Số phận của những khẩu thần công thời Nguyễn

08:53 17/01/2019

HỒ VĨNH

Đại bác là một từ dùng chung cho tất cả các loại trọng pháo hay súng lớn. Tiền thân của chúng là những máy ném đá (Thạch pháo) ra đời cách đây 1.000 năm. Từ thế kỷ XV đến thế kỷ XVIII ở Việt Nam đã xuất hiện các loại pháo bằng đồng và pháo bằng sắt mà ngày nay chúng ta thường gọi là súng thần công.

Bốn khẩu trong Cửu vị thần công có tên Xuân, Hạ, Thu, Đông tại Huế - Ảnh: wiki

Thời Trịnh Nguyễn phân tranh, do việc mở mang giao thương, với các nước Đông Á (như Trung Hoa, Nhật Bản) và các thương nhân phương Tây (Bồ Đào Nha, Hà Lan, Tây Ban Nha...) Việt Nam đã nhờ họ cải tiến kỹ thuật đúc súng tương đối tinh xảo.

Đến thế kỷ XIX (thời kỳ đầu của nhà Nguyễn) xuất hiện nhiều kiểu pháo lớn, gắn trên giá có bánh xe, nạp đạn qua miệng pháo với những quả đạn gang tròn. Những khẩu pháo có thành tích được phong tước Hầu, tước Bá... Trong giai đoạn 1802-1885 súng thần công là vũ khí quan trọng hàng đầu trang bị cho những binh đội thiện chiến của nhà Nguyễn. Hiện nay thành phố Huế còn lưu giữ được 33 khẩu. Đây là những di vật cổ bằng đồng có giá trị lịch sử quý hiếm được đúc dưới thời vua Gia Long và Minh Mạng. Qua nghiên cứu thực tế chúng tôi đã lập bảng thống kê.

Trong 33 khẩu thần công đó có 22 khẩu bằng đồng và 11 khẩu bằng sắt. Chín khẩu súng bằng đồng (Cửu vị thần công) đúc thời Gia Long (1804) có kích thước lớn nhất, nặng nhất và được trang trí đẹp nhất. Chiều dài của mỗi khẩu là 5,10m, đường kính nòng 0,23m, nòng dày 0,43m, phía sau đo vòng quay được 2,6m, giá để súng bằng gỗ dài 2,75m, cao 0,73m, mỗi khẩu nặng hơn 10 tấn. Phía bên phải có khắc bài chế thuốc và có các loại đạn. Ngoài ra trên thân mỗi súng có khắc một bài minh nêu lý do đúc súng. Có tám dải hoa văn trang trí hình hoa lá chạy quanh thân súng. Giữa thân súng có gắn hai quai lớn chạm hình hai con lân. Ở gờ cuối cùng gần khối hậu có hai hàng chữ Hán: hàng trên có ba chữ "Mệnh Gia Long" (Lệnh vua ban xuống) hàng chữ dưới được chia làm hai phần: phần phải ghi chức tước và tên nhóm "Danh thần uy vô địch Thượng Tướng Quân cửu lập đệ nhất" (Súng được xếp thứ nhất trong chín vị tước Danh thần uy vô địch Thượng Tướng quân), phần trái ghi năm tháng phong tước danh "Thập ngũ niên tuế thứ Bính Tý cát nguyệt nhật" (súng được phong tặng năm Gia Long thứ 15 (1816) vào ngày tháng tốt). Ngoài ra ở cuối núm súng được khắc nổi một chữ Hán chỉ tên riêng của súng. Súng đặt bên trong cửa Quảng Đức theo thứ tự từ trong ra: Xuân, Hạ, Thu, Đông. Theo tài liệu cho biết chín khẩu thần công này chỉ để dùng trang trí và thị uy, chưa hề sử dụng trong việc chinh chiến.

Bên cạnh cửu vị thần công, Viện Bảo tàng cổ vật Huế tại số 3 Lê Trực còn lưu giữ hai khẩu thần công đúc thời Minh Mạng. Đây là hai khẩu đại bác duy nhất có khẩu kính 310 ly. Hai khẩu này đặt trên hai bệ xi măng. Súng đặt bên trái dài 1,06m, trên thân súng có bốn khoang 3 gờ chia thân súng không đều nhau, thân súng để trơn, không có trang trí hoa văn. Trên gờ cuối cùng gần lỗ điểm hỏa có hàng chữ Hán: "Ngự chế - Thần uy phá địch Đại Tướng quân đệ nhất lập" (Súng làm ra xếp thứ nhất tước Danh thần uy vô địch Đại Tướng quân). Ở cuối núm của súng trên gờ nổi có khắc hàng chữ "Minh Mạng thập ngũ niên chú" (Súng đúc năm Minh Mạng thứ 15) (1834).

So với Cửu vị thần công, hai khẩu súng đúc thời Minh Mạng không có bảng chỉ dẫn cách bắn, cách dùng đạn và cũng không có bảng giới thiệu kích thước và trọng lượng. Bên cạnh súng còn đặt một viên đạn bằng đá tròn có kích thước 299mm.

Tại di tích Trấn Hải Thành (bảo vệ cửa Thuận An) có 3 khẩu, mỗi khẩu nặng 1.500 kg. Ba khẩu súng này đã có thành tích chống Pháp trong ba ngày 16, 17, 18 tháng 7 năm Quí Mùi (1883). Ngày 12/8/1989 vừa rồi chủ tịch xã Hà Trọng Phương đã bán ba khẩu súng lịch sử này cho ông Nguyễn Oanh (người cùng xã) với số tiền 200.000 đồng. Nhân dân xã Thuận An đã phản ánh với cảnh sát kinh tế thành phố, ba khẩu súng được thu hồi. Đáng tiếc là một trong ba khẩu súng ấy đã bị ông Nguyễn Oanh cho người "cưa đứt làm hai"(1). Ba khẩu súng kể trên hiện để tại cơ quan công an thành phố Huế. Cũng trong thời gian ấy, bọn chuyên đi đào sắt vụn đã đào trộm một khẩu thần công ở khu vực Đại nội - Huế, may sao Công ty quản lý di tích lịch sử và văn hóa phát hiện và thu hồi được.(2)

Ở địa phận xã Thủy Phù huyện Hương Thủy (cách Huế chừng 15km về phía nam, trên quốc lộ 1A) có hai khẩu thần công đúc thời Gia Long. Dưới chế độ cũ, nơi đây là cơ quan quân sự, hai khẩu súng này có lẽ chở từ Huế về và đặt trước cổng để trang trí. Sau năm 1975, cơ quan chuyển làm doanh trại của một đơn vị bộ đội. Đầu năm 1989, chúng tôi về nghiên cứu còn thấy hai khẩu thần công ở đó nhưng đến nay đã mất. Qua điều tra được biết kẻ gian lợi dụng lúc cơ quan bàn giao cho đơn vị khác, đã "gánh đi" bán sắt phế liệu vào tháng 10 năm 1989.(3)

Lúc "cơn sốt đồng" đang tăng nhiệt độ ở một số địa phương, Công ty quản lý di tích và văn hóa Huế buộc phải di chuyển hai khẩu thần công đặt trước Phu Văn Lâu vào giữ ở nhà Hữu Vu (Đại Nội-Huế). Hai khẩu thần công này có cùng chiều dài đo được 1,34m và có hình dạng giống nhau. Thân súng có sáu khoang, sáu gờ, phân chia không đều nhau, đầu súng thon nhỏ lại, miệng hơi loe, phần đuôi phình ra và được đúc kín (gọi là khối hậu), cuối cùng là một mún tròn hơi dẹt. Thân súng có gắn quai hình rồng, cách nhau 12cm. Ở khoảng cuối súng có lỗ điểm hỏa, ở trên mặt súng có chạm một miếng hoa văn nổi. Trên gờ cuối cùng có hai hàng chữ: hàng trên "Mệnh Minh Mệnh" (Lệnh vua ban xuống), hàng chữ dưới được chia làm hai : phần phải ghi "Danh thắng uy tướng quân đệ cửu lập" (Súng xếp thứ chín tước Danh Thắng uy Tướng quân); phần trái ghi: "Nhị niên tuế thứ Tân Tỵ cát nguyệt nhật tạo” (Súng làm năm Minh Mệnh thứ 2 (1821) vào ngày lành tháng tốt). Trục quay hình trụ dài 77mm, đường kính 80mm. mặt ngoài hình tròn (của hai bên trục quay) có khắc chữ: Trục bên phải ghi "Lục bách ngũ thập lục cận thông trường tam xích tứ thốn nhị phân, tâm trường tam xích tâm hoành vãng nhị thốn nhị phân" (nặng 656 cân, chiều dài ba thước bốn tấc hai phân, chiều dài nòng (tổng cộng) ba thước, bề ngang (đường kính) hai tấc hai phân); trục bên trái ghi: "Đích xạ hảo hạng dược nhị cân tứ hạng bi chỉ dụng cương bi nhị thốn nhất phân" (Bắn trúng tốt nhất thuốc đạn hai cân bốn lạng, đạn bi sắt hai tấc một phân).

Hiện nay phía trước Phu Văn Lâu, Công ty quản lý di tích và văn hóa Huế trưng bày hai khẩu súng thần công mô phỏng theo kiểu hai khẩu súng trên bằng chất liệu xi-măng cốt sắt.

Ngoài 28 khẩu súng của thời Nguyễn, Viện Bảo tàng cổ vật Huế còn lưu giữ năm khẩu có ký hiệu và chữ số của Hà Lan. Những khẩu súng này có lẽ là chiến lợi phẩm của trận đánh nổi tiếng giữa thủy quân ta và đội tàu chiến Hà Lan vào tháng 4 năm Giáp Thân (1644): "50 chiếc thuyền vùn vụt như bay trên mặt bể, tập trung công phá ba chiếc tàu của Picter Back. Thủy quân Nam Việt nhảy lên tàu chiến địch, đẵn cột buồm, chặt bánh lái, cắt dây lèo, đánh giáp lá cà bằng bạch khí. Quan quân Hà Lan hoảng sợ đến mức đô đốc Picter Back cùng 200 quan quân Hà Lan chìm theo soái hạm"(4). Đây là trận hải chiến lịch sử thời Chúa Nguyễn Phúc Tần (1648 - 1687).

Tất cả số súng đại bác kể trên đều có trọng lượng khác nhau nhưng nói chung chúng đều nặng và được đúc rất dày. Chúng tôi chưa có điều kiện xác định trọng lượng số súng còn lại.

Theo Đại Nam nhất thống chí: Mặt tiền chỗ Chính trung xây kỳ đài, ở trên thành (cả 4 mặt) có xây 25 pháo đài... và có 455 sở pháo xưởng canh điếm(5). Như vậy số đại bác trước đây được bố trí trên hệ thống chiến lũy ở kinh thành Huế trên 450 khẩu.

Trong một chuyến điền dã, chúng tôi có dịp khảo sát 24 pháo đài ở kinh thành Huế. Theo chỗ quan sát của chúng tôi chỉ có một pháo đài duy nhất còn lại một tấm bia. Bia cao 0,58m, rộng 0,43m, dày 0,13m, mặt trước bia khắc nổi ba chữ: "Đông Phụ Đài" (cỡ chữ 14x13 cm) (Pháo đài Đông Phụ). Pháo đài này kế bên Đông Thành Thủy quan (tục gọi là Cống Lương Y). Cách bia chừng 12m có một kho thuốc súng xây theo kiểu cuốn vòm rất chắc. Pháo đài Đông Phụ được bố trí bốn nhóm pháo lộ (chỗ lõm xuống để đặt súng) gồm hai nhóm ở hai mặt và hai nhóm ở hai hông. Các pháo lộ cách nhau 5,50 m ở mặt ngoài và 4,40 m ở mặt trong, bề cao chỗ kê súng 0,22m, khoảng cách giữa đáy và đỉnh pháo lộ 0,85m, chiều rộng mặt trước 0,86m, phía sau tường bắn được trổ rộng 2,55m để đặt súng và đứng bắn. Như vậy pháo đài Đông Phụ có 8 pháo lộ đều có kích thước giống nhau. Dĩ nhiên trước đây ở 8 pháo lộ này phải bố trí 8 khẩu đại bác và có cùng 8 khẩu đội. Muốn bắn những khẩu đại bác này phải thao tác như sau: tống thuốc nhồi vào bên trong khối hậu thật chặt, tiếp đến luồn dây ngòi qua lỗ châm ngòi vào trong khối hậu, xong tiếp đến nạp cho viên đạn gang tròn có đường kính 100 mm vào nòng (viên đạn này dành cho loại súng có khẩu kính 105 ly), sau đó đánh lửa châm ngòi.

Việc bắn súng phức tạp như vậy nên mỗi khẩu pháo có một khẩu đội 5 người phục vụ dưới quyền chỉ huy của một khẩu đội trưởng: Pháo thủ 1: mang đạn, Pháo thủ 2: mang thuốc, Pháo thủ 3: nhồi thuốc, Pháo thủ 4: đánh lửa, Pháo thủ 5: châm ngòi.

Tất cả các loại súng đại bác bằng đồng thời Nguyễn đã cải tiến và tiếp cận với kỹ thuật mới. Dựa theo kích thước, khẩu kính và trọng lượng, chúng tôi tạm thời phân 33 khẩu đại bác còn tìm thấy ra làm 3 hạng:

Hạng nhẹ từ 20mm đến 100mm: 12 khẩu.

Hạng vừa khoảng trên dưới 155mm: 10 khẩu.

Hạng nặng từ 155mm trở lên: 11 khẩu với tầm đạn xa trên 1200 m.

Vào đêm 22 rạng 23/5/1885 trên 450 khẩu đại bác đã bố trí khắp tất cả 24 pháo đài ở kinh thành Huế được sử dụng. Đầu canh tư (1 giờ sáng), Tôn Thất Thuyết lệnh nổ súng bắn vào đài Trấn Bình (Mang cá nhỏ). Đại úy Bruy-nô bị một mảnh đạn xuyên ngực chết ngay. Đại úy Đơn-ru-in gãy hai ống chân. Tiếng đại bác mỗi phút một giòn giã vang trời chuyển đất (6). Lần đầu tiên pháo lớn của quân đội Việt Nam được sử dụng nhiều nhất. Và, cũng là lần đầu tiên quân đội Việt Nam thấy được sự lạc hậu của pháo lớn Việt Nam xưa. Dù sao, những khẩu súng lớn ấy cũng là một di sản vô giá đánh dấu một giai đoạn công nghệ Việt Nam.

Để đúc những khẩu đại bác nghìn cân ấy phải có một hiệp thợ đúc đồng có kỹ thuật cao, biết tổ chức phối hợp đồng bộ qua các khâu làm mẫu, tạo khuôn, đúc, làm nguội và trang trí. Kỹ thuật đúc súng thần công của Việt Nam xưa không chỉ nổi tiếng về kích thước, trọng lượng mà còn về trình độ pha chế kim loại cao. Hoa văn, chữ khắc rõ ràng, chắc nét. Hình thức mang tính biểu tượng mạnh mẽ.

Ba mươi khẩu đại bác bằng đồng và sắt còn lại ngày nay là những di vật cổ hiếm quí. Đây là những tác phẩm nghệ thuật biểu thị tài năng bậc thầy của những nghệ nhân đương thời, nhưng chúng đang bị "Cơn sốt đồng" và "sắt phế liệu" đe dọa ngày đêm. Xin báo động để những cơ quan có trách nhiệm và đồng bào cùng lo.

Huế 4.1.1991
H.V
(TCSH45/03-1991)


----------------
(1) Vụ mua bán trái phép và phá hoại di tích lịch sử xã Thuận An, báo Tin Huế, số 9 (Bộ mới) ra ngày 1.9.1989. tr.10.
(2) Theo lời kể của bác Hoàng Dương - nhân viên bảo vệ Công ty Quản lý di tích lịch sử và Văn hóa Huế.
(3) Theo lời kể của anh Nguyễn Chung ở xã Thủy Phù huyện Hương Thủy.
(4) Nguyễn Mạnh Hảo, Thủy quân ta ngày ấy diệt đội tàu chiến Hà Lan, báo Quân đội nhân dân thứ bảy, ra ngày 15.9.1990. Tham khảo thêm Trần Hà Thanh, Công cuộc mở mang miền Nam của Nguyễn Phúc Tần (1648 - 1687), chương IV Hiền Vương thắng thủy quân Hà Lan năm 1644, Đại học Văn Khoa Huế, Huế 1974, In ronéo.
(5) Đại Nam nhất thống chí, Kinh sư, Sài gòn 1960, trang 17.
(6) Nguyễn Xuân Thọ, Cuộc bạo hành tại Huế ngày 5-7-1885, vụ cướp phá hoàng cung - cuộc đề kháng của vua Hàm Nghi và triều Đồng Khánh, tập san Sử Địa số 14-15, Sài Gòn, 1969, trang 14.





 

 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • LÊ VĂN LÂN

    Cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân 1968 với việc chiếm giữ Huế 26 ngày đêm đã tạo nên bước ngoặt lớn của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, làm sụp đổ chiến lược chiến tranh cục bộ của Mỹ - Ngụy, làm lung lay ý chí xâm lược của kẻ thù, buộc địch phải ngồi vào bàn đàm phán Paris.

  • NGUYỄN HỒNG TRÂN

    Câu chuyện này do nhà thơ Bích Hoàng (tức Hoàng Thị Bích Dư - cựu nữ sinh trườngĐồng Khánh - Huế) kể lại cho tôi nghe trực tiếp vào đầu năm 2012 tại nhà riêng của cô ở 170 phố Cầu Giấy, Hà Nội.

  • TRẦN BẠCH ĐẰNG

    Mỗi địa danh của đất nước ta chứa mãnh lực riêng rung động lòng người, từ những khía cạnh rất khác nhau. Có lẽ lịch sử và thiên nhiên vốn ghét bệnh "cào bằng", bệnh "tôn ti đẳng cấp" cho nên lưu dấu vết không theo một công thức nào cả. Quy luật khách quan ấy làm phong phú thêm đời sống nội tâm của dân tộc ta.

  • NGUYỄN ĐẮC XUÂN

    Đề cập đến sự nghiệp cầm bút của Thượng Chi Phạm Quỳnh cần phải có một cái viện nghiên cứu làm việc trong nhiều năm mới hiểu hết được. Do hoàn cảnh lịch sử, tôi chưa bao giờ dám nghĩ đến mình có thể tìm hiểu một khía cạnh nào đó trong sự nghiệp to lớn của ông.

  • LTS: Đêm 30/8 vừa qua, tại Huế, Hội đồng toàn quốc họ Phạm Việt Nam tổ chức giới thiệu cuốn sách “Phạm Quỳnh - Một góc nhìn”, tập 2 do nhà sử học Nguyễn Văn Khoan biên soạn. Nhiều nhà nghiên cứu, nhiều văn nghệ sĩ tên tuổi của Huế đã đến dự và phát biểu ý kiến.

  • BÙI KIM CHI

    “Giữ chút gì rất Huế đi em
    Nét duyên là trời đất giao hòa
    Dẫu xa một thời anh gặp lại
    Vẫn được nhìn em say lá hoa.

    (...)

  • CHU SƠN

    1.
    Này, xa là những cảm nhận chủ quan hàm chứa một góc nhìn giới hạn, tương đối và hoàn toàn xa lạ với những khẩu hiệu thời thượng là vĩnh cửu, muôn năm.

  • TRẦN VĂN DŨNG

    Cùng với rất nhiều nghề thủ công truyền thống trên đất nước Việt Nam, nghề Kim hoàn được biết đến với sự sáng lập của hai vị tổ sư Cao Đình Độ và Cao Đình Hương ngay trên vùng đất Cố đô. Tài năng của các ông đã biến nghề kim hoàn trở thành một nghề thủ công độc đáo, mang đậm sắc thái Việt và được truyền bá khắp ba miền đất nước trong hơn hai thế kỉ qua.

  • LÊ VĂN LÂN

    Hằng năm cứ vào dịp 9/1 (ngày sinh viên học sinh), ngày 26/3 (ngày thành lập Đoàn TNCS Hồ Chí Minh và giải phóng Huế), những người hoạt động trong phong trào (người ta thường gọi là “dân phong trào”) lại họp mặt tưởng nhớ những người hi sinh, ôn lại truyền thống, chia sẻ những trăn trở trước thời cuộc và tự dặn mình phải sống xứng đáng với những người đã khuất, những đùm bọc thương yêu mà nhân dân đã dành cho mình.

  • ĐÀO HÙNG
    (Nhân kỷ niệm ngày Báo chí cách mạng Việt Nam)

    Hồi còn bé, đôi lần tôi được cha tôi là ông Đào Duy Anh, đưa đi chơi và có ghé thăm cụ Huỳnh Thúc Kháng. Rồi cũng có lần tôi thấy cụ Huỳnh đến gặp cha tôi ở ngôi nhà trên đường Hương Mỹ (nay là Chu Văn An), thành phố Huế.

  • LÊ MẬU PHÚ 
               Tùy bút 

    Sông Hương bắt nguồn từ dãy Trường Sơn, chạy dài hơn 60 cây số, qua nhiều rừng núi với thảm thực vật nhiệt đới đa dạng và nhận nhiều nguồn nước từ những con thác, rồi sau đó hợp lưu tại ngã ba Bằng Lãng thành một dòng sông, gọi là sông Hương. Từ đó, sông xuôi về biển thêm 30 cây số nữa.

  • LÊ VŨ TRƯỜNG GIANG

    “Ơi khách đường xa, khách đường xa
    Dừng chân ghé lại Đông Ba chợ mình”

  • TRẦN NGUYÊN SỸ
                      Ghi chép

    Chúng ta thử hình dung Huế như một ngôi nhà cổ, mà con ngõ đón thập khách phía Nam là đoạn quốc lộ từ Thủy Dương xuống Phú Bài thì khỏi cần trả lời câu hỏi: Với Huế, Hương Thủy có quan trọng không?

  • HỮU THU - BẢO HÂN

    Không ít người ở Huế thế hệ sinh năm 1950 đã từng được ngắm cái điệu đà của rong rêu, sự bỡn đùa của từng đàn cá tung tăng theo chiều con nước sông Hương.

  • PHAN THUẬN AN

    Thái giám hay hoạn quan là những người đàn ông không có sinh thực khí, chuyên ở hầu hạ trong hậu cung của vua.
     

  • HỮU THU & BẢO HÂN

    Đường 12 được giới hạn từ ngã ba Tuần lên Bốt Đỏ. Chỉ kéo dài hơn 50 cây số nhưng đây là quãng đường không dễ vượt qua, bởi trước năm 1990, muốn lên A Lưới, từ Huế xe phải chuyển hướng ra Đông Hà, ngược đường 9, đến cầu Đakrong rẽ trái rồi men theo đường Hồ Chí Minh để vào. Thuở đó, đường xa, xe xấu nên cán bộ được phân công lên huyện vùng cao này ai cũng ái ngại và bỏ cuộc.

  • BÙI KIM CHI Tiên tổ phương danh lưu quốc sử Tử tôn tích đức kế gia phong

  • PHAN HƯƠNG THỦY Hệ thống lăng tẩm và Cung điện ở Huế luôn luôn là một đối tượng chính của các nhà nghiên cứu Mỹ thuật, và các nhà nghiên cứu lịch sử Huế đã để lại cho chúng ta những cái mà thời trước không còn.

  • Một số anh chị em ở Huế biết tôi có ghi chép được ít nhiều về Nguyễn Tuân, bảo tôi viết lại và gửi cho Tạp chí Sông Hương. Riêng tôi, muốn tạo một dịp để anh Nguyễn nói trực tiếp với bạn đọc Sông Hương, nên xin được hỏi anh Nguyễn chung quanh chuyện Huế, được anh Nguyễn nhận lời, tôi xin trung thành ghi lại toàn bộ cuộc trò chuyện đó.

  • LÊ VŨ TRƯỜNG GIANGHiếm nơi nào trên đất Huế có phong thủy hữu tình, trời, đất, nước, người cùng quyện hòa thanh thái trong một không gian xanh ngát xanh như đất thôn Vỹ. Đất này được dòng Hương Giang và phụ lưu Như Ý ôm trọn vào lòng như hai cánh tay của một người mẹ vỗ về.