Sự hoan hỷ vô tận

10:34 06/10/2022

NGUYÊN QUÂN

Đôi khi trong sự trầm lặng tĩnh mịch thường hằng, và những con người quen sống với sự tĩnh lặng ấy thường vô tình không nhận thấy những sự thay đổi chung quanh vì nó cũng âm thầm không xôn xao ầm ĩ.

Quang cảnh nhà dân sống quanh Kinh thành Huế trước khi di dời - Ảnh: vov

Tôi cũng không ngoại lệ dù mỗi ngày vẫn đi qua, vẫn sinh hoạt loanh quanh khu vực Nội thành của xứ sở vốn nổi danh trầm lắng như thơ, nhưng bận bịu bao nhiêu công việc mưu sinh nên cũng ít quan tâm đến sự di biến ít liên quan đến bản thân mình. Bất chợt sáng nay có người bạn ở xa về, sau một hồi rủ nhau ra quán cà phê tán gẫu ở con đường được dân Huế gọi là đường phượng bay, ông bạn lại muốn tôi thồ đi thăm lại nơi anh ta từng trú trọ trước kia. Trong trí nhớ của tôi, nhà ông bạn này ở một khu vực khá phức tạp, nhiều tay anh chị xăm mình có số má, mà mỗi lần tôi đến nhà chơi đều rón rén rụt rè giữa không gian chật hẹp đầy mùi mồ hôi, mùi gia cầm, rác thải, còn sợ va nhằm ai đó trong những con hẻm chật khư và những đôi mắt lầm lỳ vẩn đục.

Để bây giờ... Đứng ở đây, dựa lưng vào lâu thành Thượng Tứ phong rêu, tôi thật sự ngạc nhiên trước sự thay đổi đến không thể tin, đang trải dài trong tầm mắt. Trên bức tường thành tồn tại hàng trăm năm qua bao nhiêu dâu bể biến thiên, chiến tranh loạn lạc là một khoảng trống bao la, không còn bị dồn ứ những căn nhà, những mái lều chùm đụp chắp vá đủ loại vật liệu từng bám víu nhếch nhác trên bề mặt bức thành dày non chục mét. Thay vào đó là vết tích đập phá, hạ giải. Người bạn hình như ít ngạc nhiên về sự thay đổi lạ lẫm hơn tôi, có vẻ biết rành rẽ chuyện về những căn nhà đã và đang được giải tỏa để phục nguyên chân diện Kinh thành Huế. Xét cho cùng điều anh bạn ở xa về biết rành mạch hơn kẻ vẫn hàng ngày đi qua đi lại, cũng là chuyện đương nhiên, bởi trong thẳm sâu của chiếc hộp ký ức, luôn là sự lưu giữ tốt nhất và toàn vẹn nhất những tâm tư khắc khoải về một nơi chốn đầy vui buồn của tuổi thơ.

Anh bạn tôi có một tuổi thơ tạm gọi là dữ dội. Anh nhớ từng chút một về từng góc từng xó trên bức tường thành cổ, nhớ dấu tích đạn băm loang lổ phía bên ngoài tường thành, vô tình trở thành một loại thang mạo hiểm cho lũ trẻ con chơi trò thách đố trèo lên trụt xuống độ cao non chục mét để chơi đùa, câu cá thia đá trên bãi cỏ hoang bên bờ Hộ Thành hào. Ngoài những kỷ niệm ấy, chắc chắn anh bạn tôi thường xuyên giữ mối liên hệ với người thân kẻ quen còn sinh sống nơi đây. Nên mỗi đổi thay, biến động, dù ở rất xa anh vẫn hiểu rõ mồn một từng sự thay đổi ấy của quê quán xưa.

Nơi tôi đang đề cập, đang đứng là cuối đoạn tường lũy phía nam của Kinh thành Huế. Trên suốt chiều dài lịch sử Việt, qua nhiều vương triều chấp chính, đã có nhiều vùng đất thủ phủ. Và Kinh thành Huế thật sự là một kinh đô chính thức của đất nước Việt Nam thống nhất toàn vẹn lãnh thổ từ Bắc đến Nam. Kinh đô Huế cũng là một vùng cố đô còn tồn tại nguyên bản những công trình kiến trúc vương triều, bởi nhà Nguyễn là đế chế phong kiến cuối cùng của người Việt, dù đã trải qua mấy trăm năm thăng trầm biến động. Sự tồn tại các công trình kiến trúc hoa lệ cung đình mang đầy đủ tinh thần mỹ thuật đặc trưng nhà Nguyễn đã được UNESCO đánh giá và công nhận là di sản văn hóa vật thể quý giá của toàn nhân loại.

Là cư dân kỳ cựu trên quê hương bản quán, tôi cũng có nghe nhiều về việc giải tỏa, tái định cư cho hàng ngàn hộ dân sống tạm bợ trên thượng thành; “Dân Thượng Thành” - cái tên gọi chung cho tất cả những ai ngụ cư ở trên hay dựa lưng nó. Sự hình thành của những cụm dân cư này có từ rất lâu nên không mấy ai nhớ rõ. Những người già sống ở đây cũng mù mờ về gốc tích lý do mình ngụ cư tạm bợ bởi qua bao nhiêu giai đoạn lịch sử, họ cũng chỉ được phép sống tạm chứ chưa bao giờ được cấp phép sở hữu đất đai cũng như giấy phép xây dựng. Cũng do nguyên nhân này mà trải qua hàng chục năm vẫn chỉ là những khu xập xệ, nói vậy cũng không quá đáng khi đi sâu vào từng ngõ ngách chùm đụp của các khu vực mà dân Huế vẫn gọi chung một cái tên là dân Thượng Thành hay dân Eo Bầu. Riêng cái địa danh Eo Bầu ở đây không chỉ đặt định cho riêng một địa điểm, như đa số người Huế vẫn lầm tưởng dành cho số dân cư tồn tại ở khu vực trên đường Ông Ích Khiêm từ cửa Thượng Tứ chạy dài xuống giáp ranh với đường Xuân 68, nơi mà người bạn tôi từng cư ngụ. Thật ra ở trong khu vực Nội thành Huế, có khá nhiều khu Eo Bầu. Có lẽ vì hệ thống kiến trúc của Kinh thành Huế có những khoảng đất bằng phẳng để bố trí tác chiến cho các đơn vị lính thủ thành, nằm giữa chân bức thành và con đường chạy men chân bốn phía, như ở đường Xuân 68, Ông Ích Khiêm, Lương Ngọc Quyến, Tôn Thất Thiệp đều có những lõm đất dễ “cắm cọc” ngụ cư như vậy.

Những khoảnh đất trống trải này vô hình trung trở thành nơi quần tụ các cụm cư dân đông đúc đến hàng trăm hộ dân đều được gọi là Eo Bầu. Và họ cũng chỉ là dân ngụ cư bất định trên một vùng đất thuộc về di tích văn hóa lịch sử, chẳng biết lúc nào sẽ bị giải tỏa nên nhà cửa chỉ che chắn bằng các loại vật liệu nhẹ, hay xây cất sơ sài nương tựa vào bức tường thành cổ. Nói vậy chứ cũng có khá nhiều trường hợp ngoại lệ, xen lẫn trong những căn lều tạm bợ là nhiều ngôi nhà được xây dựng khá vững, thường nằm sát đường chính, đa số họ nghĩ mặc nhiên được công nhận là khu dân cư trước khi chính quyền quyết định giải tỏa để trả lại diện mạo Kinh thành.

Trước đây các cấp chính quyền cũng ưu tư tìm phương án di dời số dân sống tạm bợ này, nhưng điều kiện để tái định cư cho hàng ngàn hộ dân luôn là vấn đề nan giải. Mặc dù những năm gần đây bằng rất nhiều nỗ lực, chính quyền đã giải tỏa, tái định cư thành công nhiều khu vực cần được di dời. Một đời sống không an cư thì khó lòng lập nghiệp nên cư dân sống tạm trên mặt tường thành đa số là người lao động phổ thông; vì thời gian dài hàng mấy chục năm cũng sinh sôi nẩy nở nhiều thế hệ nên đa số trong một ngôi nhà, căn lều cứ một hộ chính lại kèm theo các hộ phụ. Việc giải tỏa, cấp đất tái định cư theo lý thông thường thì đúng là một công tác tưởng chừng bất khả thi, chứ không đơn giản như cư dân vạn đò trên sông Hương, sông Hàng Bè hay những ngôi nhà bám dọc ven hai bờ sông Ngự Hà, một nhánh sông đào giữa lòng Kinh thành.

Giải tỏa di dời cũng là một loại công tác khó tìm được đồng thuận tuyệt đối giữa người dân và chính quyền, bởi nhu cầu của người dân luôn lớn hơn sự ước định của chính quyền. Sự đòi hỏi mỗi hộ, không kể chính hay phụ đều phải có đất riêng, dù nơi ở cũ một căn nhà nhỏ bé liền lưng vách với các nhà khác, diện tích không nở rộng thêm, nhưng dân số thì có khi đã tăng lên đến 4 hoặc 5 hộ được hợp pháp trên mặt giấy tờ hành chính, đã tách riêng bìa hộ khẩu với hộ chính. Nên không dễ gì tìm ra một quỹ đất đủ điều kiện tái định cư một lần cho người dân, và dù có vận động được đất cũng còn nan giải vấn đề ổn định sinh kế cho hàng vạn người dân phải lìa bỏ nếp sống vốn đã quen với sinh hoạt hàng ngày.

Người dân ngụ cư trên bề mặt bức tường Hoàng thành đa phần là dân lao động tự do, họ mưu sinh bằng đủ thứ nghề chỉ giới hạn trong môi trường quen biết xóm làng, như hàng ăn quán vặt, sữa chữa đồ gia dụng... Bây giờ di chuyển đến một môi trường hoàn toàn khác biệt, thì họ phải cần rất nhiều thời gian công sức để bắt kịp nhịp điệu mưu sinh phù hợp với bản thân và gia đình. Chính vì những khó khăn này mà chính quyền trước đây rất muốn cũng không thể giải tỏa triệt để các cụm dân cư này, mà chỉ cố gắng giải tỏa được một phần nhỏ nằm ngay phía chính Nam trước mặt Đại Nội. Khu vực này đã được giải tỏa triệt để từ trên tường thành ra đến vùng dân cư cũng chen chúc tạm bợ sống men theo dòng Hộ Thành hào, trả lại mặt tiền cho hướng chính nam Đại Nội, một đoạn hào được nạo vét, trồng sen, dựng lại bờ kè đá cổ phục nguyên hầu như trọn vẹn gương mặt hoàng kim lộng lẫy của chốn đế đô xưa.

Trở lại với chuyện giải tỏa triệt để. Vẫn theo sự hiểu biết tường tận của người bạn ở xa về, chính quyền hiện nay đã tìm ra một đáp án cho bài toán rất khó, khi hầu như toàn bộ số cư dân này đồng thuận chương trình giải tỏa một cách nhanh chóng hoan hỷ. Ngọn ngành gốc rễ của sự hoan hỷ kỳ lạ này là sự tự nguyện di dời gần như trăm phần trăm của người dân. Trước những quan tâm khá chu toàn về nhu cầu thiết yếu của dân, chính quyền đã đáp ứng thỏa đáng kế hoạch cấp đất tái định cư, hầu như hộ chính, hộ phụ đều có một mảnh đất nơi định cư mới.

Người dân còn được tạo điều kiện thoải mái, thuận lợi nhiều mặt từ tinh thần hướng nghiệp cho đến vật chất để những người tái định cư có một ngôi nhà, nghề nghiệp phù hợp trên vùng đất mới; một sự hoán đổi hoàn toàn có lợi cho người nằm trong khu vực giải tỏa. Với tâm lý bức bối đã rất nhiều năm phải sống chật chội tạm bợ trên một địa điểm không chủ quyền, không được phép xây dựng, lúc này họ có thể tạo lập cho mình một nơi an cư lạc nghiệp, được tìm thấy cảm giác có chủ quyền kiến trúc, sắp đặt nhà của mình tùy thích. Chính yếu tố tâm lý này là một thứ động lực lớn trong cuộc di dời nhanh chóng, hoan hỷ không dây dưa kiện tụng gì.

Chỉ nghe lời kể một phía thì chưa đủ tin hoàn toàn vào cái cụm từ hoan hỷ của ông bạn ở xa về, tôi đành dành chút thời gian vốn rất bận bịu để nhận lời yêu cầu chở anh ra tới vùng đất định cư mới của khá nhiều người thân quen của anh; nói đúng hơn là tôi tình nguyện vì tò mò nên theo chân ông bạn để mong được tận mắt nhìn và cảm nhận hết sự vui mừng được giải tỏa vốn hiếm họa này. Từ khu vực cư trú cũ, “xóm Eo Bầu Thượng Thành” nay đã thành bình địa, chạy thẳng một mạch trên con đường Đinh Tiên Hoàng ra đến cửa Hậu. Con đường thẳng tắp từ cửa Thượng Tứ “Đông Nam Môn” nối liền cửa Hậu “Chánh Bắc Môn” này cũng mới được khai thông mấy năm gần đây vì từ năm 1885 sau biến cố Thất thủ kinh đô, quân Pháp đã chiếm hẳn khu Mang Cá làm nơi đồn trú nên đã chặn luôn cửa Hậu không cho người dân thông thương. Chỉ nhỉnh hơn mười phút đồng hồ chạy xe, chúng tôi đã đến được nơi cần đến. Đó là vùng đất nông nghiệp Hương Sơ, đã được chính quyền thu hồi, phân lô đất nền, xây dựng hạ tầng đầy đủ tiện nghi của một đô thị hiện đại như đường sá, cầu cống, điện nước... mỗi lô 100m2 cho hộ chính và 70m2 cho mỗi hộ phụ. Thoáng thấy chỗ định cư mới, tôi phải thừa nhận rằng người dân “khu thượng thành” hình như không nghèo lắm. Cái hình như không nghèo đã bộc lộ ra hết ở vùng định cư mới. Cả một vùng đất trước đây là ruộng lúa mênh mông đã biến đổi thành một khu đô thị được quy hoạch rất hiện đại, với đường sá tráng nhựa bóng loáng, có những khoảng công viên cây cối đã lên xanh, xen lẫn với những dãy nhà tầng kiến trúc cầu kỳ rất bề thế sang trọng. Khu đô thị mới toanh, một giấc mơ bất khả thi đã thành hiện thực với người dân vùng giải tỏa, đúng là một đáp án không thể toàn mỹ tuyệt vời hơn cho một bài toán hóc búa mà bao năm qua của các cấp chính quyền Thừa Thiên Huế lao tâm khổ tứ đi tìm.

Sau một lúc đảo quanh, tham quan, anh bạn của tôi cũng tìm ra người quen xóm cũ. Dùng cụm từ hơi ngủng ngẳng này bởi nơi đây cũng toàn người quen ở xóm cũ, có bốc thăm lô khi di dời ra đây, thì cũng chỉ hoán đổi vị trí láng giềng cùng sống chung trên một xóm phố, cũng xúm xít bên nhau bên gánh bánh canh bà B, nồi bún bò bà C, tiệm sửa xe ông K... như đã từng mấy chục năm qua. Nên nói như lời anh bạn thốt lên đầy cảm xúc khi bắt tay hay ôm chầm những người thân quen của anh. Dù đất lạ mà người không lạ.

Thôi thì mặc cho họ vui vẻ hàn huyên kể lể đủ thứ kỷ niệm, chuyện đời sống, tôi chỉ nghe và cố đi tìm ẩn số sự Hoan Hỷ thật sự của dân tái định cư trên từng ánh mắt sáng trưng, tự hào của người lớn trong ngôi nhà hợp pháp chính chủ hay tiếng cười trong trẻo vui vẻ của lũ nhóc hồn nhiên chạy nhảy nô đùa trên sân nhà mình mà không sợ rơi từ trên thành cao xuống. Với những ai chưa từng biết về điều kiện sống của những người trên Thượng Thành, thì những gì tôi vừa cảm nhận, quả là thật bình thường, không đáng gọi là sự hoan hỷ. Chỉ riêng với tôi, người đã quá quen biết mấy xóm Thượng Thành, thì chỉ chừng đó thôi cũng đã vượt xa cái từ hoan hỷ thông thường. Và rồi đây, một vài năm sau nữa, mọi tàn tích hạ giải trên bề mặt Hoàng thành được dọn dẹp, được chỉnh trang trùng phục lại y như nguyên bản, dòng Hộ Thành hào bao quanh kinh thành được khai thông toàn vẹn y như dòng sông Ngự Hà hay ngôi trường đại học thời phong kiến Quốc Tử Giám, Tàng Thư Lâu đều đã được trả về đúng nguyên bản, thì có người dân Huế nào không thấy lòng hoan hỷ.

N.Q
(TCSH46SDB/09-2022)

 

 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
  • TẤN HOÀIHưởng ứng cuộc vận động học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí MinhĐêm đó, Bác nghỉ lại tại Cọt Mạ - một thị trấn nhỏ của Trung Quốc, thị trấn nhỏ như một bản miền núi miền nam Trung Quốc, có một cái chợ nhỏ, cách biên giới Việt Nam khoảng trên bốn cây số. Tất nhiên, đó là một cơ sở của cách mạng Trung quốc. Hôm sau, Bác về nước cùng với những đồng chí Việt Nam đi đón Bác trong đó có Dương Đại Lâm, Lê Quảng Ba, Bằng Giang. Những người này về sau trở thành cán bộ lãnh đạo của khu tự trị Việt Bắc. Bác về đúng vào tháng 2 năm 1941. Bác đã ghi trên một phiến đá trong hang Cốc Bó, nằm trong khu vực Pác Bó. Gia tài Bác chỉ có một chiếc va li cũ đan bằng mây, bên cạnh một chiếc máy đánh chữ mà Bác luôn luôn xách bằng tay.

  • HOÀNG QUỐC HẢI                        Bút kýVì sao khi Lý Công Uẩn (Lý Thái Tổ) được nước, cung điện nơi thành Hoa Lư các vua Đinh, vua Lê dựng như “điện Bách Bao thiên tuế, cột điện dát vàng, dát bạc làm nơi coi chầu, bên đông là điện Phong Lưu, bên tây là điện Cực Lạc, rồi làm lầu Đại Vân, dựng điện Trường Xuân làm nơi vua ngủ, bên cạnh điện Trường Xuân lại dựng điện Long Lộc, lợp bằng ngói bạc...”, lâu đài điện các như thế, tưởng đã đến cùng xa cực xỉ.

  • JEAN-CLAUDE GUILLEBAUDLà một nhà báo - nhà văn Pháp thuộc “thế hệ Việt Nam”, thế hệ những người Pháp mà dấu ấn của cuộc chiến Đông Dương đã và sẽ in đậm trong suốt cuộc đời. Ông có mặt ở Việt Nam vào nhiều mốc lịch sử trước 1975, và từ đó ý định trở lại đất nước Việt Nam vẫn luôn thôi thúc ông. Cuốn “Cồn Tiên” được viết sau chuyến đi Việt Nam từ Nam chí Bắc của ông năm 1992. Bản Công-xéc-tô vĩnh biệt này, có thể nói, nó là nỗi ám ảnh của người pháp về Điện Biên Phủ ở Việt Nam. Hiện Guillebaud đang công tác tại Nhà Xuất bản Le Seuil (Paris).

  • PHẠM THỊ ANH NGA15-12-2002Hình như trong đám đông tôi vẫn luôn là một bóng mờ. Một bóng dáng nhạt mờ, lẩn trong vô vàn những bóng dáng nhạt mờ khác, mà giữa trăm nghìn người, ai cũng có thể “nhìn” mà không “thấy”, hoặc có vô tình “thấy” cũng chẳng bận lòng, chẳng lưu giữ chút ấn tượng sâu xa nào trong tâm trí.

  • PHẠM THỊ CÚC                       KýTôi sinh ra ở một làng quê, không những không nhỏ bé, hẻo lánh mà còn được nhiều người biết đến qua câu ca dao "Ai về cầu ngói Thanh Toàn/ Cho em về với một đoàn cho vui".

  • HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNG                                        Bút kýNhiều lần thức giấc trong mùi hương rạo rực của ban đêm, tôi chợt phát hiện ra rằng Huế là một thành phố được dành cho cỏ. Tôi không hề có ý xúc phạm, chỉ muốn lưu ý thêm về vai trò của cỏ trong quy hoạch đô thị. Thật vậy, không nơi nào trên thế giới mà những công trình kiến trúc của con người lại mọc lên giữa cỏ hoang như ở Huế. Đà Lạt cũng được xây dựng trên những ngọn đồi; nhưng ở đấy, hình tượng của cây anh đào và cây thông đã khiến người ta quên mất sự có mặt của cỏ dại.

  • THÁI VŨ        Ghi chépNhững năm đầu kháng chiến chống Pháp, từ Quảng Nam- Đà Nẵng vào Bình Thuận lên Tây Nguyên được chia ra làm 3 Quân khu thuộc Uỷ ban Kháng chiến miền Nam Việt Nam, cụ Cố vấn Phạm Văn Đồng là đại diện của Trung ương Đảng và Chính phủ. Qua năm 1947, 3 Quân khu (QK 5, 6 và Tây Nguyên) hợp nhất thành Liên khu (LK) 5.

  • PHƯƠNG HÀ                     (truyện ký)Cho anh em trong phân đội trở về các vị trí giấu quân xong thì trời cũng vừa sáng. Đang giăng võng để ngủ lấy sức sau một đêm trinh sát, tôi chợt nhớ phải đến thăm Hoà vì Hoà sắp đến ngày sinh nở. Chúng tôi đang ở ngay làng của mình nhưng làng không còn nhà, dân bị giặc lùa đi hết, muốn tìm nhau thì phải tìm đến những căn hầm.

  • LÊ TRỌNG SÂMTrong cuộc đời của mỗi chúng ta, khi Bác Hồ còn sinh thời, được gặp Bác một lần đã quý. Trong cuộc sống của tôi, do có nhiều hoàn cảnh, nhiều duyên may lại được gặp Bác đến ba lần thì càng quý biết bao nhiêu. Tự đáy lòng, tôi thầm cảm ơn Đảng, cảm ơn Bác đã cho tôi ba lần vinh dự như vậy. Và những kỷ niệm đó vẫn còn tươi nguyên.

  • PHẠM THỊ CÚC                         Ký…Tôi chưa thấy ai hay ở xứ nào làm các tác phẩm mỹ thuật từ cây với dây... Nếu gọi là tranh thì là một loại tranh ngoài trời, lấy tạo hoá, thiên nhiên làm cốt, không giới hạn, dãi nắng, dầm mưa, đu đưa theo chiều gió, màu sắc cũng thay đổi từng giờ, từng phút, tuỳ theo ánh sáng mặt trời hay mặt trăng. Cho nên, tác phẩm rất linh động…

  • LÊ VĨNH THÁI                Ghi chép Sau chặng đường dài gần 20 km vượt qua các con dốc cao ngoằn ngoèo, hiểm trở, tôi đã đến “hành lang” công trình hồ Tả Trạch, nằm giữa vùng rừng núi bạt ngàn thuộc xã Dương Hoà, huyện Hương Thuỷ. Công trình hồ Tả Trạch được khởi công xây dựng ngày 26/11/2005, là công trình trọng điểm của Thừa Thiên Huế và của cả nước, được Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn quản lý đầu tư từ nguồn vốn trái phiếu của Chính phủ, với tổng mức đầu tư khổng lồ 2659 tỷ đồng. Đây là một trong những công trình lớn của vùng Đông Nam Á.

  • TRƯƠNG ĐÌNH MINH                                 Ký Đợt này trở lại Trường Sơn, tìm hiểu thêm các tấm bê tông xi măng vắt qua đỉnh Trường Sơn, lượn quanh các đèo U Bò, Cù Đăng, A Dớt - A Tép mưa mù phủ trắng... Có đỉnh như đỉnh Sa Mù cao trên 1400m mà đợt tháng 3/2003 vừa rồi chúng tôi đã có mặt. Song do mưa liên miên, xe vận chuyển vật liệu, vật tư đi lại co kéo quá nhiều, đường lầy lội. Các đơn vị thi công chưa hoàn thiện phần nền...

  • DƯƠNG PHƯỚC THU                              Bút kýNhiều năm rồi tôi vẫn nghe, đồng chí đồng đội, nhân dân Dương Hoà và những người từng ở hoặc đã qua lại nơi đây trước chiến tranh, khẳng định rằng: Sau khi hy sinh, thi hài liệt sĩ Ngô Hà được đơn vị tổ chức an táng tại sườn tây núi Kệ, nơi có khe suối Ngân Hàng chảy qua thuộc vùng chiến khu Dương Hoà. Trước ngày giải phóng miền Nam, mỗi lần ngang qua chỗ ông nằm mọi người lại tự ý đắp thêm một viên đá nhỏ, để cho ngôi mộ ấy sớm trở thành hòn núi như mới mọc lên từ đất, ghi dấu chỗ ông yên nghỉ ... Chờ ngày chiến thắng.

  • ĐỖ KIM CUÔNGNăm cuối cùng của bậc học phổ thông, tôi được học 2 tiết văn giới thiệu về "Dòng văn học lãng mạn Việt Nam 1930 - 1945". Cũng không có tác phẩm thơ hoặc văn xuôi được tuyển chọn để phân tích, bình giảng như bây giờ. Ngày ấy - những năm chống Mỹ cứu nước, thơ văn lãng mạn được xem là điều cấm kỵ.

  • TRƯỜNG ANChúng ta đang sống giữa những ngày rực lửa truyền thống hào hùng của Tháng Năm trong lịch sử cách mạng Việt và thế giới. Trước hết, hãy nhắc đến một sự kiện lớn của giai cấp công nhân quốc tế. Ngày 1.5.1886, do yêu cầu không được đáp ứng một cách đầy đủ, công nhân trên toàn nước Mỹ đã tham gia bãi công nhằm gây áp lực buộc giới chủ thực hiện yêu sách của mình. Đầu tiên là cuộc bãi công tại thành phố Chicago với biểu ngữ “Từ hôm nay không người thợ nào làm việc quá 8 giờ một ngày! Phải thực hiện 8 giờ làm việc, 8 giờ nghỉ ngơi, 8 giờ vui chơi!”.

  • PHẠM THỊ ANH NGA       Gởi hương hồn bạn cũTôi qua đến Pháp ngày hôm trước thì hôm sau ba tôi mất. Cái tin khủng khiếp đó đối với tôi vẫn không đột ngột chút nào, bởi từ những ngày hè về thăm nhà, tôi đã biết trước ba tôi sẽ sớm ra đi.

  • TÔ VĨNH HÀEm hẹn gặp tôi ở quán cà phê Trung Nguyên. Đó là địa điểm em tự chọn. Cái tên ấy cho tôi biết rõ là giữa hai chúng tôi không có gì nhiều hơn một cuộc trao đổi bình thường. Tuy nhiên, sự mách bảo từ nơi nào đó của linh cảm và cả ước muốn, cứ làm cho tôi tin rằng đó là điểm khởi đầu. Đêm cuối xuân, Huế gần như ít buồn hơn bởi cái se lạnh của đất trời. Huế bao giờ cũng giống như một cô gái đang yêu, đẹp đến bồn chồn. Nếu được phép có một lời khuyên thì chắc hẳn tôi đã nói với tất cả những người sẽ được gần nhau rằng, họ hãy cố chờ đến một đêm như thế này để đến bên nhau. Bầu trời mà Thượng đế đã tạo ra sẽ cho mỗi con người biết cách đến gần hơn với những lứa đôi.

  • CAO SƠNChuyện xưa: Vua Hùng kén tìm phò mã cho công chúa Ngọc Hoa, đồ lễ vật phải có gà chín cựa ngựa chín hồng mao? Thôi thúc Lạc dân xưa kia, đánh thức tiềm năng người dân phải tìm hiểu, lặn lội từ đời này sang đời kia chưa thấy. May sao với thú đi để biết, anh Trần Đăng Lâu, cựu chiến binh, hiện Giám đốc vườn quốc gia Xuân Sơn tỉnh Phú Thọ cho hay: Vườn quốc gia nguyên sinh anh Lâu đang quản lý, mới phát hiện giống gà lạ ấy. Con vật đặc biệt chưa có ai biết tới, chưa được phổ biến rộng rãi, thương trường chưa có cuộc trao bán...

  • NGUYỄN HỮU THÔNG                             Bút ký"Buổi mai ăn một bụng cơm cho noChạy ra bến đòMua chín cái tráchBắc quách lên lò

  • TRẦN NGUYỄN KHÁNH PHONG                                                Bút kýTrong hồi ức của một số cán bộ lão thành cách mạng ở A Lưới kể lại rằng: “Hồi đó có một số người ở đồng bằng tản cư lên sống cùng đồng bào; qua họ, đồng bào nghe đến tên Cụ Hồ, nhưng đồng bào chỉ biết đầy đủ về Bác cũng như thấu hiểu được những điều Bác dạy qua các cán bộ người Kinh lên hoạt động ở đây vào khoảng những năm 1945-1946. Cán bộ bảo: Cụ Hồ muốn nhân dân mình học lấy cái chữ để biết bình đẳng. Muốn bình đẳng còn phải đánh Pháp. Nếu đoàn kết đánh Pháp thì ai ai cũng đánh Pháp và khi đó đồng bào ta nhất định thắng lợi” (1)