Thương cho biết người suốt đời đi tìm chân dung Hàn Mạc Tử là anh  Phạm Xuân Tuyển đã mất cách đây gần 7 tháng tại Phan Thiết.

  • I.Con người ấy từng mang tên Nguyễn Sinh Cung, và tên chữ Nguyễn Tất Thành, trước khi đến với tên Nguyễn Ái Quốc, đã trải một tuổi thơ vất vả vào những năm kết thúc thế kỉ XIX, để bước vào thế kỉ XX với một niềm khao khát lớn: “Khi tôi độ 13 tuổi, lần đầu tiên tôi được nghe ba chữ: tự do, bình đẳng, bác ái. Đối với chúng tôi, người da trắng nào cũng là người Pháp. Người Pháp đã nói thế. Và từ thủa ấy tôi rất muốn làm quen với nền văn minh Pháp, muốn tìm xem những gì ẩn sau những chữ ấy...” (1)

  • Từ rất nhiều năm nay tôi rất muốn bày tỏ đôi điều về những bi kịch cuộc đời mà nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường (HPNT) từng chịu đựng và trăn trở, từng nén vào lòng để sống và sáng tác.

  • Chiều 17.11 vừa rồi, ở địa chỉ 26 Lê Lợi đã diễn ra cuộc tọa đàm giữa đoàn nhà văn Trung Quốc với Chi hội Nhà văn Việt Nam tại Huế. Nhà thơ Phạm Tiến Duật, Phó Ban đối ngoại Hội Nhà văn Việt Nam, Tổng biên tập Tạp chí Diễn đàn Văn nghệ đã tháp tùng đoàn nhà văn bạn từ Hà Nội tới Huế.