Quẻ Bát Thuần Càn với nhân tài

09:58 27/11/2008
PHẠM XUÂN PHỤNG Chu Dịch có 64 quẻ, mỗi quẻ có 6 hào. Riêng hai quẻ Bát Thuần Càn và Bát Thuần Khôn, mỗi quẻ có thêm một hào.

Bát Thuần Càn có: Sơ Cửu, Cửu Nhị, Cửu Tam, Cửu Tứ, Cửu Ngũ, Thượng Cửu và Dụng Cửu. Dụng Cửu chỉ là hào thêm vào, không nằm trong tượng quẻ  Bát Thuần Càn, chỉ là để diễn cái lý biến dịch.
Tượng quẻ Bát Thuần Càn: 
 Suy ngẫm về quẻ Bát Thuần Càn, thấy nhiều thâm ý, nhiều cái lý vi diệu về vũ trụ và vạn vật, xã hội và con người. Nhưng có một cái lý về con người và cách dùng người, khả dĩ lấy làm cơ sở để bàn luận về nhân tài. 
Nguyên uỷ, theo truyền thuyết, Phục Hy chỉ vạch ra quẻ Bát Thuần Càn có 6 vạch. Thời đó chưa có văn tự nên chưa có kinh văn. Về sau Văn Vương nhà Chu đặt ra Soán Từ để thích nghĩa quẻ. Chu Công Đán đặt ra hào từ để thích nghĩa hào. Khổng Tử, theo truyền thuyết, soạn ra Thập Dực để giải thích rộng ra cho nhiều người hiểu.
Bài này cốt chỉ mượn quẻ Bát Thuần Càn để luận về NHÂN TÀI nên xin bỏ qua Soán từ, Văn Ngôn và những vấn đề khác.

* Sơ Cửu: Hào từ của Chu Công Đán: Tiềm long, vật dụng.
Người ở vào địa vị hào Sơ Cửu cũng như Rồng còn ẩn nấp, giấu dưới đất chưa đến thời xuất hiện, chưa đủ sức để bay nhảy. Do đó, chỉ nằm chờ thời, chưa thể dùng.
Nằm chờ thời không phải theo kiểu thụ động tiêu cực “há miệng chờ sung rụng” hoặc “ôm cây đợi thỏ”. Thời chưa đến nên phải chờ. Người ở địa vị hào này, xét mình mới chỉ có tiềm năng, chớ nên bộc lộ tài năng chưa chín. Tựa như con ấu trùng phải náu mình dưới đất 17 năm, thấm nhuần tinh tuý đất trời mới hoá thành con Ve để cất cao bài ca rộn rã một trưa hè. Thời này là lúc học tập, tu dưỡng, trui rèn để tiềm năng biến thành khả năng, năng khiếu thành tài năng. Nhà lãnh đạo, quản lý biết dùng người mà gặp cấp dưới ở địa vị hào Sơ Cửu thì dù tin yêu đến mấy cũng chớ nên vội dùng, chỉ nên tài bồi để khỏi mai một tài năng. Nếu vội dùng, cũng như “Cao Biền dậy non”, chẳng làm được gì mà đã “chết”. Cha mẹ chớ nên thấy con bộc lộ chút năng khiếu đã vội mừng, thần đồng hoá năng lực bẩm sinh để rồi ấu trùng lột xác non, chưa thấy ánh mặt trời đã chết.
Tóm lại, từ muôn vật đến con người, từ cá thể đến tập thể, từ gia đình đến xã hội, đây là giai đoạn gieo mầm, ươm giống đào tạo tài năng.

* Hào thứ hai trong Bát Thuần Càn là hào Cửu Nhị. Hào từ của Chu Công Đán: Cửu Nhị, hiện long tại điền, lỵ kiến đại nhân
Người ở vào địa vị hào này được ví như tượng con Rồng đã qua thời tiềm long, đến thời hiện ra trên mặt (đất) ruộng; như người đã thành tài xuất hiện giữa xã hội để giúp đời với một hoài bão lớn lao. Họ cần có một điều kiện quyết định: lỵ kiến đại nhân. Người tài mà không gặp được người tài đồng tâm đồng chí và đang ở cương vị lãnh đạo, quản lý tin dùng thì tài kia cũng bỏ.

Ý trong bài viết NGƯỜI SỬ DỤNG PHẢI CÓ BẢN LĨNH của Tiến sỹ Hồ Bất Khuất (TUỔI TRẺ số ra ngày 12/8/2004 trang 01) phù hợp với ý trong hào này. Đó là bậc đại nhân ở hào Cửu Ngũ mà người tài ở hào Cửu Nhị cần có. Như Phạm Ngũ Lão cần có Trần Hưng Đạo, Phạm Cự Lượng cần được Lê Hoàn tin dùng vậy. Thời nay, những Lương Định Của, Đặng Văn Ngữ, Phạm Quang Lễ và nhiều nhân tài Việt Nam khác ở nước ngoài đã quy tụ dưới lá cờ Việt Minh vì đại nghĩa cứu dân cứu nước của Mặt trận và của Đảng Cộng sản Việt Nam vì họ may mắn được lỵ kiến đại nhân Hồ Chí Minh. Lòng yêu nước kết hợp với lòng tin vào lãnh tụ đã khiến họ từ bỏ vinh hoa phú quý đất người mà họ đang hưởng để trở về cùng toàn dân chịu bao gian khổ thiếu thốn - kể cả thiếu thốn phương tiện nghiên cứu khoa học - và chấp nhận hy sinh - kể cả tính mạng - một lòng trung thành với mục đích lý tưởng của Đảng và sự nghiệp giải phóng dân tộc. Nhìn lại ngày nay, nhiều nhân tài rời đất nước ra đi hoặc ở lại nước ngoài làm việc sau khi được gia đình và Nhà nước bỏ bao công của đào tạo chỉ vì lý do thiếu điều kiện làm việc và phương tiện nghiên cứu mà bỗng thấy băn khoăn!.

Lùi lại lịch sử - pha đôi phần huyền sử - về sự thất bại của nhà Âu Lạc trước sự xâm lược của Triệu Đà, thấy không chỉ do tình yêu lầm lỡ của Mỵ Châu với Trọng Thủy mà có lẽ nên xét đến cách dùng nhân tài - tướng quân Cao Lỗ - của An Dương Vương Thục Phán. Cao Lỗ là một bậc đại nhân ở hào Cửu Nhị  nhưng đã không gặp được - đúng ra là gặp rồi mà không được tin dùng trước sau như một - bậc đại nhân ở hào Cửu Ngũ nên nỗi “cơ đồ đắm biển sâu”.
Có thể nói trắng ra rằng: trong thời hiện đại, các nước tư bản chủ nghĩa phát triển nhất, tiêu biểu là nước Mỹ và Nhật Bản - đã  biết cách ươm trồng và trọng dụng nhân tài vì mục đích lợi nhuận của các công ty và lợi ích quốc gia của họ. Thuật ngữ “săn đầu người” nói rõ điều này. Tại  các nước này, người tài ở mọi lĩnh vực đều được trọng dụng, sử dụnglợi dụng để đem lại lợi nhuận tối đa cho các ông chủ, nhưng bản thân người tài luôn có cơ hội toả sáng tài năng và đem lại một cuộc sống giàu sang nhờ tài năng ấy. Maradona, David Beckham là những ví dụ sinh động nhất trong lĩnh vực thể thao.

Người tài ở hào Cửu Nhị cần có bậc đại nhân biết dụng tài ở hào Cửu Ngũ. Trong lịch sử quân sự và chính trị các nước - kể cả nước ta - từ cổ chí kim nhiều vô kể. Như Mura - kẻ chăn ngựa - nhờ gặp Napoléon mà sau này trở thành một danh tướng, một thống chế tiếng tăm lừng lẫy.
Nhưng một khi không “lỵ kiến đại nhân“ mà ngược lại tài năng đã bộc lộ thì có nguy cơ “cây thẳng bị chặt trước, giếng ngọt bị cạn trước”. Cổ nhân có câu: 
Tâm kiêng nhất là tâm hiểm sâu.
Tài kiêng nhất là tài bộc lộ
Hiện tượng này có rất nhiều trong xã hội Trung Hoa phong kiến và xã hội Việt hiện nay vẫn còn. Biết bao người có tài, có tâm huyết song chẳng may tính cách quá thẳng thắn, thân cô, thế cô, lại chẳng biết nịnh hót cấp trên nên đã bị trù dập, triệt hạ. Nhạc Phi bị giết bởi tên đại gian thần Tần Cối, nhưng thực ra ông  đã bị vua Cao Tông “giết chết” từ lâu khi ông bày tỏ ý định và đủ khả năng thực hiện ý định đưa hai vua trước về nước. Cao Tông sợ mất ngôi vua nên đã cho Nhạc Phi mất đầu, bất chấp hậu hoạ nhà Tống về sau mất nước và hậu duệ ông ta là Triệu Bính phải nhảy xuống biển tự trầm để khỏi rơi vào tay giặc ngoại xâm.

* Cửu Tam: Thân phận người ở hào Cửu Nhị mà không gặp được bậc đại nhân tuy khổ nhưng cũng  khá hơn người ở địa vị hào Cửu Tam trong quẻ Bát Thuần Càn. Hào Từ viết: Cửu Tam, Quân tử chung nhật kiền kiền, tịch dịch nhược, lệ, vô cựu.
Hào Cửu Tam ở trên cùng Nội quái và dưới Ngoại quái, chữ viết là hạng “bán thượng, lạc hạ”, dân ta hay gọi là hạng “đầu binh, cuối cán” hoặc nặng hơn là hạng “đầu chày, đít thớt” chuyên lo việc mà chẳng đặng hưởng công. Cái thế chông chênh ở trên cùng của hạng dưới, hết mức để tiến; lại ở dưới cái trên, muốn tiến lên thì bị chặn. Tựa như anh chàng thượng sĩ trong quân đội hiện đại: Trên hay chê mắng, sai khiến, dưới hay trách móc, cậy nhờ. Làm tốt thì trên hưởng lợi, dưới kêu ca. Làm không xong thì dưới chê cười, trên trách phạt. Bởi thế mới phải “chung nhật kiền kiền - suốt ngày phải hăng hái tự cường” lại phải “tịch dịch nhược - từ sáng đến tối như luôn có điều lo sợ”, nghĩa là vừa phải ráng lo tròn bổn phận vừa phải lo tu tỉnh giữ mình, tránh mắc lỗi lầm mới” khỏi tội lỗi - vô cựu”. Trong một so sánh có tính tượng trưng, người ở địa vị hào này cũng như người huấn luyện viên bóng đá.
Người tốt có tài, có tâm  ở vào cái thế trên đe dưới búa như vậy thật là trăm đắng ngàn cay. Hạng người này có tài chưa chắc đã được công nhận nhưng chắc chắn là luôn bị lợi dụng kiểu “vắt chanh bỏ vỏ”. Nhân tài rơi vào cảnh ấy, tiếc lắm thay! Muốn khỏi thất bại thì phải:
Người ta ra công một lần thì thành
Mình phải ra công hàng trăm lần mới mong thành.
Xã hội ta hiện nay, ai biết cụ thể có bao nhiêu người rơi vào cảnh đắng cay ấy. Lận đận gian truân thời tuổi trẻ; công phu rèn dũa tuổi trung niên; đến lúc tài năng vừa độ chín; hết thời quy hoạch đợi điền viên (về hưu.)!

* Cửu Tứ: hoặc dược tại uyên, vô cựu.
Người ở địa vị hào này ví như con rồng ở vực sâu, có thể suốt đời không bay lên được, cũng có thể nhảy lên mặt đất khi có đủ sức mạnh và thời cơ. Đây là vị trí có thể tiến đến thành công, cũng đầy nguy cơ thất bại, nhưng cơ tiến nhiều hơn so với hào Cửu Tam.
Nhân tài ở vào cảnh này cần biết mình còn có cơ tiến thủ, cần có và nuôi dưỡng tinh thần cầu tiến, khiêm tốn tự xét lỗi mình, học cái hay của người thì mới mong “tái xuất giang hồ” thành công. Ở một mức độ nhất định, QBV 2003 Phạm Văn Quyến đang ở địa vị hào Cửu Tứ , nếu biết tự tu dưỡng ắt thành “Phi Long”.Trong xã hội, hạng người này rất nhiều và không hiếm người tài năng. Nhà lãnh đạo quản lý cần biết khích lệ họ.
Phạm Ngũ Lão lần đầu tiên lên kinh đô bái kiến Tiết chế Quốc Công Trần Quốc Tuấn, may mắn được Quận chúa Anh Nguyên gặp và đem lòng yêu. Rủi cho chàng  bị Nguyễn Địa Lô thách thức, đã giương cung bắn đứt dây buộc cờ tại quân doanh, một lỗi nặng có thể mất đầu. Tiết chế Quốc Công tiếc người tài, không nỡ xử  theo quân pháp. Chỉ đuổi về quê. Giữa lúc người anh hùng gặp nạn, đang buồn bã mất phương hướng thì Quận chúa Anh Nguyên đã kịp thời đến thăm và tặng chàng 4 câu thơ khích lệ chí anh hùng:
Lập chí xưa nay có mấy người
Anh hùng há sợ bước chông gai
Phải cơn vận bĩ xin bền chí
Gặp gió đại bàng sải cánh bay.
Cũng trong thời Trần, còn có một danh tướng khác. Ông là một vị vương, bị mắc lỗi nặng, tước hết vương vị, binh quyền. Trở về làm nghề bán than, vẫn nung nấu chí lập công đền ơn vua lộc nước. Khi Vua Trần hội quân để chống địch, thuyền rồng đang ở giữa sông chợt thấy từ xa một chiếc thuyền chở đầy than. Người chèo thuyền ca rằng:
Một gánh càn khôn quẩy xuống ngàn
Hỏi: chi bán đó? Gửi rằng: than!
.......
Khẩu khí bài ca không phải của kẻ tầm thường. Vua nghe ra và hiểu, bèn gọi lại hỏi han. Nhờ đó, người bán than trở lại thành danh tướng, đánh chìm đoàn thuyền lương của Trương Văn Hổ ở bến Vân Đồn - Quảng Ninh. Đó là Trần Khánh Dư. Xét kỹ cơ nguy của Trần Khánh Dư kém hơn Phạm Ngũ Lão vì không bị tội chém đầu. Nhưng cơ tiến của Trần Khánh Dư thấp hơn vì mấy ai làm quan bị cách chức lại được phục quan , thăng chức. Phạm Ngũ Lão chưa làm lính, chưa làm tướng nên khi mắc lỗi thì “dân vẫn là dân” còn Trần Khánh Dư thời “hết quan hoàn dân” khác hẳn. Do vậy, ở cái địa vị Con rồng bị hãm trong vực, có thể kiên nhẫn tu trì rèn luyện tài năng, đợi thời để nhảy được thì nhảy (hoặc dược) bay được thì bay (hoặc phi), không nhất định, tuỳ thời, tuỳ mình. Đây là giai đoạn bồi dưỡng nhân tài.
Ở mức độ cao hơn, vì đại nghĩa cứu nước, vì sự nghiệp của Cách mạng Việt Nam “con rồng Hồ Chí Minh” cũng đã có lần bị giam vào ngục tối ở Hương Cảng. Nhưng Người tù vĩ đại Hồ Chí Minh đã xác định:
Thân thể tại ngục trung
Tinh thần tại ngục ngoại
Dục thành đại sự nghiệp
Tinh thần cánh yếu đại.

* Hào Cửu Ngũ:
Hào từ của Chu Công Đán: Phi long tại thiên, lỵ kiến đại nhân.
Đây là hào dương cương, đắc trung, đắc chính, do đó là hào đại cát trong 6 hào của quẻ Bát Thuần Càn. Vì lẽ đó, ngôi vua ngày xưa được gọi là ngôi Cửu Ngũ (ngai của vua được đặt trên bệ có 9 bậc gọi là Cửu trùng).
Người bình thường được hào Cửu Ngũ chớ vội mừng vì để được ở ngôi chí tôn cần có đủ tài, đức, thời, vận. Không có tài dù có đức, ngồi ở ngôi vua chỉ là kẻ bù nhìn. Có tài, vô đức ngồi ở ngôi vua dễ thành bạo chúa. Không có tài, đức, thời, vận mà được đặt lên ngai vàng thì chỉ là con cờ trong tay kẻ đại gian thần như Tào Tháo mà thôi.
Người có đủ tài, đức, thời vận được giữ ngôi cao là chính mệnh, nhưng chưa chắc trường mệnh nếu không có người tài giúp sức. Hưng Đạo Vương xưa đã nói: “Chim Hồng, Chim Hộc  sở  dĩ bay được cao, được xa là nhờ 9 trụ lông cánh”. Vậy nên Cửu Ngũ tuy là Phi long tại thiên song cũng phải lỵ kiến đại nhân là bậc anh hùng tuấn kiệt phò giúp mới thành đại nghiệp, giữ được đại nghiệp. Muốn vậy, phải trọng dụng nhân tài.
Do vậy, nhà lãnh đạo, nhà quản lý có tài đức phải là người biết ươm trồng, phát hiện, bồi dưỡng, đào tạo trọng dụng nhân tài. Khâu trọng dụng là khâu quyết định vì nhiều khi nhân tài ẩn nấp như tiềm long, đôi khi gặp được người biết trọng dụng mới hiện long  đem sức giúp đời. Đây là trường hợp Võ Vương nhà Chu cầu Khương Tử Nha, Quang Trung Nguyễn Huệ cầu La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp, Lưu Bị ba lần đến lều cỏ rước Khổng Minh. Thời hiện đại, sát gần đây Liên đoàn Bóng đá Hy Lạp đã có con mắt xanh chọn tướng tài Otto Rehagel làm HLV trưởng ĐTQG Hy Lạp. Từ đó có chiếc HCV Vô địch Châu Âu năm 2004. Đó là “chọn mặt gửi vàng”.
Hai hào  cuối của quẻ Bát Thuần Càn vượt quá phạm vi bài này nên xin không bàn đến.

Như vậy, một quy trình đầy đủ về nhân tài phải gồm 5 bước: ươm trồng, phát hiện, bồi dưỡng, đào tạo trọng dụng. Thiếu một bước vẫn được, nhưng không hoàn hảo. Vì sao?
Nếu chỉ “nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài” như Nghị quyết Đại hội VIII và IX  của Đảng đã nêu thì dường như có hai điều chưa bàn đến:
- Một là: chỉ lo bồi dưỡng nhân tài nghĩa là chỉ ăn sẵn cái vốn quý do xã hội tạo ra, không có chiến lược lâu dài, kiểu như LĐBĐVN vẫn làm khi tập trung ĐTQG thi đấu giải khu vực. Mặt khác coi nhân tài như gà nòi, bồi dưỡng nhân tài để thi đấu lấy giải, lấy thành tích theo kiểu cách của ngành GD - ĐT đối với trường chuyên, các đội tuyển thi Olympic quốc tế về toán, vật lý, tin học, hoá học lâu nay cũng là chuyện cần xem lại và nên huỷ bỏ để diệt căn bệnh thành tích.
- Hai là: bồi dưỡng xong nhân tài mà không trọng dụng thì thật sai lầm: Dọn cỗ cho người khác ăn. Nếu không có quá trình bồi dưỡng ấy, lấy đâu ra Phạm Hữu Tiệp, Đàn Thanh Sơn, Lê Tự Quốc Thắng và bao nhiêu người tài khác. Nhưng nay những người tài ấy ai dùng? Không phải Ta. Đau thật! Phí của thật!.

Do đó, Chiến lược Nhân tài của Đảng nên là một chiến lược vĩnh cửu, bao giờ cũng đúng và không thiếu sót. Đảng và Nhà nước phải chủ động từ bước đầu tiên (ươm mầm nhân tài) và chủ trì thực hiện thật tốt bước cuối cùng: trọng dụng nhân tài. Tôi không tán thành cách dùng từ “sử dụng nhân tài” vì như vậy vẫn hàm ý coi nhẹ nhân tài và đối xử với họ chẳng khác gì một công cụ hữu ích hoặc một nhân lực lao động bình thường mà thôi. Nhân tài cần được trọng dụng, gồm cả: tin cậy, giao phó, tạo lập môi trường sáng tạo, phát huy tài năng và hậu đãi, trả công xứng đáng cho họ. Nhưng cũng cần nói thêm cho rõ: nhân tài đích thực lắm khi không cần danh lợi, lắm khi vì nghĩa mà hy sinh, vì được tin cậy mà dốc lòng cống hiến. Đó là cốt cách nhân tài Á Đông chịu ảnh hưởng sâu đậm của Khổng giáo. Lớp trẻ tài năng của Việt chưa chắc đã chấp nhận điều này mà có khi họ đòi hỏi sự công bằng: “Tài nào của nấy”. Nên chi, nhà lãnh đạo, quản lý phải tuỳ thời mà dùng, tuỳ người mà xử, không nên và không thể dựa vào phẩm cách nhân tài mà xử với họ theo kiểu “hoà nước sông chén rượu ngọt ngào” của thời khởi nghĩa chống ngoại xâm.

Thực hiện đủ quy trình 5 bước nói trên vừa thể hiện cách làm chủ động tránh các thiếu sót đã nêu, đồng thời giải quyết được mâu thuẩn kiểu “có hộ khẩu mới cấp sổ đỏ nhà đất” và “có sổ đỏ nhà đất mới cấp hộ khẩu”như sau:
- Không nên đánh giá nhân tài chỉ dựa vào bằng cấp. Nhân  tài thường khi  được đánh giá qua hiệu quả công việc, thành quả cống hiến cho xã hội:    
            đánh giá kết quả 
à tìm nhân tài.
- Nhà lãnh đạo, quản lý có tài, có tâm phải là người nhận biết nhân tài trong đám thường nhân (không phải thường dân) khi mà tài năng của họ chưa bộc lộ, tức là chưa thể dựa vào hiệu quả công việc, thành quả cống hiến để đánh giá là nhân tài. Do đó, phát hiện mầm mống để  bồi dưỡng, đào tạo và trọng dụng nhân tài là thước đo tài năng của nhà lãnh đạo, quản lý: Anh hùng đoán giữa trần ai mới già. (Truyện Kiều - Nguyễn Du).
Chiến lược Nhân tài, do đó dễ bàn  mà khó thực hiện lắm thay!
Huế, tháng 8 /2005
     P.X.P

(nguồn: TCSH số 205 - 03 - 2006)

 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • LÝ HOÀI THUSự vận động và phát triển của một giai đoạn văn học luôn diễn ra song hành cùng sự vận động và phát triển của các loại thể văn học. Nói một cách khác: sức sống của một giai đoạn văn học được biểu hiện rõ rệt nhất qua diện mạo thể loại. Chính vì vậy, thể loại vừa là sự "phản ánh những khuynh hướng lâu dài và hết sức bền vững của văn học" (1) vừa là sự hồi sinh và đổi mới liên tục qua mỗi chặng đường phát triển.

  • INRASARA (Tiếp theo Sông Hương số 245 tháng 7-2009)

  • HÀ VĂN THỊNH Những cái tên - có lẽ không giản đơn như cách nói của người Nga - " Người ta gọi tôi là...”  Ở đây, lớp vỏ của ngôn từ chỉ diễn tả một khái niệm mù mờ nhất của một lượng thông tin ít nhất.Trong khi đó, có bao giờ ta nghĩ rằng một cái tên, không ít khi hàm chứa thật nhiều điều - thậm chí nó cho phép người khác biết khá rõ về tính cách, khả năng và ngay cả một phần của số phận của kiếp người?

  • HÀ VĂN LƯỠNG1. Ivan Bunhin (1870-1953) là một nhà văn xuôi Nga nổi tiếng của thế kỷ XX. Cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của ông trải qua những bước thăng trầm gắn với nhiều biến động dữ dội mang tính chất thời đại của nước Nga vào những năm cuối thế kỷ XIX và mấy chục năm đầu thế kỷ XX.

  • LÊ THÀNH NGHỊCâu hỏi “ta là ai?”, “ta vì ai” nổi tiếng của Chế Lan Viên tưởng đã tìm ra câu trả lời có chứa hạt nhân hợp lý của thời đại trong thơ chống Mỹ đã không còn đủ sức ôm chứa trong thời kì mới, khi nhu cầu xã hội và cá nhân đã làm thức tỉnh cái tôi trữ tình của người làm thơ. Nhu cầu xã hội thường là những gì bức thiết nhất của thực tại, do thực tại yêu cầu. Chẳng hạn, thời chống Mỹ đó là độc lập tự do của dân tộc. Tất cả những hoạt động tinh thần, trong đó có sáng tác thơ văn, nếu nằm ngoài “sự bức thiết thường nhật” này không phù hợp, không được đón nhận... và vì thế không thể phát triển. Kể từ sau năm 1975, đặc biệt là sau 1986, với chủ trương đổi mới, trong xã hội ta, nhu cầu bức thiết nhất, theo chúng tôi là khát vọng dân chủ.

  • LÝ TOÀN THẮNG“Văn xuôi về một vùng thơ” là một thể nghiệm thành công của Chế Lan Viên trong “Ánh sáng và phù sa”, về lối thơ tự do, mở rộng từ thấp lên cao - từ đơn vị cấu thành nhỏ nhất là Bước thơ, đến Câu thơ, rồi Đoạn thơ, và cuối cùng là cả Bài thơ.

  • INRASARA1. Đó là thế hệ thơ có một định phận kì lạ. Người ta vội đặt cho nó cái tên: thế hệ gạch nối, thế hệ đệm. Và bao nhiêu hạn từ phái sinh nhợt nhạt khác.Đất nước mở cửa, đổi mới, khi văn nghệ được cởi trói, nhà thơ thế hệ mới làm gì để khởi sự cuộc viết? Cụ thể hơn, họ viết thế nào?

  • VÕ VĨNH KHUYẾN Tiểu luận nhằm tìm hiểu thành tựu thơ ca trong khoảng 16 tháng giữa 2 cột mốc lịch sử (19.8.1945 - 19.12.1946). Bởi khi phân chia giai đoạn văn học nói chung (thơ ca nói riêng) trong tiến trình lịch sử văn học, các công trình nghiên cứu, các giáo trình ở bậc Đại học - Cao đẳng và sách giáo khoa trung học phổ thông hiện hành, không đặt vấn đề nghiên cứu thơ ca (cũng như văn học) nói riêng trong thời gian này. Với một tiêu đề chung "Văn học kháng chiến chống Pháp 1946 - 1954". Đây là nguyên do nhiều sinh viên không biết đến một bộ phận văn học, trong những năm đầu sau cách mạng.

  • HỒ THẾ HÀ1. Diễn đàn thơ được tổ chức trên đất Huế lần này gắn với chương trình hoạt động của lễ hội Festival lần thứ 3, tự nó đã thông tin với chúng ta một nội dung, tính chất và ý nghĩa riêng. Đây thực sự là ngày hội của thơ ca. Đã là ngày hội thì có nhiều người tham gia và tham dự; có diễn giả và thính giả; có nhiều tiếng nói, nhiều tấm lòng, nhiều quan niệm trên tinh thần dân chủ, lấy việc coi trọng cái hay, cái đẹp, cái giá trị của nghệ thuật làm tiêu chí thưởng thức, trao đổi và tranh luận. Chính điều đó sẽ làm cho không khí ngày hội thơ - Festival thơ sẽ đông vui, phong phú, dân chủ và có nhiều hoà âm đồng vọng mang tính học thuật và mỹ học mới mẻ như P.Valéry đã từng nói: Thơ là ngày hội của lý trí (La poésie est une fête de l'intellect).

  • THẠCH QUỲThơ đi với loài người từ thủa hồng hoang đến nay, bỗng dưng ở thời chúng ta nứt nẩy ra một cây hỏi kỳ dị là thơ tồn tại hay không tồn tại? Không phải là sự sống đánh mất thơ mà là sự cùn mòn của 5 giác quan nhận thức, 6 giác quan cảm nhận sự sống đang dần dà đánh mất nó. Như rừng hết cây, như suối cạn nước, hồn người đối diện với sự cạn kiệt của chính nó do đó nó phải đối diện với thơ.

  • NGUYỄN VĨNH NGUYÊNNhững năm gần đây, người ta tranh luận, ồn ào, khua chiêng gõ mõ về việc làm mới văn chương. Nhất là trong thơ. Nhưng cái mới đâu chẳng thấy, chỉ thấy sau những cuộc tranh luận toé lửa rốt cục vẫn là: hãy đợi đấy, lúc nào đó, sẽ... cãi tiếp...

  • TRẦN VĂN LÝAi sản xuất lốp cứ sản xuất lốp. Ai làm vỏ cứ làm vỏ. Ai làm gầm cứ làm gầm. Nơi nào sản xuất máy cứ sản xuất máy. Xong tất cả được chở đến một nơi để lắp ráp thành chiếc ô tô. Sự chuyên môn hoá đó trong dây chuyền sản xuất ở châu Âu thế kỷ trước (thế kỷ 20) đã khiến cho nhiều người mơ tưởng rằng: Có thể "sản xuất" được thơ và sự "mơ tưởng" ấy vẫn mãi mãi chỉ là mơ tưởng mà thôi!

  • HOÀNG VŨ THUẬTChúng ta đã có nhiều công trình, trang viết đánh giá nhận định thơ miền Trung ngót thế kỷ qua, một vùng thơ gắn với sinh mệnh một vùng đất mà dấu ấn lịch sử luôn bùng nổ những sự kiện bất ngờ. Một vùng đất đẫm máu và nước mắt, hằn lên vầng trán con người nếp nhăn của nỗi lo toan chạy dọc thế kỷ. Thơ nảy sinh từ đó.

  • BÙI QUANG TUYẾNThơ mới là một hiện tượng nổi bật của văn học Việt Nam nói chung và thơ ca nói riêng trong thế kỷ XX. Nó vừa ra đời đã nhanh chóng khẳng định vị trí xứng dáng trong nền văn học dân tộc với các "hoàng tử thơ": Thế Lữ , Xuân Diệu, Huy Cận, Lưu Trọng Lư, Chế Lan Viên, Hàn Mặc Tử v.v... Đồng thời, Thơ mới là một hiện tượng thơ ca gây rất nhiều ý kiến khác nhau trong giới phê bình, nghiên cứu và độc giả theo từng thời kỳ lịch sử xã hội, cho đến bây giờ việc đánh giá vẫn còn đặt ra sôi nổi. Với phạm vi bài viết này, chúng tôi điểm lại những khái niệm về Thơ mới và sự đổi mới nghệ thuật thơ của các bậc thầy đi trước và tìm câu trả lời cho là hợp lý trong bao nhiêu ý kiến trái ngược nhau.

  • MẠNH LÊ Thơ ca hiện đại Việt Nam thế kỷ XX đã thu được những thành tựu to lớn đóng góp vào sự phát triển của lịch sử thơ ca dân tộc. Đặc biệt từ ngay sau Cách mạng tháng 8 năm 1945, Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời thay thế chế độ phong kiến thực dân hơn trăm năm đô hộ nước ta cùng với khí thế cách mạng kháng chiến cứu nước theo lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh tháng 12 năm 1946 đã thổi vào đời sống văn học một luồng sinh khí mới để từ đó thơ ca hiện đại Việt Nam mang một âm hưởng mới, một màu sắc mới.

  • NGUYỄN KHẮC THẠCHNếu gọi Huế Thơ với tư cách đối tượng thẩm mĩ thì chủ thể thẩm mĩ của nó trước hết và sau cùng vẫn là sự hoá sinh Thơ Huế. Đương nhiên, không hẳn chỉ có Thơ Huế mới là chủ thể thẩm mĩ của Huế Thơ và cũng đương nhiên không hẳn chỉ có Huế Thơ mới là đối tượng thẩm mĩ của Thơ Huế. Huế Thơ và Thơ Huế vẫn là hai phạm trù độc lập trong chừng mực nào đó và có khi cả hai đều trở thành đối tượng thẩm mĩ của một đối tượng khác.

  • ĐỖ LAI THÚYThanh sơn tự tiếu đầu tương hạc                                  Nguyễn KhuyếnNói đến Dương Khuê là nói đến hát nói. Và nói đến hát nói, thì Hồng Hồng, Tuyết Tuyết làm tôi thích hơn cả. Đấy không chỉ là một mẫu mực của thể loại, mà còn làm một không gian thẩm mỹ nhiều chiều đủ cho những phiêu lưu của cái đọc.

  • NGUYỄN NGỌC THIỆNHải Triều tên thật là Nguyễn Khoa Văn, sinh năm 1908 trong một gia đình Nho học, khoa bảng. Năm 20 tuổi, trở thành đảng viên trẻ của Tân Việt cách mạng Đảng, Nguyễn Khoa Văn bắt đầu cầm bút viết báo với bút danh Nam Xích Tử (Chàng trai đỏ). Điều này đã khiến trong lần gặp gỡ đầu tiên, người trai có "thân hình bé nhỏ và cử chỉ nhanh nhẹn theo kiểu chim chích" (1) ấy đã gây được cảm tình nồng hậu của Trần Huy Liệu- chủ nhiệm Nam Cường thư xã, người bạn cùng trang lứa tuy vừa mới quen biết, nhưng đã chung chí hướng tìm đường giải phóng cho dân tộc, tự do cho đất nước.

  • TÔ VĨNH HÀ Huế đang trở lạnh với "mưa vẫn mưa bay" giăng mờ như hư ảo những gương mặt người xuôi ngược trên con đường tôi đi. Tôi giật mình vì một tà áo trắng vừa trôi qua. Dáng đi êm nhẹ với cánh dù mỏng manh như hơi nghiêng xuống cùng nỗi cô đơn. Những nhọc nhằn của tuổi mơ chưa đến nỗi làm bờ vai trĩu mệt nhưng cũng đủ tạo nên một "giọt chiều trên lá(1), cam chịu và chờ đợi nỗi niềm nào đó hiu hắt như những hạt mưa...

  • NGUYỄN HỒNG DŨNG1. Một cuộc đời lặng lẽ và những truyện ngắn nổi danhO' Henry, tên thật là William Sydney Porter, được đánh giá là người viết truyện ngắn xuất sắc nhất của nước Mỹ những năm đầu thế kỷ XX. Ông sinh tại Greenboro, tiểu bang North Carolina vào năm 1862. Năm 15 tuổi (1877), ông thôi học và vào làm việc trong một hiệu thuốc tây. Vào tuổi hai mươi, ông bị đau nặng và sức khoẻ sa sút nên đã đến dưỡng sức ở một nông trại tại tiểu bang Texas. Ông đã sống ở đấy hai năm, đã làm quen với nhiều người và hiểu rất rõ tính cách miền Tây. Sau này, ông đã kể về họ rất sinh động trong tập truyện ngắn có tựa đề đầy xúc cảm Trái tim miền Tây.