Sau bao thăng trầm của cuộc sống, tranh làng Sình xứ Huế có lúc tưởng chừng đã bị xóa sổ... Nhưng may mắn vẫn còn một người đau đáu với nghề làm tranh - Nghệ nhân Kỳ Hữu Phước. Ông đã gìn giữ và phục sinh nghề truyền thống có tuổi đời gần 500 năm.
Những bản mộc in tranh làng Sình được ông Phước giữ gìn cẩn thận.
Tinh hoa tranh làng Sình
Một ngày giáp Tết Nguyên đán Giáp Ngọ, ngược dòng sông Hương thơ mộng hơn 10km, chúng tôi tìm về nhà Nghệ nhân Kỳ Hữu Phước ở làng Sình, xã Phú Mậu, huyện Phú Vang, Thừa Thiên – Huế. Trước căn nhà cấp 4 đơn sơ đã phủ màu thời gian là một ông già nước da ngăm đen, bàn tay chai sần đang tỉ mẩn với những công đoạn in hình, tô màu để tạo ra những bức tranh độc đáo mang tên tranh làng Sình.
Vừa sắp những bản khắc gỗ để in bộ lịch chào xuân Giáp Ngọ, ông Phước vừa cho biết: “Tranh làng Sình có tuổi đời gần 500 năm. Vào khoảng cuối thế kỷ 14 đầu thế kỷ 15, cùng với dòng người theo chân Chúa Nguyễn vào đất Thuận Hóa lập nghiệp, ông Kỳ Hữu Hòa đã mang theo nghề làm tranh giấy mộc bản vào làng Sình định cư và truyền dạy. Ông Hòa được coi là tổ nghề tranh làng Sình”.
Để có một bức tranh phải trải qua 7 công đoạn, từ xén giấy, quét điệp, in tranh trên mộc bản, phơi tranh, pha màu, tô màu, cuối cùng là điểm nhãn. Đầu tiên, dùng mực màu đen phết lên bản mộc rồi dùng giấy dó in thành một bức tranh thô. Đem phơi cho khô mực rồi dùng các loại màu tự pha chế để tô vẽ họa tiết lên tranh, sau đó đem phơi lại cho khô mới thành một bức tranh hoàn chỉnh. Trước kia, tranh làng Sình hoàn toàn sử dụng giấy dó, nhưng nay để tiện và đỡ tốn kém, người ta đã chuyển sang sử dụng giấy công nghiệp và tô bằng phẩm màu. Chỉ riêng ông Phước vẫn trung thành với vật liệu giấy dó và màu tự nhiên.
Mộc bản để in tranh làng Sình làm bằng gỗ mít, thị hay gỗ mức và không phải ai cũng có thể làm được, chỉ có ông tổ, hoặc những nghệ nhân tài hoa nhất của làng Sình mới có thể khắc nên để giữ đúng bản sắc, và lưu truyền cho hậu bối làm nghề. Hiện nay, chỉ còn mình ông Phước khắc được mộc bản tranh làng Sình. Đó cũng là nỗi trăn trở của chính ông vì sợ rằng khi mình không còn nữa, tranh làng Sình sẽ mai một theo thời gian.
Bút để tô vẽ tranh do chính ông Phước sáng tạo nên. Ông Phước cho biết: “Tổ tiên xưa dùng cành tre non đập mịn một đầu làm bút. Nhưng từ lên 7 tuổi, tôi đã dùng ruột của rễ cây dứa dại làm bút. Bút rễ dứa bền và mịn hơn bút tre gấp trăm lần”.
Sự khác biệt của tranh làng Sình với các dòng tranh dân gian khác chính ở nét vẽ và bố cục thô sơ, đậm chất làng quê. Mỗi bức đều mang trong mình tâm trạng của nghệ nhân lúc đó.
Thổi hồn cho tranh
65 tuổi nhưng ông Phước đã có hơn 60 năm làm tranh. Ông là đời thứ 9 trong dòng họ Kỳ theo nghiệp làm tranh dân gian làng Sình. Chứng kiến bao thăng trầm lịch sử cũng như những biến thiên của tranh làng Sình, ông Phước cho biết, thời kỳ trước ngày đất nước thống nhất (1975), nghề tranh làng Sình phát triển thịnh vượng, người người, nhà nhà đều làm tranh. Nhưng sau giải phóng, nghề làm tranh làng Sình bắt đầu mai một.
Lúc đó, đất nước khó khăn, học sinh còn không có giấy đi học nên việc làm tranh được cho là phí phạm, những người làm tranh phục vụ việc thờ cúng còn bị xem là truyền bá mê tín dị đoan, các mộc bản tranh bị tịch thu chẻ làm củi đốt. Duy chỉ mình ông Phước giữ được nguyên vẹn hơn 100 bộ mộc bản làm nghề.
Ông Phước kể lại: “Nghĩ là nghề của tổ tiên dày công để lại mà không giữ được thì có tội lớn nên tôi đánh liều đào hầm, bọc mộc bản vào bao nylon rồi chôn giấu dưới đất. Sau một vài năm, tôi đào nguyên cái hầm lớn dưới nhà, đêm đêm cả nhà lại xuống hầm thắp đèn làm tranh. Tranh làm xong lấy dây buộc vào lưng rồi mặc áo quần để che, đưa lên thành phố, vào các vùng Quảng Nam, Quảng Ngãi… bán”.
20 năm sau, khi đất nước mở cửa, đời sống kinh tế đi lên, nhận thức cũng dần thay đổi. Đảng, Nhà nước chủ trương khôi phục lại những làng nghề truyền thống. Với nghề làm tranh làng Sình, ngày đó duy chỉ còn ông Phước còn mộc bản in tranh và biết làm tranh.
Với quyết tâm khôi phục làng tranh truyền thống, ông tự nguyện bỏ tiền, bỏ công ngày đêm cặm cụi ngồi khắc bản mộc in tranh đem đến từng nhà vận động dân làng tiếp tục làm tranh. Tranh họ làm ra, ông lại phải lặn lội mang đi khắp các chợ trong và ngoài tỉnh để chào hàng. Mưa dầm thấm lâu, dân làng dần tin tưởng và làm theo ông. Hiện nay, làng Sình đã có trên 50 hộ theo nghề làm tranh.
Những năm gần đây, nhận thấy nhu cầu xã hội cần thêm tranh trang trí nên ông Phước đã mày mò, khắc bản mộc để đưa những trò chơi như đấu vật truyền thống của làng Sình lên tranh. Ngoài ra còn có những bức tranh trang trí thuộc đề tài dân gian và tranh bát âm, 12 con giáp… làm phong phú thêm cho tranh làng Sình.
Chính những đóng góp to lớn trong việc phục sinh tranh làng Sình, ông Phước đã được tặng nhiều bằng khen, giấy khen của tỉnh và là một trong những nghệ nhân được tôn vinh. Mới đây, bộ lịch Bát âm của ông được bình chọn là sản phẩm công nghiệp nông thôn tiêu biểu tình Thừa Thiên – Huế năm 2013.
Làm tranh làng Sình thu nhập không bao nhiêu, mỗi lao động kiếm bình quân từ 20.000 – 50.000 đồng/ngày. Tết đến, xuân về tranh bán chạy hơn, thu nhập mới lên được 50.000 - 70.000 đồng/người/ngày, giải quyết được việc làm cho người dân sau những mùa vụ nông nhàn. Thế nhưng, Nghệ nhân Kỳ Hữu Phước tâm sự: “Thu nhập của nghề thấp lắm”.
Theo Ngọc Vũ (Dân Việt)
Tải mã QRCode
Tháng sáu, nhân Ngày Báo chí Cách mạng Việt Nam, Sông Hương dẫn lại một số tư liệu về Hồ Chủ tịch với báo giới trên báo Quyết Chiến của Huế những năm 1945, để bạn đọc có thêm tư liệu về một nhân cách lớn, một trí tuệ lớn của vị lãnh tụ mà báo giới đã hết sức kính trọng ngay từ những ngày đầu cách mạng.
Không ít vị khách chắp tay chào thiền sư một cách kính cẩn, không nghĩ rằng mình đang đối diện với một bức tượng thiền sư được tạo tác giống hệt người thật.
Hoàng hôn trên sông Hương, sắc phượng đỏ trong Hoàng thành, vẻ đẹp của vịnh Lăng Cô... là những hình ảnh khó quên về xứ Huế đầu thập niên 1990.
Là điểm du lịch nổi tiếng của Thừa Thiên - Huế, Bạch Mã có rất nhiều nơi để khám phá...
Dù nằm giữa thành phố Huế, nhưng Thủy Biều lại mang dáng dấp của một làng quê yên bình với khu vườn thanh trà ngát hương và những ngôi nhà rường hàng trăm năm tuổi.
Thương về miền Trung bấy lâu nay được biết đến qua giọng hát của ca sĩ Duy Khánh cũng như nhạc sĩ Minh Kỳ - tác giả của ca khúc “Thương về xứ Huế”. Tuy nhiên, tác giả thực sự của bài hát này lại là Châu Kỳ, nhạc sĩ gắn liền với bản “Giọt lệ đài trang”.
Đánh bài tới là thú chơi dân gian phổ biến ở Huế nói riêng và miền Trung nói chung.
Rừng Rú Chá là rừng ngập mặn nguyên sinh duy nhất còn tồn tại trên phá Tam Giang (tỉnh Thừa Thiên – Huế).
Những tiếng vọng toan lo từ biển khơi dội vào các dòng văn, dòng thơ trong chuyên đề VỌNG BIỂN trên Sông Hương số này, là những trăn trở chung cùng đồng bào, cùng đất nước.
Đầm Lập An là một trong những đầm nước lợ, có cảnh đẹp nên thơ, là một đầm nổi tiếng trong hệ thống đầm phá phong phú của Thừa Thiên Huế. Tuy là đầm nhưng nước rất trong có thể nhìn thấy đáy...
Vạc đồng thời Chúa Nguyễn là 1 trong số 5 hiện vật tại Huế được Thủ tướng Chính phủ ký quyết định công nhận Bảo vật quốc gia đợt 4.
Huế là địa điểm thu hút khách du lịch trong và ngoài nước bởi bề dày văn hóa lâu đời, cảnh quan thiên nhiên đẹp cùng quần thể di tích lịch sử.
Đất nước đang trên hành trình 30 năm Công cuộc Đổi mới, kể từ năm 1986. Nền văn học nghệ thuật của nước nhà cũng vậy, đang hướng đến việc đánh giá chặng đường 30 năm đổi mới. Văn nghệ xứ Huế trong 30 năm qua cũng đã có những thành tựu mới, cũng có những hạn chế cần được gợi mở để cho những trang viết về sau vượt qua, sung mãn hơn, nghệ thuật hơn, đầy trách nhiệm nhân văn hơn. Kể từ số báo này, Sông Hương sẽ khởi đăng những bài viết nghiên cứu liên quan đến chủ đề này. Việc nhìn nhận lại văn nghệ Thừa Thiên Huế sẽ được giới thiệu đầy đủ hơn trong các số báo tiếp theo, sau khi Hội Nhà văn Thừa Thiên Huế và Tạp chí Sông Hương tổ chức hội thảo về Văn học Thừa Thiên Huế 30 năm đổi mới 1986 - 2016 vào khoảng tháng 6 tới đây.
“Ngài” rùa đá được xem như một trong hai linh vật để trấn yểm vùng đất Phú Lộc (Thừa Thiên - Huế), trên đầu “ngài” còn có một chữ Vương.
Huế có những sáng mờ sương, sương giăng kín những tuyến phố, bầu trời như sà xuống tận đầu người, xứ Huế vốn mộng mơ càng thêm huyền ảo.
Lối kiến trúc độc đáo thuộc hệ phái thevarada (Nam tông) tạo cho chùa Thiền Lâm một nét đẹp khác biệt so với các cổ tự đất cố đô.
Cố đô Huế bây giờ không còn trầm mặc, phong cảnh về đêm thật quyến rũ bởi việc chiếu sáng nghệ thuật cầu Trường Tiền.
Sáng 10-3, Sở VHTT&DL tỉnh Thừa Thiên- Huế phối hợp với UBND huyện A Lưới đã tổ chức lễ hội Ariêu Car_một trong những lễ hội văn hóa truyền thống lớn với sự tham gia đông đảo cộng đồng người dân tộc thiểu số Pa Cô, Tà Ôi, Cơ Tu, Pa Hy đang sinh sống ở địa bàn vùng cao huyện A Lưới .
Nhà vườn An Hiên, phủ thờ Công chúa Ngọc Sơn, Xuân Viên Tiểu Cung... là những nhà vườn đẹp bậc nhất xứ Huế. Hệ thống kiến trúc dân gian này là một điểm nhấn trong khám phá nét đẹp văn hóa Cố đô.
Lễ hội A riêu Car là dịp để các dân tộc hội tụ, thể hiện tinh thần đoàn kết, tính cộng đồng, bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa truyền thống.