HỒ VĨNH
Đại bác là một từ dùng chung cho tất cả các loại trọng pháo hay súng lớn. Tiền thân của chúng là những máy ném đá (Thạch pháo) ra đời cách đây 1.000 năm. Từ thế kỷ XV đến thế kỷ XVIII ở Việt Nam đã xuất hiện các loại pháo bằng đồng và pháo bằng sắt mà ngày nay chúng ta thường gọi là súng thần công.
Bốn khẩu trong Cửu vị thần công có tên Xuân, Hạ, Thu, Đông tại Huế - Ảnh: wiki
Thời Trịnh Nguyễn phân tranh, do việc mở mang giao thương, với các nước Đông Á (như Trung Hoa, Nhật Bản) và các thương nhân phương Tây (Bồ Đào Nha, Hà Lan, Tây Ban Nha...) Việt Nam đã nhờ họ cải tiến kỹ thuật đúc súng tương đối tinh xảo.
Đến thế kỷ XIX (thời kỳ đầu của nhà Nguyễn) xuất hiện nhiều kiểu pháo lớn, gắn trên giá có bánh xe, nạp đạn qua miệng pháo với những quả đạn gang tròn. Những khẩu pháo có thành tích được phong tước Hầu, tước Bá... Trong giai đoạn 1802-1885 súng thần công là vũ khí quan trọng hàng đầu trang bị cho những binh đội thiện chiến của nhà Nguyễn. Hiện nay thành phố Huế còn lưu giữ được 33 khẩu. Đây là những di vật cổ bằng đồng có giá trị lịch sử quý hiếm được đúc dưới thời vua Gia Long và Minh Mạng. Qua nghiên cứu thực tế chúng tôi đã lập bảng thống kê.
Trong 33 khẩu thần công đó có 22 khẩu bằng đồng và 11 khẩu bằng sắt. Chín khẩu súng bằng đồng (Cửu vị thần công) đúc thời Gia Long (1804) có kích thước lớn nhất, nặng nhất và được trang trí đẹp nhất. Chiều dài của mỗi khẩu là 5,10m, đường kính nòng 0,23m, nòng dày 0,43m, phía sau đo vòng quay được 2,6m, giá để súng bằng gỗ dài 2,75m, cao 0,73m, mỗi khẩu nặng hơn 10 tấn. Phía bên phải có khắc bài chế thuốc và có các loại đạn. Ngoài ra trên thân mỗi súng có khắc một bài minh nêu lý do đúc súng. Có tám dải hoa văn trang trí hình hoa lá chạy quanh thân súng. Giữa thân súng có gắn hai quai lớn chạm hình hai con lân. Ở gờ cuối cùng gần khối hậu có hai hàng chữ Hán: hàng trên có ba chữ "Mệnh Gia Long" (Lệnh vua ban xuống) hàng chữ dưới được chia làm hai phần: phần phải ghi chức tước và tên nhóm "Danh thần uy vô địch Thượng Tướng Quân cửu lập đệ nhất" (Súng được xếp thứ nhất trong chín vị tước Danh thần uy vô địch Thượng Tướng quân), phần trái ghi năm tháng phong tước danh "Thập ngũ niên tuế thứ Bính Tý cát nguyệt nhật" (súng được phong tặng năm Gia Long thứ 15 (1816) vào ngày tháng tốt). Ngoài ra ở cuối núm súng được khắc nổi một chữ Hán chỉ tên riêng của súng. Súng đặt bên trong cửa Quảng Đức theo thứ tự từ trong ra: Xuân, Hạ, Thu, Đông. Theo tài liệu cho biết chín khẩu thần công này chỉ để dùng trang trí và thị uy, chưa hề sử dụng trong việc chinh chiến.
Bên cạnh cửu vị thần công, Viện Bảo tàng cổ vật Huế tại số 3 Lê Trực còn lưu giữ hai khẩu thần công đúc thời Minh Mạng. Đây là hai khẩu đại bác duy nhất có khẩu kính 310 ly. Hai khẩu này đặt trên hai bệ xi măng. Súng đặt bên trái dài 1,06m, trên thân súng có bốn khoang 3 gờ chia thân súng không đều nhau, thân súng để trơn, không có trang trí hoa văn. Trên gờ cuối cùng gần lỗ điểm hỏa có hàng chữ Hán: "Ngự chế - Thần uy phá địch Đại Tướng quân đệ nhất lập" (Súng làm ra xếp thứ nhất tước Danh thần uy vô địch Đại Tướng quân). Ở cuối núm của súng trên gờ nổi có khắc hàng chữ "Minh Mạng thập ngũ niên chú" (Súng đúc năm Minh Mạng thứ 15) (1834).
So với Cửu vị thần công, hai khẩu súng đúc thời Minh Mạng không có bảng chỉ dẫn cách bắn, cách dùng đạn và cũng không có bảng giới thiệu kích thước và trọng lượng. Bên cạnh súng còn đặt một viên đạn bằng đá tròn có kích thước 299mm.
Tại di tích Trấn Hải Thành (bảo vệ cửa Thuận An) có 3 khẩu, mỗi khẩu nặng 1.500 kg. Ba khẩu súng này đã có thành tích chống Pháp trong ba ngày 16, 17, 18 tháng 7 năm Quí Mùi (1883). Ngày 12/8/1989 vừa rồi chủ tịch xã Hà Trọng Phương đã bán ba khẩu súng lịch sử này cho ông Nguyễn Oanh (người cùng xã) với số tiền 200.000 đồng. Nhân dân xã Thuận An đã phản ánh với cảnh sát kinh tế thành phố, ba khẩu súng được thu hồi. Đáng tiếc là một trong ba khẩu súng ấy đã bị ông Nguyễn Oanh cho người "cưa đứt làm hai"(1). Ba khẩu súng kể trên hiện để tại cơ quan công an thành phố Huế. Cũng trong thời gian ấy, bọn chuyên đi đào sắt vụn đã đào trộm một khẩu thần công ở khu vực Đại nội - Huế, may sao Công ty quản lý di tích lịch sử và văn hóa phát hiện và thu hồi được.(2)
Ở địa phận xã Thủy Phù huyện Hương Thủy (cách Huế chừng 15km về phía nam, trên quốc lộ 1A) có hai khẩu thần công đúc thời Gia Long. Dưới chế độ cũ, nơi đây là cơ quan quân sự, hai khẩu súng này có lẽ chở từ Huế về và đặt trước cổng để trang trí. Sau năm 1975, cơ quan chuyển làm doanh trại của một đơn vị bộ đội. Đầu năm 1989, chúng tôi về nghiên cứu còn thấy hai khẩu thần công ở đó nhưng đến nay đã mất. Qua điều tra được biết kẻ gian lợi dụng lúc cơ quan bàn giao cho đơn vị khác, đã "gánh đi" bán sắt phế liệu vào tháng 10 năm 1989.(3)
Lúc "cơn sốt đồng" đang tăng nhiệt độ ở một số địa phương, Công ty quản lý di tích và văn hóa Huế buộc phải di chuyển hai khẩu thần công đặt trước Phu Văn Lâu vào giữ ở nhà Hữu Vu (Đại Nội-Huế). Hai khẩu thần công này có cùng chiều dài đo được 1,34m và có hình dạng giống nhau. Thân súng có sáu khoang, sáu gờ, phân chia không đều nhau, đầu súng thon nhỏ lại, miệng hơi loe, phần đuôi phình ra và được đúc kín (gọi là khối hậu), cuối cùng là một mún tròn hơi dẹt. Thân súng có gắn quai hình rồng, cách nhau 12cm. Ở khoảng cuối súng có lỗ điểm hỏa, ở trên mặt súng có chạm một miếng hoa văn nổi. Trên gờ cuối cùng có hai hàng chữ: hàng trên "Mệnh Minh Mệnh" (Lệnh vua ban xuống), hàng chữ dưới được chia làm hai : phần phải ghi "Danh thắng uy tướng quân đệ cửu lập" (Súng xếp thứ chín tước Danh Thắng uy Tướng quân); phần trái ghi: "Nhị niên tuế thứ Tân Tỵ cát nguyệt nhật tạo” (Súng làm năm Minh Mệnh thứ 2 (1821) vào ngày lành tháng tốt). Trục quay hình trụ dài 77mm, đường kính 80mm. mặt ngoài hình tròn (của hai bên trục quay) có khắc chữ: Trục bên phải ghi "Lục bách ngũ thập lục cận thông trường tam xích tứ thốn nhị phân, tâm trường tam xích tâm hoành vãng nhị thốn nhị phân" (nặng 656 cân, chiều dài ba thước bốn tấc hai phân, chiều dài nòng (tổng cộng) ba thước, bề ngang (đường kính) hai tấc hai phân); trục bên trái ghi: "Đích xạ hảo hạng dược nhị cân tứ hạng bi chỉ dụng cương bi nhị thốn nhất phân" (Bắn trúng tốt nhất thuốc đạn hai cân bốn lạng, đạn bi sắt hai tấc một phân).
Hiện nay phía trước Phu Văn Lâu, Công ty quản lý di tích và văn hóa Huế trưng bày hai khẩu súng thần công mô phỏng theo kiểu hai khẩu súng trên bằng chất liệu xi-măng cốt sắt.
Ngoài 28 khẩu súng của thời Nguyễn, Viện Bảo tàng cổ vật Huế còn lưu giữ năm khẩu có ký hiệu và chữ số của Hà Lan. Những khẩu súng này có lẽ là chiến lợi phẩm của trận đánh nổi tiếng giữa thủy quân ta và đội tàu chiến Hà Lan vào tháng 4 năm Giáp Thân (1644): "50 chiếc thuyền vùn vụt như bay trên mặt bể, tập trung công phá ba chiếc tàu của Picter Back. Thủy quân Nam Việt nhảy lên tàu chiến địch, đẵn cột buồm, chặt bánh lái, cắt dây lèo, đánh giáp lá cà bằng bạch khí. Quan quân Hà Lan hoảng sợ đến mức đô đốc Picter Back cùng 200 quan quân Hà Lan chìm theo soái hạm"(4). Đây là trận hải chiến lịch sử thời Chúa Nguyễn Phúc Tần (1648 - 1687).
Tất cả số súng đại bác kể trên đều có trọng lượng khác nhau nhưng nói chung chúng đều nặng và được đúc rất dày. Chúng tôi chưa có điều kiện xác định trọng lượng số súng còn lại.
Theo Đại Nam nhất thống chí: Mặt tiền chỗ Chính trung xây kỳ đài, ở trên thành (cả 4 mặt) có xây 25 pháo đài... và có 455 sở pháo xưởng canh điếm(5). Như vậy số đại bác trước đây được bố trí trên hệ thống chiến lũy ở kinh thành Huế trên 450 khẩu.
Trong một chuyến điền dã, chúng tôi có dịp khảo sát 24 pháo đài ở kinh thành Huế. Theo chỗ quan sát của chúng tôi chỉ có một pháo đài duy nhất còn lại một tấm bia. Bia cao 0,58m, rộng 0,43m, dày 0,13m, mặt trước bia khắc nổi ba chữ: "Đông Phụ Đài" (cỡ chữ 14x13 cm) (Pháo đài Đông Phụ). Pháo đài này kế bên Đông Thành Thủy quan (tục gọi là Cống Lương Y). Cách bia chừng 12m có một kho thuốc súng xây theo kiểu cuốn vòm rất chắc. Pháo đài Đông Phụ được bố trí bốn nhóm pháo lộ (chỗ lõm xuống để đặt súng) gồm hai nhóm ở hai mặt và hai nhóm ở hai hông. Các pháo lộ cách nhau 5,50 m ở mặt ngoài và 4,40 m ở mặt trong, bề cao chỗ kê súng 0,22m, khoảng cách giữa đáy và đỉnh pháo lộ 0,85m, chiều rộng mặt trước 0,86m, phía sau tường bắn được trổ rộng 2,55m để đặt súng và đứng bắn. Như vậy pháo đài Đông Phụ có 8 pháo lộ đều có kích thước giống nhau. Dĩ nhiên trước đây ở 8 pháo lộ này phải bố trí 8 khẩu đại bác và có cùng 8 khẩu đội. Muốn bắn những khẩu đại bác này phải thao tác như sau: tống thuốc nhồi vào bên trong khối hậu thật chặt, tiếp đến luồn dây ngòi qua lỗ châm ngòi vào trong khối hậu, xong tiếp đến nạp cho viên đạn gang tròn có đường kính 100 mm vào nòng (viên đạn này dành cho loại súng có khẩu kính 105 ly), sau đó đánh lửa châm ngòi.
Việc bắn súng phức tạp như vậy nên mỗi khẩu pháo có một khẩu đội 5 người phục vụ dưới quyền chỉ huy của một khẩu đội trưởng: Pháo thủ 1: mang đạn, Pháo thủ 2: mang thuốc, Pháo thủ 3: nhồi thuốc, Pháo thủ 4: đánh lửa, Pháo thủ 5: châm ngòi.
Tất cả các loại súng đại bác bằng đồng thời Nguyễn đã cải tiến và tiếp cận với kỹ thuật mới. Dựa theo kích thước, khẩu kính và trọng lượng, chúng tôi tạm thời phân 33 khẩu đại bác còn tìm thấy ra làm 3 hạng:
Hạng nhẹ từ 20mm đến 100mm: 12 khẩu.
Hạng vừa khoảng trên dưới 155mm: 10 khẩu.
Hạng nặng từ 155mm trở lên: 11 khẩu với tầm đạn xa trên 1200 m.
Vào đêm 22 rạng 23/5/1885 trên 450 khẩu đại bác đã bố trí khắp tất cả 24 pháo đài ở kinh thành Huế được sử dụng. Đầu canh tư (1 giờ sáng), Tôn Thất Thuyết lệnh nổ súng bắn vào đài Trấn Bình (Mang cá nhỏ). Đại úy Bruy-nô bị một mảnh đạn xuyên ngực chết ngay. Đại úy Đơn-ru-in gãy hai ống chân. Tiếng đại bác mỗi phút một giòn giã vang trời chuyển đất (6). Lần đầu tiên pháo lớn của quân đội Việt Nam được sử dụng nhiều nhất. Và, cũng là lần đầu tiên quân đội Việt Nam thấy được sự lạc hậu của pháo lớn Việt Nam xưa. Dù sao, những khẩu súng lớn ấy cũng là một di sản vô giá đánh dấu một giai đoạn công nghệ Việt Nam.
Để đúc những khẩu đại bác nghìn cân ấy phải có một hiệp thợ đúc đồng có kỹ thuật cao, biết tổ chức phối hợp đồng bộ qua các khâu làm mẫu, tạo khuôn, đúc, làm nguội và trang trí. Kỹ thuật đúc súng thần công của Việt Nam xưa không chỉ nổi tiếng về kích thước, trọng lượng mà còn về trình độ pha chế kim loại cao. Hoa văn, chữ khắc rõ ràng, chắc nét. Hình thức mang tính biểu tượng mạnh mẽ.
Ba mươi khẩu đại bác bằng đồng và sắt còn lại ngày nay là những di vật cổ hiếm quí. Đây là những tác phẩm nghệ thuật biểu thị tài năng bậc thầy của những nghệ nhân đương thời, nhưng chúng đang bị "Cơn sốt đồng" và "sắt phế liệu" đe dọa ngày đêm. Xin báo động để những cơ quan có trách nhiệm và đồng bào cùng lo.
Huế 4.1.1991
H.V
(TCSH45/03-1991)
----------------
(1) Vụ mua bán trái phép và phá hoại di tích lịch sử xã Thuận An, báo Tin Huế, số 9 (Bộ mới) ra ngày 1.9.1989. tr.10.
(2) Theo lời kể của bác Hoàng Dương - nhân viên bảo vệ Công ty Quản lý di tích lịch sử và Văn hóa Huế.
(3) Theo lời kể của anh Nguyễn Chung ở xã Thủy Phù huyện Hương Thủy.
(4) Nguyễn Mạnh Hảo, Thủy quân ta ngày ấy diệt đội tàu chiến Hà Lan, báo Quân đội nhân dân thứ bảy, ra ngày 15.9.1990. Tham khảo thêm Trần Hà Thanh, Công cuộc mở mang miền Nam của Nguyễn Phúc Tần (1648 - 1687), chương IV Hiền Vương thắng thủy quân Hà Lan năm 1644, Đại học Văn Khoa Huế, Huế 1974, In ronéo.
(5) Đại Nam nhất thống chí, Kinh sư, Sài gòn 1960, trang 17.
(6) Nguyễn Xuân Thọ, Cuộc bạo hành tại Huế ngày 5-7-1885, vụ cướp phá hoàng cung - cuộc đề kháng của vua Hàm Nghi và triều Đồng Khánh, tập san Sử Địa số 14-15, Sài Gòn, 1969, trang 14.
Tải mã QRCode
PHẠM ĐĂNG TRÍThuở ấy, có nhiều người từ những miền đất màu mỡ nhưng vẫn dời nhà đến ở trên một vùng gò đồi đầy sỏi đá. Nguyên nhân lôi cuốn họ tới đây là do màu sắc thiên nhiên ở chốn này thật là thanh tú, đa dạng và không ngừng thay đổi.
LÊ VĂN HẢOTháng 12 năm 1979 tại thành phố Pitxanulôcơ (Pitsanulok) Thái Lan, ông Tổng Giám đốc Tổ chức Giáo dục Khoa học và Văn hoá của Liên Hiệp Quốc (gọi tắt là UNESCO) đã triệu tập một cuộc họp của những chuyên gia nhằm chuẩn bị cho một Chương trình nghiên cứu các đô thành lịch sử ở châu Á. Chương trình này sẽ nhằm vào một số đô thành cổ kính đã từng đóng những vai trò có ý nghĩa trong sự phát triển và giao lưu của các nền văn hoá ở châu Á.
Chiều 8.6, tại Nam Châu Hội Quán trên vùng cỏ cây Kim Long xứ Huế, GALA TINH HOA SÔNG HƯƠNG đã được tổ chức nhằm tôn vinh Nhà xuất bản Tinh Hoa - Huế.
NGUYỄN ĐẮC XUÂNỞ mục “Phương vị quê hương” này, tạp chí sẽ lần lượt đăng các bài tìm hiểu văn hoá ngắn gọn nhưng có… duyên văn chương. Chúng tôi vui mừng được sự hưởng ứng của các nhà nghiên cứu lão thành am hiểu Huế - Bình Trị Thiên như các cụ Bửu Kế, Phan Văn Dật, Nguyễn Hữu Đính, Phạm Đăng Trí… cùng các anh Lê Văn Hảo, Nguyễn Đắc Xuân, Phan Thuận An… Chúng tôi cũng mong nhận được bài của các bạn ở các tỉnh miền Trung nói về phong vị quê hương mình để tạo được giao lưu văn hoá trên giải đất gắn bó lâu đời này.
MẶC KHÁCHHuế nguyên là đất đế đô, nơi sinh trưởng của vua chúa, chốn triều đình quan lại, đa số tao nhân mặc khách đều tụ họp về đây. Do đó mà tiếng nói của xứ Huế, trang nhã thanh tao, có khi lại nặng mùi “bề trên” hoặc kiểu cách đến buồn cười.
NGUYỄN HỮU ĐÍNHMột nhà văn tên tuổi địa phương - địa phương nhưng kiêm cả Trung ương - đã say sưa mô tả con sông Hương, với một đầu đề trớ trêu và duyên dáng: “Ai đã đặt tên cho dòng sông?” Trớ trêu và duyên dáng hơn nữa là nêu lên câu hỏi mà không chịu trả lời.
THÁI DOÃN LONGKính tặng thầy: Cao Xuân Hưởng, Nguyễn Trực Luyện và H.N
VÂN LONGHuế đã vào tôi từ thuở thiếu thời qua hai câu thơ của Nam Trân: Thuyền nan đủng đỉnh sau hàng phượng Cô gái Kim Luông yểu điệu chèo
PHAN THUẬN ANCó một bãi đất trống nằm giữa Ngọ Môn và Kỳ Đài. Nói chính xác hơn, không gian ấy được giới hạn bởi đường 23 tháng 8 ở phía bắc, chân tường Kinh thành ở phía nam, con đường ngắn sau cửa Thể Nhân (thường gọi là cửa Ngăn) ở phía đông và con đường ngắn sau cửa Quảng Đức ở phía tây. Chiều bắc nam của nó rộng gần 125m và chiều đông tây dài khoảng 360m.
HỒ VĨNHTôi đứng trên sân thượng Sài Gòn- Morin Huế, nhìn lên phía Tây thành phố trong buổi chiều tà le lói vài tia nắng trên các tán lá rất cao. Nhìn về phía Bắc sông Hương, Thành nội cổ kính chìm trong cây xanh.
NGUYỄN THANH HÙNGTôi chưa biết Huế nên buồn vì bỏ qua một vẻ đẹp. Buồn vì mãi mãi không thể chiêm ngưỡng cố đô của đất nước một thời ngang ngửa. Một khoảng trống văn hóa về cổ vật kiến trúc nguyên vẹn của tịnh đô Huế không thể lấp đầy trong tôi, luôn tin tưởng vào sự hữu linh của vạn vật.
NGUYỄN TRỌNG HUẤN(Nhân xem “Huế - đất mẹ của tôi” sách ảnh của Đào Hoa Nữ. Nhớ Huế, suy ngẫm và…. cảm nhận)
TRƯƠNG THỊ THUYẾT1. Huế không chỉ nổi tiếng là một thành phố đẹp, nên thơ với những danh lam thắng cảnh như sông Hương, núi Ngự, chùa Thiên Mụ và những lăng tẩm cổ kính...mà còn được du khách biết đến bởi những nghề truyền thống của mình.
LÊ THỊ KIỀU HẠNHHiếm có một vùng đất nào trên thế giới mà con người đã tạo ra một bản sắc văn hóa độc đáo như kiểu nhà vườn Huế.
DĨNH QUỐC ANHLăng tẩm Huế là một trong những thành tựu rực rỡ bậc nhất của kiến trúc văn hóa cổ Việt Nam. Ngoài 8 lăng chính của các vua Gia Long, Minh Mạng,Thiệu Trị, Tự Đức, Dục Đức, Kiến Phúc, Đồng Khánh, Khải Định, còn có đến hàng ngàn ngôi mộ tồn tại qua nhiều thế kỷ của các bậc danh nhân văn hóa, người có công với đất nước.
LÊ VIẾT XUÂNCó thể nói, so với các Bảo tàng và Di tích lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh toàn quốc, thì Bảo tàng Hồ Chí Minh Thừa Thiên - Huế có một vị trí quan trọng, sau khu Di tích Kim Liên (Nghệ An), khu Di tích Pác-Bó (Cao Bằng), khu Di tích Phủ Chủ tịch và Bảo tàng Hồ Chí Minh Hà Nội.
BẢO ĐÀN 1. Đặt vấn đề1.1. Như một sự ngẫu nhiên của lịch sử, xứ Huế - từ vùng đất biên viễn quốc gia trong nhiều thế kỷ, trở thành thủ phủ của vùng miền và là kinh đô của một quốc gia thống nhất sau đó. Đây chính là nền tảng thuận lợi để vùng đất này hội tụ, quy tập cho mình một hệ thống làng nghề thủ công, cần thiết cho sự tồn tại và làm tròn vai trò của một vùng trung tâm.
BỬU Ý28 Tháng Hai lại về, gợi nhớ về sinh nhật của Trịnh Công Sơn. Vào thời điểm này, bạn bè Trịnh Công Sơn ở Huế và Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Thừa Thiên Huế đang chuẩn bị cho Nhà lưu niệm Trịnh Công Sơn theo chủ trương của UBND tỉnh và mong muốn của những người yêu mến nhạc sĩ tài hoa này.Sông Hương xin giới thiệu bài viết của Bửu Ý- người bạn rất gắn bó với Trịnh Công Sơn - như một gợi ý mời gọi bạn bè cùng góp ý để sớm hình thành ý nguyện này.
THANH TÙNGNhững dịp lễ hội, những chiều hè gió lộng và đẹp trời, trên bầu trời cố đô Huế rực rỡ đủ sắc màu của những cánh diều mượt mà trong hình dáng các loài chim, thú: long, lân, ly, phụng, công, bướm, quạ. Đặc sắc nhất thì diều đại bàng cứu công chua, diều bướm đốt pháo, diều Tôn Ngộ Không...
NGUYỄN QUANG HÀCả khung trời hồng dần lên. Sóng Tam Giang lấp lánh hồng. Con thuyền của chúng tôi như rẽ bình minh đi thẳng đến mặt trời. Bầy chim trời đang ăn trên mặt phá, gặp động, chúng rào rào vỗ cánh vù bay lên, rợp trời, như một đám mây, rồi lại rào rào hạ cánh đáp xuống phía phá bên kia.