Tạm biệt Huế với anh, giờ vĩnh biệt

16:23 25/05/2009
NGUYỄN TRỌNG TẠOLTS: Nhà thơ Thu Bồn có nhiều duyên nợ với Huế, với Sông Hương. 20 năm trước, trong dịp TCSH ra đời, anh có mặt ở Huế và viết bài thơ “Tạm biệt” - một trong ít ỏi những bài thơ hay nhất về Huế, 20 năm sau, cũng vào dịp TCSH kỷ niệm tròn 20 tuổi thì anh lại ra đi, ra đi trong lời vĩnh biệt!Thương tiếc nhà thơ tài hoa Thu Bồn, Sông Hương xin trân trọng giới thiệu một vài kỷ niệm vaì tình cảm của bạn bè, đồng nghiệp dành cho anh.                                                                TCSH

Nhà thơ Thu Bồn

1. Mùa lụt 1983 tôi ghé Huế, tình cờ gặp nhà thơ Thu Bồn đang uống rượu ở nhà Nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường. Anh đang sướng vì câu nói ngây thơ và rất nên thơ của bé Hoàng Dạ Thi: "Huế vừa đi vừa tím”. Thu Bồn thú nhận rằng, anh đã đến Huế nhiều lần, và cũng bị ám ảnh về "Huế tím", nhưng không thể nào hình dung ra được "Huế vừa đi vừa tím" rất xuất thần như vậy. Anh bảo, thơ ca lạ lùng nhất phát ra từ cặp mắt và tâm hồn trẻ thơ, và khen Hoàng Dạ Thi là một "thi sĩ đại tài thiên bẩm". Khi rượu đã ngấm men, tình càng thúc gọi, anh rủ tôi đi bộ qua cầu Gia Hội sang Chi Lăng thăm cô gái anh mới quen, cô Châu. Cô Châu mắt to, mũi cao, da ngăm, có dáng thể thao khoẻ mạnh, vui vẻ đón chúng tôi. Ngồi uống nước trước bàn thờ còn đọng ngấn nước sau trận lụt mới vừa lui, Thu Bồn bảo chính ngấn nước ngập bàn thờ ấy đã "xui" anh viết được bài thơ về lụt Huế, rồi anh đọc rất xúc động bài thơ ấy. Tôi nhớ có câu thật ấn tượng: "Một phen cóc nhái nhảy lên bàn thờ". Nhưng có lẽ bài thơ hay nhất anh viết về Huế lại là bài "Tạm biệt" anh viết sau đó mấy hôm.

            Bởi vì em dắt anh lên thăm ngôi đền cổ
            Chén ngọc giờ chìm dưới đáy sông sâu


Anh thổ lộ với tôi, em trong bài thơ là một cô gái có thật. Tôi đoán cô Châu. Anh cười hiền.
Người yêu thơ ở Huế không ai không thuộc bài thơ này. Bài thơ có hai câu rất xuất thần về Huế - sông Hương:

            Con sông dùng dằng con sông không chảy
            Sông chảy vào lòng nên Huế rất sâu


Sau này anh tục huyền với nghệ sĩ Lý Bạch Huệ, trong các cuộc rượu với Thu Bồn, anh em Huế thường đùa anh, đọc trệch chữ Huế thành ra Huệ bằng giọng Huế rất dễ thương: "Sông chảy vào lòng nên Huệ rất sâu". Đến hai câu kết bài thơ "Tạm biệt Huế với chiếc hôn thầm lặng - Anh trở về hoá đá phía bên kia", anh em lại đùa anh: "Anh trở về hoá đá ở trong bia". Đá ở đây là nước đá và bia ở đây là bia anh vẫn hay uống, chứ không phải là "trăm năm bia đá thì mòn". Điều đó chứng tỏ bài thơ "Tạm biệt" của Thu Bồn đã trở thành bài thơ ngôn truyền hết sức độc đáo.

Có một điều thú vị là khi đưa in bài thơ này, có một chữ đã được thay đổi so với "bản gốc" mà tôi được nghe anh đọc lần đầu ở câu: "Tạm biệt Huế với em là vĩnh biệt", thành ra "Tạm biệt Huế với em là tiễn biệt". Tôi nghĩ rằng, trong trực giác, Thu Bồn đã biết trước một tình yêu không thành và anh đã gieo vào lòng mình hai chữ "vĩnh biệt", nhưng hình như nói thế sợ xui xẻo, nên anh đã đổi thành tiễn biệt, nó đẹp và còn mang theo chút hy vọng trở lại với "Em", với Huế. Bây giờ bài thơ đã tròn 20 tuổi, và Thu Bồn đã mãi mãi vĩnh biệt Em, vĩnh biệt Huế, vĩnh biệt thế gian này, hai từ vĩnh biệt trong bản gốc bài thơ anh viết bỗng cứ ám ảnh trở lại trong tôi. Và tôi bỗng nhớ cô Châu mắt to, mũi cao... Mười năm trước tôi gặp cô bán hàng áo quần thùng cạnh đường Lê Lai thành phố Hồ Chí Minh, bây giờ Châu đang ở đâu? Bây giờ chắc cô còn nhớ câu thơ đẹp trong bài thơ "Tạm biệt" của Thu Bồn:

            Nón rất Huế mà đời không phải thế
            Mặt trời lên từ phía nón em nghiêng


Không biết hôm đưa Thu Bồn đi thăm thú Huế, cô Châu có đội nón bài thơ Huế không nhỉ? Hay đấy chỉ là một ấn tượng chung về những chiếc nón bài thơ xứ Huế đã nhập vào thơ anh?...

2. Năm 1985 vào ngày đổi tiền, tôi và Thu Bồn lang thang trên đường phố Hà Nội, không đồng xu dính túi, mà lại thèm ngồi nhâm nhi chén rượu với nhau. Thu Bồn tháo đồng hồ tay và lấy chiếc mũ cối bộ đội của tôi đi bán cho con phe để lấy tiền uống rượu, nhưng con phe cũng từ chối. Anh quyết định "đẩy" chiếc xe máy Vec-pa, nhưng người hẹn mua không tới. Liền rủ tôi đến nhà văn Ngô Thảo xúc mấy ký gạo ra chợ Âm Phủ đổi lấy rượu và thịt chó. Thế là bạn bè kéo đến uống rượu, đọc thơ. Tối hôm ấy, tôi và Thu Bồn ngủ trên sân thượng nhà Nguyễn Thuỵ Kha (cùng ngõ với Ngô Thảo). Ngủ trên sân thượng thật mát mẻ, phóng khoáng, nhưng quá nửa đêm trời đổ mưa. Sợ phiền vợ chồng Kha, tôi và anh cuốn chiếu xuống hành lang cạnh cầu thang ngủ tiếp. Nào ngờ cản đường chuột chạy. Một con chuột cống đã cắn vào trán Thu Bồn, toé máu. Sáng ra, vợ Kha hốt hoảng, tìm bông băng băng lại vết thương cho anh. Ngô Thảo thương quá, tổ chức một tiệc rượu để "chia buồn" với thi sĩ bị chuột cắn. Cuộc rượu toàn những nhà thơ nhà văn lính. Bỗng có hai cô gái Hà Nội rất xinh dến thăm "thương binh", họ ào vào ngồi hai bên tả hữu Thu Bồn mà... rót rượu. Nhà nghiên cứu phê bình Đào Thái Tôn xuất hiện, đòi ngồi cạnh Thu Bồn để "nghiên cứu" vết thương trên trán anh, nhưng hai cô gái quyết cố thủ. Họ Đào thất thế, bỗng xuất thần đọc câu thơ sáu chữ trả miếng hai cô gái:

            Anh ngon đến chuột cũng thèm!

Câu thơ xuất thần bất ngờ được vỗ tay tán thưởng, khiến hai cô đỏ mặt, vội nhường chỗ cho họ Đào ngồi bên Thu Bồn để "nghiên cứu" vết thương và rượu làng Vân.

Sau hôm đó tôi làm bài thơ "Những nhà thơ lính" đề tặng Thu Bồn, có hai câu kết:

            Không phải khách ăn theo không phải thợ gặt giùm
            Những nhà thơ qua máu lửa chiến trường!


3. Vâng! Thu Bồn là một nhà thơ lính thực thụ. Anh tên thật là Hà Đức Trọng, sinh ngày 1-12-1935 tại Quảng Nam, nơi có con sông Thu Bồn cát trắng dâu xanh mà anh lấy làm bút danh để tạ ơn quê hương mình. Anh gia nhập quân đội cuối cuộc kháng chiến chống Pháp sau vài năm đi dạy học, và trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, anh bám trụ ở chiến trường Trung Trung Bộ cho đến ngày đất nước thống nhất mới về làm biên tập ở tạp chí Văn nghệ Quân đội. Anh là nhà thơ rất nổi tiếng với tập trường ca Bài ca chim Chrao (1964) được trích giảng trong sách giáo khoa, đoạt giải thưởng Hoa Sen của hiệp hội nhà văn Á - Phi và giải thưởng văn học Nguyễn Đình Chiểu. Anh đã xuất bản nhiều tập thơ, đặc biệt là đã in hàng loạt trường ca dài hơi như Cămpuchia hy vọng, Bazan khát, Oran 76 ngọn, v.v... đồng thời anh cũng là một nhà văn xuôi sung bút với nhiều tập tiểu thuyết viết về chiến tranh và cách mạng như Chớp trắng, Dưới đám mây màu cánh vạc, Xa cảng miền Tây, Đỉnh núi, v.v... Thơ văn anh có thể ví với dòng sông đầy ghềnh thác, cuộn xiết và réo gọi. Tâm hồn anh luôn khoẻ mạnh, vạm vỡ. Anh là một người khai phá trên các ngọn núi đời sông, cày xới tung lên cả đất tốt và đất sỏi bạc màu. Đất tốt và đất xấu anh đều gieo hạt văn thơ và gặt hái bội thu sau những mùa gieo vãi. Ngòi bút anh găm sâu vào những đề tài mang tính anh hùng ca, nhưng cũng chan hoà máu lệ trong những bi thương, đau khổ của kiếp người. Có lúc nghe anh ngâm thơ mà tưởng như anh đang khóc:

            Lấy khăn mà gói bơ vơ
            Tay cầm nước mắt sững sờ chiêm bao

Có khi lại thấy anh như một kẻ đa tình tài hoa:

            Thôi đừng cong nữa làn mi
            Trời sinh con mắt khỏi đi đường vòng

Trong một bài thơ tự họa tặng tạp chí Cửa Việt viết năm 1990, Thu Bồn tự nhận mình là "Con Xà Mâu tội nghiệp":

            Lấy xó tối cạnh nhà làm tổ ấm. Ta cẩn thận vòng quanh để bước vào giấc ngủ mà không bao giờ ngủ. Con ruồi lượn trước mắt ta, con kiến cắn bụng ta, con bọ chó chui vào mũi ta, con mèo đến giỡn cấu giấc ngủ ta.
            ...Ta là con Xà Mâu... làm sống giấc ngủ ngon của bao người chủ mới.
            ...Ta là con Xà Mâu xếp hạng cùng phường chó hoang, chó chạy rong, chó ghẻ, chó điên, chó ngộ... là mục tiêu cho những chiếc dây thừng... Những tay săn tha hồ bắn tỉa, ném vòng chịt tiếng sủa ta từ trong cổ họng - tiếng sủa trung thành trở thành phản phúc - con Xà Mâu bị mai phục giữa hai làn đạn chéo súng cực nhanh.
            ...Hãy cất giấu tiếng tru vào bức vách trời xanh, ta nằm nghiêng trên bờ biển đông trên đầu muôn ngọn núi khoả sóng lân tinh với trăng sao...


Đấy là bài thơ Thu Bồn viết vào thời kỳ đổi mới, ngẫm ngợi về con người mình, con người tự nguyện hiến dâng cho sự nghiệp, nhưng cũng là sự chia sẻ tận đáy lòng với những con người tận trung, tận hiếu. Tôi còn nhớ khi chúng tôi đưa in bài thơ này của anh trên tạp chí Cửa Việt, anh đã cảm động rơi nước mắt. Quả thật như vậy, Thu Bồn là một nhà thơ quân đội, không màng chức tước, bổng lộc. Anh sống thật với mọi người, ngang tàng, khí phách và thật giàu tình cảm. Cả đời anh xả vào thơ văn, ộc vào thơ văn và thăng hoa vào thơ văn. Nhờ thế mà thơ văn anh cuồn cuộn, bay bổng và khoan sâu vào tâm thức yêu nước yêu người...

4. Người ta thường tiếu lâm về cái tính tằn tiện của người khu Năm, nhưng với Thu Bồn thì khác. Có tiền là anh nghĩ đến việc tổ chức cuộc vui cho bạn bè. Hồi tôi còn ở Huế, Thu Bồn vào sống ở Sài Gòn, một dịp đi qua Huế, anh đưa một xe bạn bè vào nhà tôi và tuyên bố với vợ tôi là sẽ bày cuộc nhậu tại đây. Vợ tôi đang lúng túng vì tôi đang vắng nhà, anh bảo vợ tôi vào bếp nổi lửa lên, còn anh thì mang vào một lồng gà và mấy ký thịt bò mua dọc đường. Và Thu Bồn xắn tay lên làm bếp. Khi tôi về thì đã thấy một bữa tiệc linh đình bày ra trên sàn nhà lát gạch. Anh bảo tôi gọi bạn bè Huế đến nhậu. Nhậu xong, anh mang chiếc cát-sét ra bật nhạc lên và... nhảy. Thu Bồn thích nhảy những điệu nhảy Mỹ-Latinh, khiến cả căn phòng nhộn nhịp như một vũ trường.

Năm 1998, tôi từ Hà Nội vào Đà Nẵng dự hội nghị văn học miền Trung, ở cùng phòng với Thu Bồn. Tôi kiểm tra ví của anh. Anh bảo: "Thu Bồn giờ túi hết tiền, bút hết mực, súng hết đạn rồi. Buồn lắm!". Tôi thấy thương anh quá, đưa anh ít tiền tiêu vặt. Sáng hôm sau, tôi cùng Thanh Thảo, Nguyễn Thụy Kha đến thăm một tổng biên tập báo, được nhận một số tiền đặt viết bài. Chúng tôi gom lại đưa cho Thu Bồn. Anh cảm động lắm. Nhưng tối hôm đó, anh đã dùng tất cả số tiền ấy mua một chai rượu Tây loại xịn mở ra mời mọi người cùng uống. Tôi trách anh. Anh nói nhỏ nhẹ với tôi: "Tao thấy chúng nó thèm rượu quá mà chẳng đứa nào chịu chi. Hình như chúng nó cũng chẳng có tiền đâu Tạo ạ".

Lại nhớ một lần vào Sài Gòn, tôi rủ Thu Bồn đến quán bia 81 Trần Đức Thảo, nơi anh em văn nghệ vẫn thường lui tới. Tôi gọi một can bia hơi, Thu Bồn ngăn lại. Anh bảo chỉ gọi hai ly và một đĩa đậu phộng thôi. Tôi ngạc nhiên. Anh bảo: "Ta chỉ gọi cò mồi thôi. Lát nữa chúng nó tới, không đủ sức mà nhậu đâu". Quả đúng như vậy, một lát sau anh em văn nghệ tới, người gọi bia, kẻ gọi đồ nhậu cứ tưng bừng như nhà có đám. Trịnh Công Sơn vừa gọi 10 lon bia Ken ứng với số tiền trong túi, thì Trần Tiến đã gọi một thùng đặt vào bàn rồi cáo lui vì có việc bận. Không biết trong cuộc nhậu, Thu Bồn đã hò hẹn thế nào mà tối hôm đó tại nhà Thu Bồn ở số 6 Đặng Thái Thân tụ hội gần 20 người bạn. Bữa tiệc ấy do anh làm đầu bếp cùng với mấy chị rất xinh đẹp đều là vợ của bạn anh. Lại đọc thơ, lại hát. Tôi còn nhớ, Trịnh Công Sơn khen bộ bàn ghế bằng gốc dừa của Thu Bồn thật dễ thương. Thế là sáng hôm sau anh thuê xe chở cả bộ bàn ghế ấy đến nhà họ Trịnh tặng bạn...

5. Có lẽ nhiều người phái đẹp yêu anh không chỉ vì anh là một thi tài nổi tiếng, mà còn vì lối sống rất đàn ông "quân tử" của anh. Tôi không biết nhiều về những người phụ nữ yêu anh hay được anh yêu, nhưng thú thật là tôi có biết. Bây giờ anh vừa nằm xuống mà kể ra, e mình bị coi là người đưa chuyện. Nhưng phải nói thật rằng, tình yêu của anh nói chung là rất đáng yêu. Có lần, anh nhờ tôi đến Viện Ngôn ngữ đưa thư cho một người con gái, hẹn cô đến nhà bạn dự tiệc. Lúc ấy tôi mới thấy một cô gái Hà Nội đẹp đến thế, có thể nói là "nghiêng nước nghiêng thành". Cô tỏ ra mừng rỡ khi nhận được thư mời của Thu Bồn. Và cô nhận lời ngay, không hề phải giả vờ kiểu cách. Còn Thu Bồn thì cứ đi ra đi vào ở ngõ nhà bạn lóng nga lóng ngóng như một kẻ si tình. Nghe nói người yêu cũ của Thu Bồn rủ bạn gái đến nhà cô gái ấy đánh ghen. Cô bạn vào nhà "thám thính” xong, chạy ra nói với người yêu cũ của anh: "Nó đẹp như thế thì mày đánh ghen làm gì. Thôi, về đi".

Tôi có hỏi Thu Bồn, tại sao anh lại thay người yêu như thay áo vậy? Anh bảo: "Thu Bồn thích một tình yêu tự do, mà tìm mãi chưa gặp được". Có lẽ vì thế mà đôi lúc, anh biến tình yêu thành một trò đùa kỳ quái. Đó là lần anh tổ chức một cuộc tiệc gặp gỡ bạn hữu tại Văn nghệ Quân đội. Vừa nâng ly lên, anh tuyên bố giọng rất nghiêm trọng (cũng là một cách đùa của Thu Bồn): "Hôm nay là đám cưới của hai chúng tôi - anh chỉ vào một người phụ nữ xinh đẹp đã có chồng - Xin mời thầy Hiến nói lời chấp thuận cho!". Giáo sư Hoàng Ngọc Hiến bị "bỏ bom" bất ngờ, nhưng thật hóm hỉnh, ông nói: "Hôm nay thầy chúc cho hai con tự do". Ai cũng biết đấy là đùa, là vui. Vậy mà hôm sau đã có lời đồn đại: Nhà thơ Thu Bồn vừa cưới vợ! Quả là chuyện yêu đương của Thu Bồn chẳng khác gì huyền thoại thời hiện đại...

6. Từ khi có Lý Bạch Huệ, Thu Bồn vẫn rong chơi lãng tử, nhưng chỉ khác là trong các cuộc vui gần nhà hay xa nhà, hai người cứ dính vào nhau như hình với bóng. Lý Bạch Huệ là một nghệ sĩ nổi tiếng, và khi đã chấp nhận Thu Bồn thì không quản rong chơi. Và làm nữa. Có lúc cả hai người phải đi "rao bán" lịch để sống. "Rao bán" lịch mà "trúng" thì vui lắm. Những ngày tháng này, Thu Bồn như khoẻ hơn. Anh vác đá vác đất đắp nền dựng nhà ở Suối Lồ Ồ, cạnh một cái chùa. Mấy nghìn mét đất bên chùa trở thành nhà cửa đúng "gu" Thu Bồn. Nhà xây và nhà tre nứa. Chất đầy tranh tượng phong cách Tây Nguyên. Và chum choé, vò lớn vò bé. Trang trí cung tên, súng săn, đầu trâu, đầu ngựa, sừng hươu sừng nai. Cứ như một bảo tàng nghệ thuật dân tộc học. Cổng to, sân rộng, có thể đậu hàng chục ô tô bạn bè đến thăm viếng vui chơi...

Bỗng Thu Bồn bị tai biến mạch máu não. Tuổi sáu lăm đang phong độ bỗng sụp xuống như một con voi ngã bệnh. Đủ các loại thầy thuốc xắn tay cứu chữa. Cuối năm 2001, tôi và Nguyễn Thụy Kha vào thăm mộ Trịnh Công Sơn ở chùa Quảng Bình nghĩa trang Gò Dưa, ghé suối Lồ Ồ thăm Thu Bồn. Chúng tôi đến sau 1 giờ gọi điện thoại. Ô tô vừa đến cổng đã thấy Thu Bồn đứng giữa sân dang hai tay lên trời như muốn ôm chầm lấy cả chiếc ô tô. Nguyễn Đình Toán nhảy khỏi xe chụp ảnh lia lịa về cuộc gặp gỡ này. Thu Bồn đưa chúng tôi đi thăm khắp vườn, lên nhà trên, xuống nhà dưới, vào tận phòng ngủ của hai người. Trên đầu giường vẫn để một khẩu súng ngắn và mấy viên đạn đồng vàng sẫm. Thu Bồn nói rằng, anh chưa bao giờ rời khẩu súng này. Để làm gì. Để nhớ lính, và để ngừa kẻ trộm. Nhưng kẻ trộm đã lẻn vào khuân đi khá nhiều tranh tượng quí giá của anh. Biết chúng tôi đến, nhưng Lý Bạch Huệ không kịp về. Chị đang mải đi tặng thơ, bán thơ Thu Bồn vừa xuất bản tận trên Biên Hoà.

Thu Bồn lấy một bình rượu quí bảo tôi rót mời mọi người nâng ly. Thu Bồn cũng nâng ly, nhưng anh chỉ nhấp môi chứ không dám uống. Bệnh tật đã cướp đi của anh cái thú vui mãn tính. Thu Bồn nhìn chúng tôi uống rượu, chợt cười buồn...

Xe chúng tôi rời cổng nhà anh, anh vẫn đứng giữa sân dạng hai tay lên trời. Mái tóc bạc trắng bay tung trong gió. Nụ cười sáng giữa lởm chởm râu bạc.

7. 17 tháng 6-2003, tôi về Huế dự lễ kỷ niệm 20 năm Tạp chí Sông Hương. Đêm thơ Sông Hương người ta ngâm thật hay bài thơ "Tạm biệt" của Thu Bồn khi biết tin anh đang hôn mê. Sáng hôm sau, đọc báo đã thấy tin anh qua đời, tôi lại nhớ những dòng thơ tự họa "Con Xà Mâu tội nghiệp":

Ánh sáng róc rách, ánh sáng xoa bóp, ánh sáng vỗ về, ánh sáng râm ran mạch máu, ánh sáng tuỷ năng, ánh sáng hồng cầu, ánh sáng đại não, ánh sáng thần kinh - Ánh sáng là Em. Khối ánh trăng đã đọng thành da thịt, thành vai em, ngực em, đùi em, noãn sào (buồng trứng)... cả hằng hà sa số đợi chờ anh.

Vâng! Thu Bồn đã nhập vào ánh sáng, nhập vào vũ trụ. Anh nhập vào phía nam, anh hoà vào phía bắc, anh bay về trong dâu xanh cát trắng nước trong của dòng sông quê mẹ hay trên những ngôi đền cổ xứ Cố Đô... Câu thơ của hai mươi năm trước anh viết khi xa Huế, giờ đã trở thành định mệnh của đời anh:

            Tạm biệt Huế với em là vĩnh biệt
            Vĩnh biệt anh, Thu Bồn - Hà Đức Trọng!

Huế 19 - 6 - 2003
N.T.T
(173/07-03)

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • Vậy là tròn một năm kể từ sớm đông ấy Nguyễn Xuân Hoàng giã biệt cõi trần khi Huế còn chìm trong sương giá. Chỉ vỏn vẹn 99 ngày gắn bó, nhưng anh là nỗi ray rứt giữa lúc Sông Hương đang ẩn hình những ngọn sóng... Lật giở hơn ngàn trang bản thảo của anh, mấy ai không giật mình trước sự cay cực đến xót xa để có được một đời văn bình dị?Giỗ đầu, bạn bè và đồng nghiệp Xuân Hoàng đã cùng với Sông Hương thắp lên nén nhang tri ngộ...(Nguyễn Khắc Thạch - Lê Văn Chương - Hoàng Diệp Lạc - T. E - Nguyễn Trương Khánh Thi - Đinh Thu - Ngàn Thương - Trần Hạ Tháp - Nhất Lâm)

  • NGÔ MINHTrong những bài viết trước, chúng tôi đã hé lộ đôi chút về những mối tình sau này của Phùng Quán. Lần này lại một mối tình nữa, mà hình như là mối tình đầu ly kỳ hơn đã được Phùng Quán tự kể và chị Bội Trâm phát hiện ra.

  • HOÀNG VŨ THUẬT           Chưa ai để ý đến đâu           Cây đứng khép mình lặng lẽ...                                        (Cây lặng im)

  • NGUYỄN KHẮC PHÊMột chiều Xuân bên sông Hương. Mặt trời suốt ngày ẩn sau lớp mây xám nhạt nay đã khuất hẳn dưới dãy Kim Phụng xanh thẫm nhấp nhô đằng xa ở bên kia bờ. Một chiếc thuyền từ phía Ngã Ba Tuần hối hả xuôi dòng, tiếng máy nổ khuấy động giây lát mặt sông phẳng lặng trong màn sương chiều mờ ảo bắt đầu buông xuống.

  • NGÔ MINHMỗi nhà văn có một “gu” ẩm thực riêng, không lẫn. Vũ Bằng, Nguyễn Tuân sinh ra và lớn lên ở Hà Nội, nên rất sành ăn và viết rất hay về các món ăn tinh tế và đài các của Thủ Đô. Nhà văn Phùng Quán cũng có một cá tính ẩm thực rất đặc biệt.

  • TRỊNH THANH SƠN  A. Anh là hoạ sĩ, Nghệ sĩ ưu tú của ngành sân khấu, lại còn là một nhà thơ, nhà viết kịch, nhà báo xông xáo... Ngần ấy công việc anh sắp xếp bố trí theo thời gian như thế nào và anh dành quyết tâm cho việc nào hơn cả?

  • XUÂN ĐÀI(Trích ký sự)Trong gần mấy trăm vòng hoa viếng Phùng Quán, có một vòng hoa rất đặc biệt. Đó là vòng hoa của "những người câu cá trộm" cư ngụ ở những làng dọc đê Yên Phụ, chủ yếu là làng Nghi Tàm, xã Quảng An, Hà Nội. Kèm theo vòng hoa là một phong bì phúng điếu mà số tiền gấp đôi tiền phúng điếu của cơ quan Hội Nhà văn Việt .

  • NGUYỄN TRỌNG HUẤN(Mười năm Kỷ niệm... Một cuộc rong chơi)Trong quan hệ bè bạn lâu năm, có lẽ chưa lần nào chúng tôi có với nhau một cuộc rong chơi đã đời và thú vị như lần ấy. Mà hình như đấy là cuộc đi cuối cùng của Quán trong cõi đời này. Còn những cuộc du hí tiếp theo ở thế giới bên kia với những ai thì cho đến bây giờ tôi cũng không được rõ lắm.

  • NGUYỄN KHẮC PHÊTrong câu chuyện vui của giới văn nghệ sĩ trước những công việc có tính chất tổng kết, phân loại đội ngũ, một số người được anh em phong tặng danh hiệu “nhà-thơ-một-bài”, “nhạc-sĩ-một-bài”...

  • LTS: Do đặc trưng nghề nghiệp nên mỗi nhà văn đều có thiên chức một nhà giáo. Bởi vậy, những người vừa là nhà giáo vừa là nhà văn thì đều có thể gọi họ là những nhà giáo kép.Nhân ngày nhà giáo Việt Nam, Sông Hương trân trọng giới thiệu một số ý kiến của các nhà giáo "kép" ở Huế nói về cái nghiệp dĩ riêng mang tính xã hội cao của họ.

  • HỒ THẾ HÀTrại sáng tác Văn học nghệ thuật năm 2002 do Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Thừa Thiên Huế và Hội Nhà văn Thừa Thiên Huế tổ chức từ ngày 27 - 8 - 2002 đến ngày 6 - 9 - 2002 đã thành công và để lại những trang viết giàu ấn tượng về cuộc sống và con người, đặc biệt là cuộc sống và con người Phú Thuận, Phú Vang - vùng quê có nhiều truyền thống và tiềm năng văn hoá vật chất và phi vật chất vừa trải qua một nỗi đau lớn do thiên tai gây ra.

  • ĐẶNG NHẬT MINHNhững ngày đầu tiên khi bước chân vào con đường sáng tác điện ảnh tôi đã may mắn có nhà văn Hoàng phủ Ngọc Tường ở bên cạnh.

  • TRẦN HUY THANHTừ ngày 1 đến 15/7/2002, được sự giúp đỡ của Bộ Văn hoá Thông tin, Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật tỉnh Thừa Thiên Huế đã cử đoàn văn nghệ sĩ đi dự trại sáng tác văn học nghệ thuật tại Nhà sáng tác Vũng Tàu.

  • NGUYỄN KHẮC PHÊBạn đọc cả nước - nhất là những ai quan tâm đến lịch sử và tiểu thuyết lịch sử - hẳn đã biết Nguyễn Mộng Giác là tác giả bộ tiểu thuyết trường thiên “Sông Côn mùa lũ” (SCML) 4 tập, 2000 trang viết về thời Tây Sơn-Nguyễn Huệ (NXB Văn học-Trung tâm Nghiên cứu Quốc học xuất bản năm 1998).

  • "Những bức tranh sơn thủy đầu tiên đã chiêu đãi chúng tôi quýt cam và bánh mỳTrưa no nê nhìn phố xá trăm màu.Tối tìm chỗ ngủ lang thang nhớ mẹ".

  • Sau ngày thất thủ Kinh đô (Huế), vua Hàm Nghi xuất bôn hạ chiếu Cần Vương kêu gọi toàn dân đứng lên chống Pháp. Sau ba năm chiến đấu ở rừng sâu, vua Hàm Nghi bị Trương Quang Ngọc làm phản bắt vua nộp cho Pháp. Để cách ly ngọn cờ yêu nước với quốc dân Việt Nam, cuối năm 1888, thực dân Pháp đã lưu đày vua Hàm Nghi qua Algérie thuộc Pháp. Không hy vọng có ngày được trở lại Việt Nam, nên vua Hàm Nghi đã lập gia đình tại Algérie rồi 40 năm sau ông mất ở đó.

  • NGUYỄN XUÂN HOÀNGPhương mất đột ngột ở Quảng Trị. Nghe tin anh ra đi, bạn bè văn nghệ Huế không bàng hoàng, cũng không cảm thấy sửng sốt. Chỉ thấy lòng bùi ngùi, như khi ta nhìn thấy một ngôi sao chưa bao giờ sáng bỗng một ngày tắt lịm trong lặng lẽ.

  • LTS: Phan Đăng Lưu là một nhà cách mạng tiền bối, tiêu biểu của Đảng từng hoạt động ở Huế và có ảnh hưởng lớn đến trí thức văn nghệ sĩ yêu nước thời bấy giờ. Chính nhà thơ Tố Hữu cũng đã thổ lộ điều đó trong bài thơ Quê me (Anh Lưu anh Diểu dạy con đi).Nhân 100 năm ngày sinh Phan Đăng Lưu (5.5.1902 – 5.5.2002), Sông Hương xin trân trọng giới thiệu một số tư liệu về đồng chí, đặc biệt là bức Thư viết từ khám tử hình – bức thư mang đặc trưng "đa nghĩa" của một tác phẩm văn học nên nó đã vượt qua được sự kiểm duyệt khắt khe của kẻ thù.

  • PHÙNG QUÁN... Vì vậy mà có sự rung động bí mật của ý nghĩ, khiến nhà bác học trở thành người thần bí, và thi sĩ thành đấng tiên tri.                                                    (Victor Hugo - Lao động biển cả).

  • NGUYỄN QUANG HÀRa Hà Nội mùa thu này tôi muốn đến thăm anh Lê Khả Phiêu. Những ngày anh đương chức, đến, người ta nghĩ mình cơ hội. Nhưng nay anh đã nghỉ, đến thăm là nghĩa tình đời. Lòng mong muốn ấy của tôi, được anh chấp nhận và hẹn giờ gặp.