Quẻ Bát Thuần Càn với nhân tài

09:58 27/11/2008
PHẠM XUÂN PHỤNG Chu Dịch có 64 quẻ, mỗi quẻ có 6 hào. Riêng hai quẻ Bát Thuần Càn và Bát Thuần Khôn, mỗi quẻ có thêm một hào.

Bát Thuần Càn có: Sơ Cửu, Cửu Nhị, Cửu Tam, Cửu Tứ, Cửu Ngũ, Thượng Cửu và Dụng Cửu. Dụng Cửu chỉ là hào thêm vào, không nằm trong tượng quẻ  Bát Thuần Càn, chỉ là để diễn cái lý biến dịch.
Tượng quẻ Bát Thuần Càn: 
 Suy ngẫm về quẻ Bát Thuần Càn, thấy nhiều thâm ý, nhiều cái lý vi diệu về vũ trụ và vạn vật, xã hội và con người. Nhưng có một cái lý về con người và cách dùng người, khả dĩ lấy làm cơ sở để bàn luận về nhân tài. 
Nguyên uỷ, theo truyền thuyết, Phục Hy chỉ vạch ra quẻ Bát Thuần Càn có 6 vạch. Thời đó chưa có văn tự nên chưa có kinh văn. Về sau Văn Vương nhà Chu đặt ra Soán Từ để thích nghĩa quẻ. Chu Công Đán đặt ra hào từ để thích nghĩa hào. Khổng Tử, theo truyền thuyết, soạn ra Thập Dực để giải thích rộng ra cho nhiều người hiểu.
Bài này cốt chỉ mượn quẻ Bát Thuần Càn để luận về NHÂN TÀI nên xin bỏ qua Soán từ, Văn Ngôn và những vấn đề khác.

* Sơ Cửu: Hào từ của Chu Công Đán: Tiềm long, vật dụng.
Người ở vào địa vị hào Sơ Cửu cũng như Rồng còn ẩn nấp, giấu dưới đất chưa đến thời xuất hiện, chưa đủ sức để bay nhảy. Do đó, chỉ nằm chờ thời, chưa thể dùng.
Nằm chờ thời không phải theo kiểu thụ động tiêu cực “há miệng chờ sung rụng” hoặc “ôm cây đợi thỏ”. Thời chưa đến nên phải chờ. Người ở địa vị hào này, xét mình mới chỉ có tiềm năng, chớ nên bộc lộ tài năng chưa chín. Tựa như con ấu trùng phải náu mình dưới đất 17 năm, thấm nhuần tinh tuý đất trời mới hoá thành con Ve để cất cao bài ca rộn rã một trưa hè. Thời này là lúc học tập, tu dưỡng, trui rèn để tiềm năng biến thành khả năng, năng khiếu thành tài năng. Nhà lãnh đạo, quản lý biết dùng người mà gặp cấp dưới ở địa vị hào Sơ Cửu thì dù tin yêu đến mấy cũng chớ nên vội dùng, chỉ nên tài bồi để khỏi mai một tài năng. Nếu vội dùng, cũng như “Cao Biền dậy non”, chẳng làm được gì mà đã “chết”. Cha mẹ chớ nên thấy con bộc lộ chút năng khiếu đã vội mừng, thần đồng hoá năng lực bẩm sinh để rồi ấu trùng lột xác non, chưa thấy ánh mặt trời đã chết.
Tóm lại, từ muôn vật đến con người, từ cá thể đến tập thể, từ gia đình đến xã hội, đây là giai đoạn gieo mầm, ươm giống đào tạo tài năng.

* Hào thứ hai trong Bát Thuần Càn là hào Cửu Nhị. Hào từ của Chu Công Đán: Cửu Nhị, hiện long tại điền, lỵ kiến đại nhân
Người ở vào địa vị hào này được ví như tượng con Rồng đã qua thời tiềm long, đến thời hiện ra trên mặt (đất) ruộng; như người đã thành tài xuất hiện giữa xã hội để giúp đời với một hoài bão lớn lao. Họ cần có một điều kiện quyết định: lỵ kiến đại nhân. Người tài mà không gặp được người tài đồng tâm đồng chí và đang ở cương vị lãnh đạo, quản lý tin dùng thì tài kia cũng bỏ.

Ý trong bài viết NGƯỜI SỬ DỤNG PHẢI CÓ BẢN LĨNH của Tiến sỹ Hồ Bất Khuất (TUỔI TRẺ số ra ngày 12/8/2004 trang 01) phù hợp với ý trong hào này. Đó là bậc đại nhân ở hào Cửu Ngũ mà người tài ở hào Cửu Nhị cần có. Như Phạm Ngũ Lão cần có Trần Hưng Đạo, Phạm Cự Lượng cần được Lê Hoàn tin dùng vậy. Thời nay, những Lương Định Của, Đặng Văn Ngữ, Phạm Quang Lễ và nhiều nhân tài Việt Nam khác ở nước ngoài đã quy tụ dưới lá cờ Việt Minh vì đại nghĩa cứu dân cứu nước của Mặt trận và của Đảng Cộng sản Việt Nam vì họ may mắn được lỵ kiến đại nhân Hồ Chí Minh. Lòng yêu nước kết hợp với lòng tin vào lãnh tụ đã khiến họ từ bỏ vinh hoa phú quý đất người mà họ đang hưởng để trở về cùng toàn dân chịu bao gian khổ thiếu thốn - kể cả thiếu thốn phương tiện nghiên cứu khoa học - và chấp nhận hy sinh - kể cả tính mạng - một lòng trung thành với mục đích lý tưởng của Đảng và sự nghiệp giải phóng dân tộc. Nhìn lại ngày nay, nhiều nhân tài rời đất nước ra đi hoặc ở lại nước ngoài làm việc sau khi được gia đình và Nhà nước bỏ bao công của đào tạo chỉ vì lý do thiếu điều kiện làm việc và phương tiện nghiên cứu mà bỗng thấy băn khoăn!.

Lùi lại lịch sử - pha đôi phần huyền sử - về sự thất bại của nhà Âu Lạc trước sự xâm lược của Triệu Đà, thấy không chỉ do tình yêu lầm lỡ của Mỵ Châu với Trọng Thủy mà có lẽ nên xét đến cách dùng nhân tài - tướng quân Cao Lỗ - của An Dương Vương Thục Phán. Cao Lỗ là một bậc đại nhân ở hào Cửu Nhị  nhưng đã không gặp được - đúng ra là gặp rồi mà không được tin dùng trước sau như một - bậc đại nhân ở hào Cửu Ngũ nên nỗi “cơ đồ đắm biển sâu”.
Có thể nói trắng ra rằng: trong thời hiện đại, các nước tư bản chủ nghĩa phát triển nhất, tiêu biểu là nước Mỹ và Nhật Bản - đã  biết cách ươm trồng và trọng dụng nhân tài vì mục đích lợi nhuận của các công ty và lợi ích quốc gia của họ. Thuật ngữ “săn đầu người” nói rõ điều này. Tại  các nước này, người tài ở mọi lĩnh vực đều được trọng dụng, sử dụnglợi dụng để đem lại lợi nhuận tối đa cho các ông chủ, nhưng bản thân người tài luôn có cơ hội toả sáng tài năng và đem lại một cuộc sống giàu sang nhờ tài năng ấy. Maradona, David Beckham là những ví dụ sinh động nhất trong lĩnh vực thể thao.

Người tài ở hào Cửu Nhị cần có bậc đại nhân biết dụng tài ở hào Cửu Ngũ. Trong lịch sử quân sự và chính trị các nước - kể cả nước ta - từ cổ chí kim nhiều vô kể. Như Mura - kẻ chăn ngựa - nhờ gặp Napoléon mà sau này trở thành một danh tướng, một thống chế tiếng tăm lừng lẫy.
Nhưng một khi không “lỵ kiến đại nhân“ mà ngược lại tài năng đã bộc lộ thì có nguy cơ “cây thẳng bị chặt trước, giếng ngọt bị cạn trước”. Cổ nhân có câu: 
Tâm kiêng nhất là tâm hiểm sâu.
Tài kiêng nhất là tài bộc lộ
Hiện tượng này có rất nhiều trong xã hội Trung Hoa phong kiến và xã hội Việt hiện nay vẫn còn. Biết bao người có tài, có tâm huyết song chẳng may tính cách quá thẳng thắn, thân cô, thế cô, lại chẳng biết nịnh hót cấp trên nên đã bị trù dập, triệt hạ. Nhạc Phi bị giết bởi tên đại gian thần Tần Cối, nhưng thực ra ông  đã bị vua Cao Tông “giết chết” từ lâu khi ông bày tỏ ý định và đủ khả năng thực hiện ý định đưa hai vua trước về nước. Cao Tông sợ mất ngôi vua nên đã cho Nhạc Phi mất đầu, bất chấp hậu hoạ nhà Tống về sau mất nước và hậu duệ ông ta là Triệu Bính phải nhảy xuống biển tự trầm để khỏi rơi vào tay giặc ngoại xâm.

* Cửu Tam: Thân phận người ở hào Cửu Nhị mà không gặp được bậc đại nhân tuy khổ nhưng cũng  khá hơn người ở địa vị hào Cửu Tam trong quẻ Bát Thuần Càn. Hào Từ viết: Cửu Tam, Quân tử chung nhật kiền kiền, tịch dịch nhược, lệ, vô cựu.
Hào Cửu Tam ở trên cùng Nội quái và dưới Ngoại quái, chữ viết là hạng “bán thượng, lạc hạ”, dân ta hay gọi là hạng “đầu binh, cuối cán” hoặc nặng hơn là hạng “đầu chày, đít thớt” chuyên lo việc mà chẳng đặng hưởng công. Cái thế chông chênh ở trên cùng của hạng dưới, hết mức để tiến; lại ở dưới cái trên, muốn tiến lên thì bị chặn. Tựa như anh chàng thượng sĩ trong quân đội hiện đại: Trên hay chê mắng, sai khiến, dưới hay trách móc, cậy nhờ. Làm tốt thì trên hưởng lợi, dưới kêu ca. Làm không xong thì dưới chê cười, trên trách phạt. Bởi thế mới phải “chung nhật kiền kiền - suốt ngày phải hăng hái tự cường” lại phải “tịch dịch nhược - từ sáng đến tối như luôn có điều lo sợ”, nghĩa là vừa phải ráng lo tròn bổn phận vừa phải lo tu tỉnh giữ mình, tránh mắc lỗi lầm mới” khỏi tội lỗi - vô cựu”. Trong một so sánh có tính tượng trưng, người ở địa vị hào này cũng như người huấn luyện viên bóng đá.
Người tốt có tài, có tâm  ở vào cái thế trên đe dưới búa như vậy thật là trăm đắng ngàn cay. Hạng người này có tài chưa chắc đã được công nhận nhưng chắc chắn là luôn bị lợi dụng kiểu “vắt chanh bỏ vỏ”. Nhân tài rơi vào cảnh ấy, tiếc lắm thay! Muốn khỏi thất bại thì phải:
Người ta ra công một lần thì thành
Mình phải ra công hàng trăm lần mới mong thành.
Xã hội ta hiện nay, ai biết cụ thể có bao nhiêu người rơi vào cảnh đắng cay ấy. Lận đận gian truân thời tuổi trẻ; công phu rèn dũa tuổi trung niên; đến lúc tài năng vừa độ chín; hết thời quy hoạch đợi điền viên (về hưu.)!

* Cửu Tứ: hoặc dược tại uyên, vô cựu.
Người ở địa vị hào này ví như con rồng ở vực sâu, có thể suốt đời không bay lên được, cũng có thể nhảy lên mặt đất khi có đủ sức mạnh và thời cơ. Đây là vị trí có thể tiến đến thành công, cũng đầy nguy cơ thất bại, nhưng cơ tiến nhiều hơn so với hào Cửu Tam.
Nhân tài ở vào cảnh này cần biết mình còn có cơ tiến thủ, cần có và nuôi dưỡng tinh thần cầu tiến, khiêm tốn tự xét lỗi mình, học cái hay của người thì mới mong “tái xuất giang hồ” thành công. Ở một mức độ nhất định, QBV 2003 Phạm Văn Quyến đang ở địa vị hào Cửu Tứ , nếu biết tự tu dưỡng ắt thành “Phi Long”.Trong xã hội, hạng người này rất nhiều và không hiếm người tài năng. Nhà lãnh đạo quản lý cần biết khích lệ họ.
Phạm Ngũ Lão lần đầu tiên lên kinh đô bái kiến Tiết chế Quốc Công Trần Quốc Tuấn, may mắn được Quận chúa Anh Nguyên gặp và đem lòng yêu. Rủi cho chàng  bị Nguyễn Địa Lô thách thức, đã giương cung bắn đứt dây buộc cờ tại quân doanh, một lỗi nặng có thể mất đầu. Tiết chế Quốc Công tiếc người tài, không nỡ xử  theo quân pháp. Chỉ đuổi về quê. Giữa lúc người anh hùng gặp nạn, đang buồn bã mất phương hướng thì Quận chúa Anh Nguyên đã kịp thời đến thăm và tặng chàng 4 câu thơ khích lệ chí anh hùng:
Lập chí xưa nay có mấy người
Anh hùng há sợ bước chông gai
Phải cơn vận bĩ xin bền chí
Gặp gió đại bàng sải cánh bay.
Cũng trong thời Trần, còn có một danh tướng khác. Ông là một vị vương, bị mắc lỗi nặng, tước hết vương vị, binh quyền. Trở về làm nghề bán than, vẫn nung nấu chí lập công đền ơn vua lộc nước. Khi Vua Trần hội quân để chống địch, thuyền rồng đang ở giữa sông chợt thấy từ xa một chiếc thuyền chở đầy than. Người chèo thuyền ca rằng:
Một gánh càn khôn quẩy xuống ngàn
Hỏi: chi bán đó? Gửi rằng: than!
.......
Khẩu khí bài ca không phải của kẻ tầm thường. Vua nghe ra và hiểu, bèn gọi lại hỏi han. Nhờ đó, người bán than trở lại thành danh tướng, đánh chìm đoàn thuyền lương của Trương Văn Hổ ở bến Vân Đồn - Quảng Ninh. Đó là Trần Khánh Dư. Xét kỹ cơ nguy của Trần Khánh Dư kém hơn Phạm Ngũ Lão vì không bị tội chém đầu. Nhưng cơ tiến của Trần Khánh Dư thấp hơn vì mấy ai làm quan bị cách chức lại được phục quan , thăng chức. Phạm Ngũ Lão chưa làm lính, chưa làm tướng nên khi mắc lỗi thì “dân vẫn là dân” còn Trần Khánh Dư thời “hết quan hoàn dân” khác hẳn. Do vậy, ở cái địa vị Con rồng bị hãm trong vực, có thể kiên nhẫn tu trì rèn luyện tài năng, đợi thời để nhảy được thì nhảy (hoặc dược) bay được thì bay (hoặc phi), không nhất định, tuỳ thời, tuỳ mình. Đây là giai đoạn bồi dưỡng nhân tài.
Ở mức độ cao hơn, vì đại nghĩa cứu nước, vì sự nghiệp của Cách mạng Việt Nam “con rồng Hồ Chí Minh” cũng đã có lần bị giam vào ngục tối ở Hương Cảng. Nhưng Người tù vĩ đại Hồ Chí Minh đã xác định:
Thân thể tại ngục trung
Tinh thần tại ngục ngoại
Dục thành đại sự nghiệp
Tinh thần cánh yếu đại.

* Hào Cửu Ngũ:
Hào từ của Chu Công Đán: Phi long tại thiên, lỵ kiến đại nhân.
Đây là hào dương cương, đắc trung, đắc chính, do đó là hào đại cát trong 6 hào của quẻ Bát Thuần Càn. Vì lẽ đó, ngôi vua ngày xưa được gọi là ngôi Cửu Ngũ (ngai của vua được đặt trên bệ có 9 bậc gọi là Cửu trùng).
Người bình thường được hào Cửu Ngũ chớ vội mừng vì để được ở ngôi chí tôn cần có đủ tài, đức, thời, vận. Không có tài dù có đức, ngồi ở ngôi vua chỉ là kẻ bù nhìn. Có tài, vô đức ngồi ở ngôi vua dễ thành bạo chúa. Không có tài, đức, thời, vận mà được đặt lên ngai vàng thì chỉ là con cờ trong tay kẻ đại gian thần như Tào Tháo mà thôi.
Người có đủ tài, đức, thời vận được giữ ngôi cao là chính mệnh, nhưng chưa chắc trường mệnh nếu không có người tài giúp sức. Hưng Đạo Vương xưa đã nói: “Chim Hồng, Chim Hộc  sở  dĩ bay được cao, được xa là nhờ 9 trụ lông cánh”. Vậy nên Cửu Ngũ tuy là Phi long tại thiên song cũng phải lỵ kiến đại nhân là bậc anh hùng tuấn kiệt phò giúp mới thành đại nghiệp, giữ được đại nghiệp. Muốn vậy, phải trọng dụng nhân tài.
Do vậy, nhà lãnh đạo, nhà quản lý có tài đức phải là người biết ươm trồng, phát hiện, bồi dưỡng, đào tạo trọng dụng nhân tài. Khâu trọng dụng là khâu quyết định vì nhiều khi nhân tài ẩn nấp như tiềm long, đôi khi gặp được người biết trọng dụng mới hiện long  đem sức giúp đời. Đây là trường hợp Võ Vương nhà Chu cầu Khương Tử Nha, Quang Trung Nguyễn Huệ cầu La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp, Lưu Bị ba lần đến lều cỏ rước Khổng Minh. Thời hiện đại, sát gần đây Liên đoàn Bóng đá Hy Lạp đã có con mắt xanh chọn tướng tài Otto Rehagel làm HLV trưởng ĐTQG Hy Lạp. Từ đó có chiếc HCV Vô địch Châu Âu năm 2004. Đó là “chọn mặt gửi vàng”.
Hai hào  cuối của quẻ Bát Thuần Càn vượt quá phạm vi bài này nên xin không bàn đến.

Như vậy, một quy trình đầy đủ về nhân tài phải gồm 5 bước: ươm trồng, phát hiện, bồi dưỡng, đào tạo trọng dụng. Thiếu một bước vẫn được, nhưng không hoàn hảo. Vì sao?
Nếu chỉ “nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài” như Nghị quyết Đại hội VIII và IX  của Đảng đã nêu thì dường như có hai điều chưa bàn đến:
- Một là: chỉ lo bồi dưỡng nhân tài nghĩa là chỉ ăn sẵn cái vốn quý do xã hội tạo ra, không có chiến lược lâu dài, kiểu như LĐBĐVN vẫn làm khi tập trung ĐTQG thi đấu giải khu vực. Mặt khác coi nhân tài như gà nòi, bồi dưỡng nhân tài để thi đấu lấy giải, lấy thành tích theo kiểu cách của ngành GD - ĐT đối với trường chuyên, các đội tuyển thi Olympic quốc tế về toán, vật lý, tin học, hoá học lâu nay cũng là chuyện cần xem lại và nên huỷ bỏ để diệt căn bệnh thành tích.
- Hai là: bồi dưỡng xong nhân tài mà không trọng dụng thì thật sai lầm: Dọn cỗ cho người khác ăn. Nếu không có quá trình bồi dưỡng ấy, lấy đâu ra Phạm Hữu Tiệp, Đàn Thanh Sơn, Lê Tự Quốc Thắng và bao nhiêu người tài khác. Nhưng nay những người tài ấy ai dùng? Không phải Ta. Đau thật! Phí của thật!.

Do đó, Chiến lược Nhân tài của Đảng nên là một chiến lược vĩnh cửu, bao giờ cũng đúng và không thiếu sót. Đảng và Nhà nước phải chủ động từ bước đầu tiên (ươm mầm nhân tài) và chủ trì thực hiện thật tốt bước cuối cùng: trọng dụng nhân tài. Tôi không tán thành cách dùng từ “sử dụng nhân tài” vì như vậy vẫn hàm ý coi nhẹ nhân tài và đối xử với họ chẳng khác gì một công cụ hữu ích hoặc một nhân lực lao động bình thường mà thôi. Nhân tài cần được trọng dụng, gồm cả: tin cậy, giao phó, tạo lập môi trường sáng tạo, phát huy tài năng và hậu đãi, trả công xứng đáng cho họ. Nhưng cũng cần nói thêm cho rõ: nhân tài đích thực lắm khi không cần danh lợi, lắm khi vì nghĩa mà hy sinh, vì được tin cậy mà dốc lòng cống hiến. Đó là cốt cách nhân tài Á Đông chịu ảnh hưởng sâu đậm của Khổng giáo. Lớp trẻ tài năng của Việt chưa chắc đã chấp nhận điều này mà có khi họ đòi hỏi sự công bằng: “Tài nào của nấy”. Nên chi, nhà lãnh đạo, quản lý phải tuỳ thời mà dùng, tuỳ người mà xử, không nên và không thể dựa vào phẩm cách nhân tài mà xử với họ theo kiểu “hoà nước sông chén rượu ngọt ngào” của thời khởi nghĩa chống ngoại xâm.

Thực hiện đủ quy trình 5 bước nói trên vừa thể hiện cách làm chủ động tránh các thiếu sót đã nêu, đồng thời giải quyết được mâu thuẩn kiểu “có hộ khẩu mới cấp sổ đỏ nhà đất” và “có sổ đỏ nhà đất mới cấp hộ khẩu”như sau:
- Không nên đánh giá nhân tài chỉ dựa vào bằng cấp. Nhân  tài thường khi  được đánh giá qua hiệu quả công việc, thành quả cống hiến cho xã hội:    
            đánh giá kết quả 
à tìm nhân tài.
- Nhà lãnh đạo, quản lý có tài, có tâm phải là người nhận biết nhân tài trong đám thường nhân (không phải thường dân) khi mà tài năng của họ chưa bộc lộ, tức là chưa thể dựa vào hiệu quả công việc, thành quả cống hiến để đánh giá là nhân tài. Do đó, phát hiện mầm mống để  bồi dưỡng, đào tạo và trọng dụng nhân tài là thước đo tài năng của nhà lãnh đạo, quản lý: Anh hùng đoán giữa trần ai mới già. (Truyện Kiều - Nguyễn Du).
Chiến lược Nhân tài, do đó dễ bàn  mà khó thực hiện lắm thay!
Huế, tháng 8 /2005
     P.X.P

(nguồn: TCSH số 205 - 03 - 2006)

 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • NGUYỄN ĐÌNH CHÍNHThực trạng của phê bình nghệ thuật hiện nay đang là một câu hỏi cần phải được trả lời.

  • THỦY THANHCuộc thi thơ dành cho người tàn tật ở Thừa Thiên Huế mặc dù "thời gian ứng thí" chưa đầy 2 tháng nhưng đã thu được kết quả đáng khích lệ. Với 33 tác phẩm của 7 tác giả nghiệp dư mang khuyết tật trên mình nhưng mỗi con người trong họ vẫn là "một thế giới một tâm hồn" lành lặn.

  • HOÀNG TẤT THẮNGMột trong những đặc điểm đặc thù của tiếng Việt là: các danh từ chỉ sự vật, hiện tượng, trạng thái, tính chất... không phải luôn chỉ đứng một mình mà thường kết hợp với một từ đứng trước với chức năng phân loại, chỉ đơn vị, biểu thái... trong lời nói. Chẳng hạn, sự vật thuyền trong tiếng Việt không phải chỉ có từ "thuyền" mà còn có "cái thuyền", "chiếc thuyền", "con thuyền", "lá thuyền", "mảnh thuyền"... các từ "cái - chiếc - con - lá - mảnh..." thường gọi là từ chỉ loại (hay là loại từ).

  • NGUYỄN THANH HÙNGVăn học thời đại nào cũng là sự du di cái nhìn thấm sâu vào đời sống. Thơ văn nói tới cái thật xa, rồi lại trở về với cái thật gần. Muốn đi xa, hành trang thơ phải gọn nhẹ, nhẹ chữ nhưng nặng lòng. Thơ Thiền là vậy. Mỗi câu thơ như một mũi tên bay vào tưởng tượng. Giữa những dòng thơ Thiền là một cõi chân như, vượt ra ngoài định giới môi trường xã hội quen thuộc, vì thế thơ Thiền thênh thang hướng đạo nhằm mục đích cứu sinh, đưa con người trở về với chính nó.

  • LÊ ĐẠT                Đường bụi trang lịch cũ                 ếp ếp đàn thời gian                                           L.Đ

  • HOÀNG NGỌC HIẾN             (góp phần định nghĩa minh triết)Tôi bắt đầu tiểu luận này bằng những suy nghĩ có liên quan đến chủ đề minh triết của hai học giả Việt Nam: Ngô Thời Sĩ (1740-1786) và Kim Định (1914- 1997).

  • VÕ VĨNH KHUYẾNBa mươi năm, sau khi Bác qua đời (1969 - 1999) có nhiều công trình nghiên cứu, nhiều chuyên luận và khá nhiều bài viết trên các báo, tạp chí trong và ngoài nước về thơ, văn của Bác. Quy mô và mức độ có khác nhau. Tuy vậy, vẫn có chỗ chưa được khảo sát một cách đầy đủ, chưa được đầu tư nghiên cứu một cách thỏa đáng. Trong phạm vi, khả năng cá nhân và nội hàm vấn đề, chúng tôi mạnh dạn trình bày một số suy nghĩ về thơ Bác viết cho thiếu nhi.

  • NGÔ TỰ LẬP(Tiếp theo TCSH số 127/9-99)

  • NGÔ TỰ LẬP1.Platon nói rằng không thể có sự bình đẳng của những kẻ vốn không bình đẳng về mặt năng lực tự nhiên. Đó là xã hội người, nhưng chúng ta cũng có thể nói tương tự như vậy về xã hội từ ngữ.

  • ĐÀO DUY HIỆP    “Hội làng mở giữa mùa thu     Giời cao gió cả giăng như ban ngày”                                            (Nguyễn Bính)

  • YURI BONDAREVTên tuổi của nhà văn Nga Yuri Bônđarép rất gần gũi với bạn đọc Việt Nam qua những tác phẩm nỗi tiếng của ông đã được dịch ở ta vào thập kỷ 80 như: "Các tiểu đoàn xin chi viện", "Tuyết bỏng", "Bến bờ", "Lựa chọn", "Trò chơi"... Là một trong những nhà văn Xô Viết hàng đầu miêu tả hùng hồn và chân thực chủ nghĩa anh hùng cách mạng của quân và dân Liên Xô trong cuộc chiến tranh vệ quốc thần thánh chống phát xít Đức 1941- 1945, Bônđarép đã được phong Anh hùng lao động xã hội chủ nghĩa, được tặng giải thưởng Lênin, các giải thưởng Quốc gia, giải thưởng Lép Tônxtôi và M.Sôlôkhốp, giải thưởng toàn Nga "Xtalingrát"...

  • TRẦN ĐÌNH SỬVăn học Trung Quốc trong cơ chế thị trường đã có những biến đổi khá lớn. Theo các tác giả của sách Văn học Trung Quốc thế kỷ XX xuất bản tại Quảng Châu năm 1988 có thể nắm được một đôi nét diện mạo, chứng tỏ văn học Trung Quốc không còn có thể tồn tại theo phương thức cũ. Cơ chế thị trường đã làm cho nhà văn và nhà phê bình phải suy tính lại về sách lược sinh tồn và phương hướng phát triển nghề nghiệp.

  • ĐOÀN TUẤNThạch Lam qua đời cách đây đã hơn nửa thế kỉ. Ông để lại cho chúng ta một khối lượng tác phẩm không lớn nhưng chúng đã trở thành một mẫu số vĩnh hằng trong văn học Việt Nam. Tiếc rằng chúng ta đã không thể lưu giữ một bức chân dung nào của Thạch Lam. Thậm chí mộ ông được chôn cất nơi nào, cũng không ai biết.

  • NHẬT CHUNG       (Đọc bài thơ XÓM LỤT của anh Phạm Xuân Phụng)Anh Phụng là bác sĩ ở Bệnh viện Trung ương Huế. Tôi tìm hết trong tuyển tập HAI THẬP KỶ THƠ HUẾ, chỉ duy nhất bài thơ này viết về cảnh lụt lội hàng năm vẫn xảy ra ở mảnh đất nghèo khó. Trong những ngày đau buồn, khi nước vừa rút, trắng bợt trước mắt tôi những bài thơ tình èo uột nỉ non ẻo lả, và đứng dậy trước mắt tôi một bài thơ XÓM LỤT.

  • PHONG  LÊBến không chồng - Giải thưởng Hội Nhà văn năm 1991 đưa nhanh Dương Hướng lên một vị trí cao trong thành tựu văn học Đổi mới. Không thuộc đội ngũ “tiền trạm” xuất hiện từ đầu những năm 80 như Ma Văn Kháng, Nguyễn Khải, Nguyễn Minh Châu và Nguyễn Mạnh Tuấn (sinh năm 1948) - người cùng thế hệ với anh (sinh 1949), đến tuổi 40 mới bắt đầu trình làng với tập truyện ngắn Gót son (1989), thế mà chỉ 2 năm sau, Dương Hướng bỗng trở thành một “tên tuổi” với Bến không chồng, góp mặt cùng Mảnh đất lắm người nhiều ma của Nguyễn Khắc Trường, Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh làm nên một bộ ba sáng giá trong văn học mở đầu thập niên 90, năm năm sau khởi động của công cuộc Đổi mới.

  • HÀ QUANG MINHLTS: Liệu có phải văn hóa chỉ đơn thuần là văn hóa hay nói cách khác là chỉ chứa đựng các yếu tố văn hóa không? Câu trả lời chắc chắn là không. Văn hóa mang cả trong nó tính chính trị và kinh tế. Trong khuôn khổ bài viết này, chỉ nhắc tới tính kinh tế trong văn hóa mà thôi nhưng hy vọng nó sẽ đóng góp nhiều cho công cuộc xây dựng một xã hội văn minh hơn, công bằng hơn.

  • ĐỖ LAI THÚYVề Kinh Bắc với những hội hè, chùa chiền, với đồng chiều cuống rạ, dây bìm bìm, bí lông tơ, giun đất, con gà trụi, châu chấu.. làm người đọc nhớ đến dòng thơ viết về nông thôn, nhất là thơ Nguyễn Bính. “ Trong các nhà thơ cùng thời viết về nông thôn như Bàng Bá Lân, Anh Thơ, Đoàn Văn Cừ... có lẽ chỉ có Nguyễn Bính là nhận thức sâu sắc được sự thay đổi của thôn quê trước “ cuộc xâm lăng” của đô thị.

  • TRẦN VĂN TOÀN - NGUYỄN XUÂN DIÊN1. Ảnh hưởng của Thơ Đường đối với Thơ Mới là một vấn đề từ lâu đã được đề cập tới. Ngay từ năm 1942, Hoài Thanh- Hoài Chân trong Thi nhân Việt Nam mặc dù giành nhiều trang để miêu tả ảnh hưởng của thơ Pháp (đặc biệt là trường phái Tượng trưng) nhưng các ông đã trân trọng và có một chút hứng thú đặc biệt về ảnh hưởng của Thơ Đường đối với Thơ Mới (điều này được bộc lộ qua công phu miêu tả, khảo cứu và cụ thể hơn từ chính số lượng trang viết). Khi phân chia các dòng mạch Thơ Mới, Hoài Thanh- Hoài Chân nói tới dòng mạch chịu ảnh hưởng của thơ Pháp, dòng mạch mang tính cách Việt, đồng thời cũng nói tới dòng mạch chịu ảnh hưởng từ Đường thi.

  • HOÀNG NGỌC HIẾN…Trong thời kỳ đổi mới xuất hiện nhiều tác phẩm cảm hứng phê phán rất mạnh. Có những quan điểm và giọng điệu phê phán rất khác nhau: xót xa và lo thương, căm uất và hằn học, tỉnh táo và điềm đạm... Cảm hứng phê phán mang tinh thần hài hước khoan hòa sẽ tạo một vị trí đặc biệt cho Nguyễn Việt Hà trong văn xuôi Việt Nam đương đại…

  • ALEXANDER GENISTrên thị trường Mỹ đã xuất hiện những cuốn sách điện tử đầu tiên. “Softbook” - một đĩa điện tử có màn hình bọc da. Sức chứa - 100 000 trang, trọng lượng - 15 kg, giá cả - 300 đôla cộng 10 đôla kết nối mỗi tháng. “Paketbook” giá 500 đôla, nhưng đi kèm với nó phải có máy tính cá nhân. “Dedicate Reader” - một sổ tay điện tử. Nó giống như một cuốn sách thực sự, có một màn hình kép chứa các bản vẽ, bản đồ, sơ đồ, bảng biểu. Giá là 1500 đôla. Như kinh nghiệm cho thấy, không ai thích đọc văn bản theo màn hình, vì thế tại viện nghiên cứu “Media-lab” người ta đang tìm cách chế tạo thứ “mực điện tử” - những cái bao hết sức nhỏ có thể tùy theo cường độ và hướng của dòng điện sắp xếp lại với nhau để tạo thành văn bản. Theo cách đó, gần như loại sách bằng giấy thông thường có thể được in lại - thay một nội dung này bằng một nội dung khác. Tờ “New York Times” viết: “Ngay giờ đây đã thấy rõ sách điện tử là điều tất yếu. Nếu như không phải là sự thay thế sách in, thì cũng là sự luân phiên nó”. (Theo báo chí)