Sống - chết với tranh làng Sình

10:22 14/01/2014

Sau bao thăng trầm của cuộc sống, tranh làng Sình xứ Huế có lúc tưởng chừng đã bị xóa sổ... Nhưng may mắn vẫn còn một người đau đáu với nghề làm tranh - Nghệ nhân Kỳ Hữu Phước. Ông đã gìn giữ và phục sinh nghề truyền thống có tuổi đời gần 500 năm.
 

Những bản mộc in tranh làng Sình được ông Phước giữ gìn cẩn thận.

Tinh hoa tranh làng Sình

Một ngày giáp Tết Nguyên đán Giáp Ngọ, ngược dòng sông Hương thơ mộng hơn 10km, chúng tôi tìm về nhà Nghệ nhân Kỳ Hữu Phước ở làng Sình, xã Phú Mậu, huyện Phú Vang, Thừa Thiên – Huế. Trước căn nhà cấp 4 đơn sơ đã phủ màu thời gian là một ông già nước da ngăm đen, bàn tay chai sần đang tỉ mẩn với những công đoạn in hình, tô màu để tạo ra những bức tranh độc đáo mang tên tranh làng Sình.
Vừa sắp những bản khắc gỗ để in bộ lịch chào xuân Giáp Ngọ, ông Phước vừa cho biết: “Tranh làng Sình có tuổi đời gần 500 năm. Vào khoảng cuối thế kỷ 14 đầu thế kỷ 15, cùng với dòng người theo chân Chúa Nguyễn vào đất Thuận Hóa lập nghiệp, ông Kỳ Hữu Hòa đã mang theo nghề làm tranh giấy mộc bản vào làng Sình định cư và truyền dạy. Ông Hòa được coi là tổ nghề tranh làng Sình”.

Để có một bức tranh phải trải qua 7 công đoạn, từ xén giấy, quét điệp, in tranh trên mộc bản, phơi tranh, pha màu, tô màu, cuối cùng là điểm nhãn. Đầu tiên, dùng mực màu đen phết lên bản mộc rồi dùng giấy dó in thành một bức tranh thô. Đem phơi cho khô mực rồi dùng các loại màu tự pha chế để tô vẽ họa tiết lên tranh, sau đó đem phơi lại cho khô mới thành một bức tranh hoàn chỉnh. Trước kia, tranh làng Sình hoàn toàn sử dụng giấy dó, nhưng nay để tiện và đỡ tốn kém, người ta đã chuyển sang sử dụng giấy công nghiệp và tô bằng phẩm màu. Chỉ riêng ông Phước vẫn trung thành với vật liệu giấy dó và màu tự nhiên.

Mộc bản để in tranh làng Sình làm bằng gỗ mít, thị hay gỗ mức và không phải ai cũng có thể làm được, chỉ có ông tổ, hoặc những nghệ nhân tài hoa nhất của làng Sình mới có thể khắc nên để giữ đúng bản sắc, và lưu truyền cho hậu bối làm nghề. Hiện nay, chỉ còn mình ông Phước khắc được mộc bản tranh làng Sình. Đó cũng là nỗi trăn trở của chính ông vì sợ rằng khi mình không còn nữa, tranh làng Sình sẽ mai một theo thời gian.

Bút để tô vẽ tranh do chính ông Phước sáng tạo nên. Ông Phước cho biết: “Tổ tiên xưa dùng cành tre non đập mịn một đầu làm bút. Nhưng từ lên 7 tuổi, tôi đã dùng ruột của rễ cây dứa dại làm bút. Bút rễ dứa bền và mịn hơn bút tre gấp trăm lần”.

Sự khác biệt của tranh làng Sình với các dòng tranh dân gian khác chính ở nét vẽ và bố cục thô sơ, đậm chất làng quê. Mỗi bức đều mang trong mình tâm trạng của nghệ nhân lúc đó.

Thổi hồn cho tranh

65 tuổi nhưng ông Phước đã có hơn 60 năm làm tranh. Ông là đời thứ 9 trong dòng họ Kỳ theo nghiệp làm tranh dân gian làng Sình. Chứng kiến bao thăng trầm lịch sử cũng như những biến thiên của tranh làng Sình, ông Phước cho biết, thời kỳ trước ngày đất nước thống nhất (1975), nghề tranh làng Sình phát triển thịnh vượng, người người, nhà nhà đều làm tranh. Nhưng sau giải phóng, nghề làm tranh làng Sình bắt đầu mai một.

Lúc đó, đất nước khó khăn, học sinh còn không có giấy đi học nên việc làm tranh được cho là phí phạm, những người làm tranh phục vụ việc thờ cúng còn bị xem là truyền bá mê tín dị đoan, các mộc bản tranh bị tịch thu chẻ làm củi đốt. Duy chỉ mình ông Phước giữ được nguyên vẹn hơn 100 bộ mộc bản làm nghề.

Ông Phước kể lại: “Nghĩ là nghề của tổ tiên dày công để lại mà không giữ được thì có tội lớn nên tôi đánh liều đào hầm, bọc mộc bản vào bao nylon rồi chôn giấu dưới đất. Sau một vài năm, tôi đào nguyên cái hầm lớn dưới nhà, đêm đêm cả nhà lại xuống hầm thắp đèn làm tranh. Tranh làm xong lấy dây buộc vào lưng rồi mặc áo quần để che, đưa lên thành phố, vào các vùng Quảng Nam, Quảng Ngãi… bán”.
20 năm sau, khi đất nước mở cửa, đời sống kinh tế đi lên, nhận thức cũng dần thay đổi. Đảng, Nhà nước chủ trương khôi phục lại những làng nghề truyền thống. Với nghề làm tranh làng Sình, ngày đó duy chỉ còn ông Phước còn mộc bản in tranh và biết làm tranh.

Với quyết tâm khôi phục làng tranh truyền thống, ông tự nguyện bỏ tiền, bỏ công ngày đêm cặm cụi ngồi khắc bản mộc in tranh đem đến từng nhà vận động dân làng tiếp tục làm tranh. Tranh họ làm ra, ông lại phải lặn lội mang đi khắp các chợ trong và ngoài tỉnh để chào hàng. Mưa dầm thấm lâu, dân làng dần tin tưởng và làm theo ông. Hiện nay, làng Sình đã có trên 50 hộ theo nghề làm tranh.

Những năm gần đây, nhận thấy nhu cầu xã hội cần thêm tranh trang trí nên ông Phước đã mày mò, khắc bản mộc để đưa những trò chơi như đấu vật truyền thống của làng Sình lên tranh. Ngoài ra còn có những bức tranh trang trí thuộc đề tài dân gian và tranh bát âm, 12 con giáp… làm phong phú thêm cho tranh làng Sình.

Chính những đóng góp to lớn trong việc phục sinh tranh làng Sình, ông Phước đã được tặng nhiều bằng khen, giấy khen của tỉnh và là một trong những nghệ nhân được tôn vinh. Mới đây, bộ lịch Bát âm của ông được bình chọn là sản phẩm công nghiệp nông thôn tiêu biểu tình Thừa Thiên – Huế năm 2013.

Làm tranh làng Sình thu nhập không bao nhiêu, mỗi lao động kiếm bình quân từ 20.000 – 50.000 đồng/ngày. Tết đến, xuân về tranh bán chạy hơn, thu nhập mới lên được 50.000 - 70.000 đồng/người/ngày, giải quyết được việc làm cho người dân sau những mùa vụ nông nhàn. Thế nhưng, Nghệ nhân Kỳ Hữu Phước tâm sự: “Thu nhập của nghề thấp lắm”.

 


Theo Ngọc Vũ (Dân Việt)


 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • Vào chiều ngày 16/10, Hội Nhà Văn Thừa Thiên Huế đã phối hợp với Tạp chí Sông Hương tổ chức buổi giới thiệu tác phẩm của nhà nghiên cứu, phê bình lý luận văn học Trần Huyền Sâm “Nữ quyền luận ở Pháp và tiểu thuyết nữ Việt Nam đương đại.” Tham dự buổi lễ có đông đủ những nhà nghiên cứu, nhà văn, nhà thơ, các bạn sinh viên cũng như những công chúng yêu văn học đến từ Huế.

  • Tháng Mười, không gian Huế chuyển mùa từ những cơn mưa, tiết trời mát mẻ sau những ngày nắng đổ lửa của thời “biến đổi khí hậu”. Sự chuyển mùa lan cả sang cây lá đó, như thể đã bắt đầu từ lúng liếng dịu êm ánh mắt con gái, hay chính từ bàn tay mềm mại đong đầy nữ tính của họ, chảy vào những trang văn ngập ngời hứng khởi trong cõi nhân gian… 

  • Là một trong những trung tâm văn học nghệ thuật của cả nước, trong những ngày tháng 8, tháng 9, Huế liên tục đón các văn nghệ sĩ tên tuổi trong và ngoài nước đến thăm. Trong đó đáng chú ý là buổi giao lưu của nhà thơ Du Tử Lê và cuộc triển lãm Nghệ thuật Đảo ngược của danh họa Nguyễn Đại Giang. Cũng nhân dịp này, danh họa Nguyễn Đại Giang đã tặng 3 bức tranh của mình cho Bảo tàng Mỹ thuật Huế trong tương lai. Đây thật sự là một tín hiệu vui cho văn hóa Huế. Vầng trăng tròn Mùa Trung thu đang xanh, kính chúc quý bạn đọc một mùa vang vọng thật nhiều tiếng cười thơ trẻ.

     

  • Tháng chín, mùa thu, các cánh đồng làng quê vào vụ gặt, hương lúa mới, mùi rơm rạ tỏa khắp vùng ngoại ô. Và những cơn mưa đầu mùa sau những tháng hè khát cháy đã đổ xuống, không gian như mềm hẳn ra, dịu dàng dưới mưa… Cảm nhận mùa thu rõ rệt nhất trong những ngày này đang như thể bàng bạc hơn trong không gian cỏ cây ở các làng mạc…

  • Thiên Mụ và Sùng Hóa, hai ngôi quốc tự ra đời sớm nhất tại Đàng Trong, không chỉ là điểm quy hướng tâm linh của cộng đồng mà còn là nơi thường diễn ra các quốc lễ, các nghi lễ Phật giáo quan trọng kể từ đầu thế kỷ XVII.

  • “Thét Tiếng Dân giữa kinh thành Huế”, đó là lời của cố Tổng Bí thư Trường Chinh tại Hội nghị Văn hóa toàn quốc (tháng 7/1948) tại chiến khu Việt Bắc khi ngợi ca về 16 năm hoạt động sôi nổi, ắp đầy hào khí cách mạng của tờ báo Tiếng Dân.

  • Thiền viện Trúc Lâm Bạch Mã nằm trên địa bàn xã Lộc Hòa, huyện Phú Lộc (Thừa Thiên - Huế). Từ Đà Nẵng ra, nằm cách Quốc lộ 1A khoảng 10km, cách thành phố Huế khoảng 30km, con đường vào Thiền viện có đoạn đường nhựa, có đoạn bê-tông, có đoạn chạy bên bờ sông Truồi thơ mộng để đến hồ Truồi với non xanh nước biếc hữu tình.

  • Phá Tam Giang có chiều dài 24km, theo hướng Tây Tây Bắc – Đông Đông Nam từ cửa sông Ô Lâu đến sông Hương, ra cửa biển Thuận An, thuộc địa phận 12 xã của 3 huyện Phong Điền, Quảng Điền, Hương Trà, Thừa Thiên – Huế.

  • Tiếp tục chủ đề văn học Việt Nam 30 năm đổi mới, số báo này giới thiệu bài nghiên cứu “Tâm thức hậu hiện đại trong tiểu thuyết Việt Nam 1986 - 2010”. 

  • Chùa ở Huế thường không quá rộng về mặt diện tích nhưng bề sâu văn hóa và kiến trúc độc đáo là lại in đậm trong từng nét rất riêng của các công trình nơi đây. Mà nói đến du lịch tâm linh ở đất này thì không thể không đến tổ đình Từ Hiếu đã gắn bao thăng trầm đất cố đô.

  • Trước khi lấy vua Bảo Đại năm 19 tuổi, Hoàng hậu Nam Phương từng ba năm liền đoạt giải hoa hậu Đông Dương.

  • Cố đô Huế là mảnh đất giàu chất thơ và đậm văn hóa. Đến đây, du khách không thể bỏ qua sự cầu kỳ và tinh tế của ẩm thực hay giọng ca.

  • Minh Mạng là một trong những vị Vua có đông Công chúa, Hoàng tử nhất lịch sử Việt Nam. Trong số 142 người con của mình, Công chúa thứ 4, hiệu là An Thường, được Nhà vua thương yêu hơn cả bởi từ nhỏ đã hiền hòa, hiếu thảo. Trong đó có câu chuyện về món nầm dê Vua ban khiến cả cung đình Huế cảm động. 

  • Hội chữ thập đỏ huyện nam Đông vừa tổ chức hội nghị triển khai nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2016.

  • Huế trải hơn 350 năm lịch sử là thủ phủ Chúa Nguyễn Đằng Trong và Kinh Đô nước Việt triều Nguyễn, nhân dân lao động cả nước đã tạo nên Di sản văn hóa thế giới . Một trong những đặc trưng nổi bật của văn hóa Huế là văn hóa ẩm thực.

  • Ẩm thực Huế phong phú, lại vô cùng đặc sắc mà không nơi mô có được. Đến với xứ Thần Kinh, bạn sẽ được thưởng thức một món chè bột lọc bọc thịt heo quay, được xem là món chè độc đáo nơi cung đình từ thuở xa xưa còn lưu truyền đến ngày nay.

  • Theo thống kê, Huế có tới 175 loài thuộc 45 họ thực vật khác nhau, với đủ các kiểu dáng tự nhiên và gam màu cơ bản như xanh, vàng, đỏ, tím…

  • Nhà văn là ai? Tác phẩm của anh ta đảm nhận những sứ mệnh nào? Đâu là những giới hạn của văn chương? Đó là những câu hỏi mà nhiều người cầm bút đã tự vấn. Có nhiều người cho rằng, sứ mệnh duy nhất của nhà văn, không gì khác đó là hướng đến những giá trị nhân văn, chính giá trị nhân văn đã khiến tác phẩm nhà văn vượt qua mọi giới hạn. 

  • Ngày 23 tháng 5 Âm lịch hàng năm là ngày cúng âm hồn của người dân thành Huế. Việc tổ chức cúng âm hồn có liên quan đến sự kiện kinh đô thất thủ năm 1885.

  • Huế là chốn kinh đô trong hơn 100 năm triều đại phong kiến Việt Nam, và ngày nay, Huế mang một không gian nhẹ nhàng, yên tĩnh, và có gì đó hoài niệm, buồn man mác. Với nhiều người yêu thích lịch sử, truyền thống, Huế là điểm phải đến khi du lịch miền Trung, thế nhưng nhiều người lại không thích đến Huế, nói rằng Huế chán lắm, chẳng có gì chơi. Hãy cùng mình tìm hiểu những lý do tại sao bạn không nên đến Huế nhé!