NGUYÊN QUÂN
Đôi khi trong sự trầm lặng tĩnh mịch thường hằng, và những con người quen sống với sự tĩnh lặng ấy thường vô tình không nhận thấy những sự thay đổi chung quanh vì nó cũng âm thầm không xôn xao ầm ĩ.
Quang cảnh nhà dân sống quanh Kinh thành Huế trước khi di dời - Ảnh: vov
Tôi cũng không ngoại lệ dù mỗi ngày vẫn đi qua, vẫn sinh hoạt loanh quanh khu vực Nội thành của xứ sở vốn nổi danh trầm lắng như thơ, nhưng bận bịu bao nhiêu công việc mưu sinh nên cũng ít quan tâm đến sự di biến ít liên quan đến bản thân mình. Bất chợt sáng nay có người bạn ở xa về, sau một hồi rủ nhau ra quán cà phê tán gẫu ở con đường được dân Huế gọi là đường phượng bay, ông bạn lại muốn tôi thồ đi thăm lại nơi anh ta từng trú trọ trước kia. Trong trí nhớ của tôi, nhà ông bạn này ở một khu vực khá phức tạp, nhiều tay anh chị xăm mình có số má, mà mỗi lần tôi đến nhà chơi đều rón rén rụt rè giữa không gian chật hẹp đầy mùi mồ hôi, mùi gia cầm, rác thải, còn sợ va nhằm ai đó trong những con hẻm chật khư và những đôi mắt lầm lỳ vẩn đục.
Để bây giờ... Đứng ở đây, dựa lưng vào lâu thành Thượng Tứ phong rêu, tôi thật sự ngạc nhiên trước sự thay đổi đến không thể tin, đang trải dài trong tầm mắt. Trên bức tường thành tồn tại hàng trăm năm qua bao nhiêu dâu bể biến thiên, chiến tranh loạn lạc là một khoảng trống bao la, không còn bị dồn ứ những căn nhà, những mái lều chùm đụp chắp vá đủ loại vật liệu từng bám víu nhếch nhác trên bề mặt bức thành dày non chục mét. Thay vào đó là vết tích đập phá, hạ giải. Người bạn hình như ít ngạc nhiên về sự thay đổi lạ lẫm hơn tôi, có vẻ biết rành rẽ chuyện về những căn nhà đã và đang được giải tỏa để phục nguyên chân diện Kinh thành Huế. Xét cho cùng điều anh bạn ở xa về biết rành mạch hơn kẻ vẫn hàng ngày đi qua đi lại, cũng là chuyện đương nhiên, bởi trong thẳm sâu của chiếc hộp ký ức, luôn là sự lưu giữ tốt nhất và toàn vẹn nhất những tâm tư khắc khoải về một nơi chốn đầy vui buồn của tuổi thơ.
Anh bạn tôi có một tuổi thơ tạm gọi là dữ dội. Anh nhớ từng chút một về từng góc từng xó trên bức tường thành cổ, nhớ dấu tích đạn băm loang lổ phía bên ngoài tường thành, vô tình trở thành một loại thang mạo hiểm cho lũ trẻ con chơi trò thách đố trèo lên trụt xuống độ cao non chục mét để chơi đùa, câu cá thia đá trên bãi cỏ hoang bên bờ Hộ Thành hào. Ngoài những kỷ niệm ấy, chắc chắn anh bạn tôi thường xuyên giữ mối liên hệ với người thân kẻ quen còn sinh sống nơi đây. Nên mỗi đổi thay, biến động, dù ở rất xa anh vẫn hiểu rõ mồn một từng sự thay đổi ấy của quê quán xưa.
Nơi tôi đang đề cập, đang đứng là cuối đoạn tường lũy phía nam của Kinh thành Huế. Trên suốt chiều dài lịch sử Việt, qua nhiều vương triều chấp chính, đã có nhiều vùng đất thủ phủ. Và Kinh thành Huế thật sự là một kinh đô chính thức của đất nước Việt Nam thống nhất toàn vẹn lãnh thổ từ Bắc đến Nam. Kinh đô Huế cũng là một vùng cố đô còn tồn tại nguyên bản những công trình kiến trúc vương triều, bởi nhà Nguyễn là đế chế phong kiến cuối cùng của người Việt, dù đã trải qua mấy trăm năm thăng trầm biến động. Sự tồn tại các công trình kiến trúc hoa lệ cung đình mang đầy đủ tinh thần mỹ thuật đặc trưng nhà Nguyễn đã được UNESCO đánh giá và công nhận là di sản văn hóa vật thể quý giá của toàn nhân loại.
Là cư dân kỳ cựu trên quê hương bản quán, tôi cũng có nghe nhiều về việc giải tỏa, tái định cư cho hàng ngàn hộ dân sống tạm bợ trên thượng thành; “Dân Thượng Thành” - cái tên gọi chung cho tất cả những ai ngụ cư ở trên hay dựa lưng nó. Sự hình thành của những cụm dân cư này có từ rất lâu nên không mấy ai nhớ rõ. Những người già sống ở đây cũng mù mờ về gốc tích lý do mình ngụ cư tạm bợ bởi qua bao nhiêu giai đoạn lịch sử, họ cũng chỉ được phép sống tạm chứ chưa bao giờ được cấp phép sở hữu đất đai cũng như giấy phép xây dựng. Cũng do nguyên nhân này mà trải qua hàng chục năm vẫn chỉ là những khu xập xệ, nói vậy cũng không quá đáng khi đi sâu vào từng ngõ ngách chùm đụp của các khu vực mà dân Huế vẫn gọi chung một cái tên là dân Thượng Thành hay dân Eo Bầu. Riêng cái địa danh Eo Bầu ở đây không chỉ đặt định cho riêng một địa điểm, như đa số người Huế vẫn lầm tưởng dành cho số dân cư tồn tại ở khu vực trên đường Ông Ích Khiêm từ cửa Thượng Tứ chạy dài xuống giáp ranh với đường Xuân 68, nơi mà người bạn tôi từng cư ngụ. Thật ra ở trong khu vực Nội thành Huế, có khá nhiều khu Eo Bầu. Có lẽ vì hệ thống kiến trúc của Kinh thành Huế có những khoảng đất bằng phẳng để bố trí tác chiến cho các đơn vị lính thủ thành, nằm giữa chân bức thành và con đường chạy men chân bốn phía, như ở đường Xuân 68, Ông Ích Khiêm, Lương Ngọc Quyến, Tôn Thất Thiệp đều có những lõm đất dễ “cắm cọc” ngụ cư như vậy.
Những khoảnh đất trống trải này vô hình trung trở thành nơi quần tụ các cụm cư dân đông đúc đến hàng trăm hộ dân đều được gọi là Eo Bầu. Và họ cũng chỉ là dân ngụ cư bất định trên một vùng đất thuộc về di tích văn hóa lịch sử, chẳng biết lúc nào sẽ bị giải tỏa nên nhà cửa chỉ che chắn bằng các loại vật liệu nhẹ, hay xây cất sơ sài nương tựa vào bức tường thành cổ. Nói vậy chứ cũng có khá nhiều trường hợp ngoại lệ, xen lẫn trong những căn lều tạm bợ là nhiều ngôi nhà được xây dựng khá vững, thường nằm sát đường chính, đa số họ nghĩ mặc nhiên được công nhận là khu dân cư trước khi chính quyền quyết định giải tỏa để trả lại diện mạo Kinh thành.
Trước đây các cấp chính quyền cũng ưu tư tìm phương án di dời số dân sống tạm bợ này, nhưng điều kiện để tái định cư cho hàng ngàn hộ dân luôn là vấn đề nan giải. Mặc dù những năm gần đây bằng rất nhiều nỗ lực, chính quyền đã giải tỏa, tái định cư thành công nhiều khu vực cần được di dời. Một đời sống không an cư thì khó lòng lập nghiệp nên cư dân sống tạm trên mặt tường thành đa số là người lao động phổ thông; vì thời gian dài hàng mấy chục năm cũng sinh sôi nẩy nở nhiều thế hệ nên đa số trong một ngôi nhà, căn lều cứ một hộ chính lại kèm theo các hộ phụ. Việc giải tỏa, cấp đất tái định cư theo lý thông thường thì đúng là một công tác tưởng chừng bất khả thi, chứ không đơn giản như cư dân vạn đò trên sông Hương, sông Hàng Bè hay những ngôi nhà bám dọc ven hai bờ sông Ngự Hà, một nhánh sông đào giữa lòng Kinh thành.
Giải tỏa di dời cũng là một loại công tác khó tìm được đồng thuận tuyệt đối giữa người dân và chính quyền, bởi nhu cầu của người dân luôn lớn hơn sự ước định của chính quyền. Sự đòi hỏi mỗi hộ, không kể chính hay phụ đều phải có đất riêng, dù nơi ở cũ một căn nhà nhỏ bé liền lưng vách với các nhà khác, diện tích không nở rộng thêm, nhưng dân số thì có khi đã tăng lên đến 4 hoặc 5 hộ được hợp pháp trên mặt giấy tờ hành chính, đã tách riêng bìa hộ khẩu với hộ chính. Nên không dễ gì tìm ra một quỹ đất đủ điều kiện tái định cư một lần cho người dân, và dù có vận động được đất cũng còn nan giải vấn đề ổn định sinh kế cho hàng vạn người dân phải lìa bỏ nếp sống vốn đã quen với sinh hoạt hàng ngày.
Người dân ngụ cư trên bề mặt bức tường Hoàng thành đa phần là dân lao động tự do, họ mưu sinh bằng đủ thứ nghề chỉ giới hạn trong môi trường quen biết xóm làng, như hàng ăn quán vặt, sữa chữa đồ gia dụng... Bây giờ di chuyển đến một môi trường hoàn toàn khác biệt, thì họ phải cần rất nhiều thời gian công sức để bắt kịp nhịp điệu mưu sinh phù hợp với bản thân và gia đình. Chính vì những khó khăn này mà chính quyền trước đây rất muốn cũng không thể giải tỏa triệt để các cụm dân cư này, mà chỉ cố gắng giải tỏa được một phần nhỏ nằm ngay phía chính Nam trước mặt Đại Nội. Khu vực này đã được giải tỏa triệt để từ trên tường thành ra đến vùng dân cư cũng chen chúc tạm bợ sống men theo dòng Hộ Thành hào, trả lại mặt tiền cho hướng chính nam Đại Nội, một đoạn hào được nạo vét, trồng sen, dựng lại bờ kè đá cổ phục nguyên hầu như trọn vẹn gương mặt hoàng kim lộng lẫy của chốn đế đô xưa.
Trở lại với chuyện giải tỏa triệt để. Vẫn theo sự hiểu biết tường tận của người bạn ở xa về, chính quyền hiện nay đã tìm ra một đáp án cho bài toán rất khó, khi hầu như toàn bộ số cư dân này đồng thuận chương trình giải tỏa một cách nhanh chóng hoan hỷ. Ngọn ngành gốc rễ của sự hoan hỷ kỳ lạ này là sự tự nguyện di dời gần như trăm phần trăm của người dân. Trước những quan tâm khá chu toàn về nhu cầu thiết yếu của dân, chính quyền đã đáp ứng thỏa đáng kế hoạch cấp đất tái định cư, hầu như hộ chính, hộ phụ đều có một mảnh đất nơi định cư mới.
Người dân còn được tạo điều kiện thoải mái, thuận lợi nhiều mặt từ tinh thần hướng nghiệp cho đến vật chất để những người tái định cư có một ngôi nhà, nghề nghiệp phù hợp trên vùng đất mới; một sự hoán đổi hoàn toàn có lợi cho người nằm trong khu vực giải tỏa. Với tâm lý bức bối đã rất nhiều năm phải sống chật chội tạm bợ trên một địa điểm không chủ quyền, không được phép xây dựng, lúc này họ có thể tạo lập cho mình một nơi an cư lạc nghiệp, được tìm thấy cảm giác có chủ quyền kiến trúc, sắp đặt nhà của mình tùy thích. Chính yếu tố tâm lý này là một thứ động lực lớn trong cuộc di dời nhanh chóng, hoan hỷ không dây dưa kiện tụng gì.
Chỉ nghe lời kể một phía thì chưa đủ tin hoàn toàn vào cái cụm từ hoan hỷ của ông bạn ở xa về, tôi đành dành chút thời gian vốn rất bận bịu để nhận lời yêu cầu chở anh ra tới vùng đất định cư mới của khá nhiều người thân quen của anh; nói đúng hơn là tôi tình nguyện vì tò mò nên theo chân ông bạn để mong được tận mắt nhìn và cảm nhận hết sự vui mừng được giải tỏa vốn hiếm họa này. Từ khu vực cư trú cũ, “xóm Eo Bầu Thượng Thành” nay đã thành bình địa, chạy thẳng một mạch trên con đường Đinh Tiên Hoàng ra đến cửa Hậu. Con đường thẳng tắp từ cửa Thượng Tứ “Đông Nam Môn” nối liền cửa Hậu “Chánh Bắc Môn” này cũng mới được khai thông mấy năm gần đây vì từ năm 1885 sau biến cố Thất thủ kinh đô, quân Pháp đã chiếm hẳn khu Mang Cá làm nơi đồn trú nên đã chặn luôn cửa Hậu không cho người dân thông thương. Chỉ nhỉnh hơn mười phút đồng hồ chạy xe, chúng tôi đã đến được nơi cần đến. Đó là vùng đất nông nghiệp Hương Sơ, đã được chính quyền thu hồi, phân lô đất nền, xây dựng hạ tầng đầy đủ tiện nghi của một đô thị hiện đại như đường sá, cầu cống, điện nước... mỗi lô 100m2 cho hộ chính và 70m2 cho mỗi hộ phụ. Thoáng thấy chỗ định cư mới, tôi phải thừa nhận rằng người dân “khu thượng thành” hình như không nghèo lắm. Cái hình như không nghèo đã bộc lộ ra hết ở vùng định cư mới. Cả một vùng đất trước đây là ruộng lúa mênh mông đã biến đổi thành một khu đô thị được quy hoạch rất hiện đại, với đường sá tráng nhựa bóng loáng, có những khoảng công viên cây cối đã lên xanh, xen lẫn với những dãy nhà tầng kiến trúc cầu kỳ rất bề thế sang trọng. Khu đô thị mới toanh, một giấc mơ bất khả thi đã thành hiện thực với người dân vùng giải tỏa, đúng là một đáp án không thể toàn mỹ tuyệt vời hơn cho một bài toán hóc búa mà bao năm qua của các cấp chính quyền Thừa Thiên Huế lao tâm khổ tứ đi tìm.
Sau một lúc đảo quanh, tham quan, anh bạn của tôi cũng tìm ra người quen xóm cũ. Dùng cụm từ hơi ngủng ngẳng này bởi nơi đây cũng toàn người quen ở xóm cũ, có bốc thăm lô khi di dời ra đây, thì cũng chỉ hoán đổi vị trí láng giềng cùng sống chung trên một xóm phố, cũng xúm xít bên nhau bên gánh bánh canh bà B, nồi bún bò bà C, tiệm sửa xe ông K... như đã từng mấy chục năm qua. Nên nói như lời anh bạn thốt lên đầy cảm xúc khi bắt tay hay ôm chầm những người thân quen của anh. Dù đất lạ mà người không lạ.
Thôi thì mặc cho họ vui vẻ hàn huyên kể lể đủ thứ kỷ niệm, chuyện đời sống, tôi chỉ nghe và cố đi tìm ẩn số sự Hoan Hỷ thật sự của dân tái định cư trên từng ánh mắt sáng trưng, tự hào của người lớn trong ngôi nhà hợp pháp chính chủ hay tiếng cười trong trẻo vui vẻ của lũ nhóc hồn nhiên chạy nhảy nô đùa trên sân nhà mình mà không sợ rơi từ trên thành cao xuống. Với những ai chưa từng biết về điều kiện sống của những người trên Thượng Thành, thì những gì tôi vừa cảm nhận, quả là thật bình thường, không đáng gọi là sự hoan hỷ. Chỉ riêng với tôi, người đã quá quen biết mấy xóm Thượng Thành, thì chỉ chừng đó thôi cũng đã vượt xa cái từ hoan hỷ thông thường. Và rồi đây, một vài năm sau nữa, mọi tàn tích hạ giải trên bề mặt Hoàng thành được dọn dẹp, được chỉnh trang trùng phục lại y như nguyên bản, dòng Hộ Thành hào bao quanh kinh thành được khai thông toàn vẹn y như dòng sông Ngự Hà hay ngôi trường đại học thời phong kiến Quốc Tử Giám, Tàng Thư Lâu đều đã được trả về đúng nguyên bản, thì có người dân Huế nào không thấy lòng hoan hỷ.
N.Q
(TCSH46SDB/09-2022)
Tải mã QRCode
PHAN TÂM (Kỷ niệm 240 năm sinh thi hào Nguyễn Du 1765-2005)Tháng Hai 1994:Từ Vinh qua cầu Bến Thủy, rẽ trái độ mười cây nữa, đến xã Xuân Tiên (Tiên Điền), huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh.Khu đất cao ráo ở ngay đầu xã, bên bờ sông Lam, cạnh bến Giang Đình, là khu nhà cũ, khu lưu niệm Nguyễn Du.
LTS: Phát hành tới hàng trăm ngàn bản, Nhật ký Đặng Thuỳ Trâm là cuốn sách duy nhất (có thể nói như vậy) gây được xúc động cho các thế hệ độc giả trong và sau chiến tranh, cho cả hai phía xâm lược và chống xâm lược nhờ tính chân thực của nó.Sông Hương trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc một số trang trong cuốn Nhật ký Đặng Thuỳ Trâm và hai bài viết liên quan đến cuốn sách
NGUYỄN QUANG HÀ Truyện kýHoà thượng Thích Đôn Hậu gọi đại đức Thích Trí Diệm lên phòng riêng:- Ta đang mắc công chuyện không thể xa Huế được trong thời gian này, nên ta cử thầy vào chùa Hải Đức, Nha Trang tham gia cuộc thuyết pháp quan trọng tại đó. Thầy đi được chớ?Đại đức Thích Trí Diệm cúi đầu thưa:- Dạ, được ạ.
VĨNH NGUYÊN Truyện kýSau “vụ” gặp em, tôi băn khoăn lắm lắm. Là bởi trước đó - trước quả rốc-két mà chiếc F4H phóng xuống và em bị thương dưới đùi, em đang chờ tháo dây thuyền ở hốc đá, còn tôi thì giữ lấy ống ti-dô cho nước vào hai cái thùng phuy trên thuyền cho em. Hai chiếc thùng phuy 400 lít nước sắp tràn đầy. Như vậy là quá đủ thời gian cho chúng ta có thể hiểu biết về nhau, tên tuổi, quê hương bản quán.
ĐẶNG VĂN SỞ Ghi chépKhông hiểu sao tôi lại đi tìm anh - anh Nguyễn Đức Thuận - người anh chú bác ruột cùng chung sống dưới một mái nhà với tôi. Tôi chỉ nhớ là hồi đó chồng của cô tôi nằm mơ thấy anh, và bác vào tận Nha Trang để đi tìm anh Mậu, người đồng đội và là người chứng kiến lúc chôn cất anh.
NGUYỄN QUANG HÀMột buổi sáng vợ chồng anh Thảo, chị Ái đang đèo nhau, phóng xe Honda trên đường Nguyễn Trãi, một con đường lớn của thành phố Huế, bỗng có một người lao thẳng vào xe anh Thảo. Nhờ tay lái thiện nghệ, nên anh Thảo đã phanh xe kịp. Hai vợ chồng dựng xe, ra đỡ nạn nhân dậy.
HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNGBút kýAnh đã xứng đáng với danh hiệu "Nghệ sĩ Nhân dân" của nhà nước ta phong tặng. Riêng Hội Nghệ sĩ điện ảnh Nhật Bản đã tặng cho anh giải thưởng vẻ vang dành cho người nghệ sĩ thuật lại sự tích dân tộc mình bằng điện ảnh...
ĐÀO XUÂN QUÝĐã lâu lắm, có đến hơn hai năm, kể từ khi bị tai nạn ở chân tôi chưa đi vào các hiệu sách, kể cả các hiệu sách ở Nha Trang. Đi tới các hiệu sách thì xa quá, đi bộ thì không đi nổi, mệt và nóng lắm, mà đi xe thuê thì cũng khó, vì họ không phải chỉ đưa mình tới nơi mà còn phải đợi hàng giờ khi mình phải tìm chọn sách nơi này nơi nọ, quầy này quầy khác v.v...
NGUYỄN THANH CHÍHai mươi tám tuổi, nó không biết chữ và không quen đi dép, mặc áo quần dài; lầm lũi, ít nói nhưng rất khoẻ mạnh... Với nó rừng là nhà, các lối mòn trong rừng thì thuộc như lòng bàn tay... Đó là Trương Ngọc Hoàng, sinh năm 1977.
NGUYỄN TRỌNG BÍNHMọi chuyện xẩy ra suốt 55 ngày đêm ở đơn vị trong cuộc tổng tiến công nổi dậy xuân 1975 mà đỉnh cao là chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, tôi đều nhớ như in. Thế mà, lạ lùng thay, suốt thời gian đó, hàng ngày mình ăn thế nào, lại không nhớ nổi. Chỉ nhớ mang máng có lúc ăn cơm nắm, ăn lương khô. Về giấc ngủ, có thể là tranh thủ nửa ngủ nửa thức giữa 2 trận đánh hoặc lúc ngồi trên xe trong đội hình hành tiến. Cố hình dung, tôi nhớ được bữa cơm chiều ở dinh Độc Lập, hôm 30-4-1975.
NGÔ MINHỞ CỬA NGÕ XUÂN LỘCSư Đoàn 7 thuộc Quân Đoàn 4 của chúng tôi hành quân từ Bảo Lộc về ém quân trong một rừng chuối mênh mông, chuẩn bị tấn công cứ điểm Xuân Lộc, cửa ngõ Đông Bắc Sài Gòn, đúng đêm 1-4-1975.
HUỲNH KIM PHONG(Chào mừng kỷ niệm 30 năm ngày giải phóng miền , thống nhất đất nước 30.4.1975 - 30.4.2005)
LÊ HOÀNG HẢICon người từ khi cảm nhận thế giới xung quanh là lúc cảm được sự xa vắng, ly biệt... Nhớ hồi thơ dại, đứng trên bến sông trước nhà nhìn sang Cồn Hến thấy sông rộng lắm cứ nghĩ khó mà bơi sang sông được. Mỗi lần đi bộ từ nhà lên cầu Gia Hội dù chỉ vài trăm mét nhưng lại cảm thấy rất xa. Càng lớn khôn cảm nhận về khoảng cách được rút ngắn. Nhưng lạ thay khoa học ngày càng khám phá không gian, vũ trụ thì chạm đến cõi vô cùng.
HỒ NGỌC PHÚTôi về lại Huế sau trận lụt tuy muộn nhưng khá lớn vào gần cuối tháng 12 năm 2004. Ngồi ở quán cà phê Sơn bên bờ chân cầu Trường Tiền, nhìn sông Hương vào lúc sáng sớm sao thấy khang khác, trong có vẻ như sáng hơn ngày thường.
HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNGĐã lâu tôi không hề nhắc đến hoa, và tôi cảm thấy tôi đã có lỗi đối với những người bạn tâm tình ấy dọc suốt một quãng đời chìm đắm trong khói lửa. Thật ra, những cánh hoa nhỏ bé và mong manh ấy đã viền con đường tuổi trẻ đầy kham khổ của tôi. Chiến chinh qua rồi có nhiều cái tôi đã quên, nhưng những cánh hoa dại dọc đường không hiểu sao tôi vẫn nhớ như in, như thể chúng đã được ấn vào trí nhớ của tôi thành những vết sẹo.
NGUYỄN THẾ QUANG(Chuyện tình chưa kể của nhà thơ Hoàng Cầm)
VÕ NGỌC LANTôi sinh ra và lớn lên tại vùng Kim Long, một làng nhỏ thuộc vùng cận sơn, không xa Huế là bao. Bởi thuở nhỏ chỉ loanh quanh trong nhà, trong làng ít khi được “đi phố” nên đối với tôi, Huế là một cái gì thật xa cách, thật lạ lùng. Đến nỗi tôi có ý nghĩ buồn cười: “Huế là của người ta, của ai đó, chứ không phải là Huế của tôi”, ngôi chợ mái trường, một khoảng sông xanh ngắt và tiếng chuông chùa Linh Mụ... mấy thứ ấy mới là của tôi.
NGUYỄN XUÂN HOÀNGNhân một lần ghé ngang Paris , võ sư người Huế Nguyễn Văn Dũng đã đi thăm sông Seine. Đứng lặng lẽ bên dòng sông thơ mộng bậc nhất nước Pháp, bỗng lòng ông nhớ sông Hương quá trời. Về lại Việt , ngồi bên bờ sông Hương, ông vẫn hãy còn thấy nhớ cồn cào cái dòng chảy thầm thì trong sương mù như một nhát cắt ngọt ngào giữa trái tim đa cảm.
HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNGTôi rẽ vào nhà Thiệp để đưa bé Miên Thảo đi học. Cô bé hét vang nhà để bắt tìm cho ra chiếc dép đi trời mưa lạc nơi đâu không biết. Miên Thảo mặc chiếc quần Jean xanh và khoác áo len đỏ, choàng một chiếc phu la cổ màu đen trông thật đỏm dáng.
NGUYỄN QUANG HÀSông Bồ là con sông không dài, nhưng đẹp ở về phía Bắc Huế. Phía tả ngạn, hữu ngạn vùng thượng lưu sông là hai huyện Phong Điền và Hương Trà, vùng hạ lưu sông chảy qua Quảng Điền rồi đổ vào phá Tam Giang. Làng xóm hai bên bờ sông khá trù mật.