Phong Lê và cụm công trình được giải thưởng nhà nước về khoa học năm 2005

09:44 26/11/2008
BÍCH THUNăm 2005, GS. Phong Lê vinh dự nhận giải thưởng Nhà nước về Khoa học với cụm công trình: Văn học Việt Nam hiện đại - những chân dung tiêu biểu (Nxb ĐHQG, H, 2001, 540 trang); Một số gương mặt văn chương - học thuật Việt hiện đại (Nxb GD, H, 2001, 450 trang); Văn học Việt hiện đại - lịch sử và lý luận (Nxb KHXH. H, 2003, 780 trang). Đây là kết quả của một quá trình nghiên cứu khoa học say mê, tâm huyết và cũng đầy khổ công, vất vả của một người sống tận tụy với nghề.

GS. Phong Lê sinh ra và lớn lên ở Hà Tĩnh nhưng lại lập nghiệp và trưởng thành ở Hà Nội. Như ông từng nói trong Lời đầu cuốn Chân dung - Ký - Tiểu luận Viết từ Hà Nội (Nxb. Lao động, H, 2003): Tôi mang ơn 45 năm quê ở Hà Nội, cùng 18 năm quê sinh Hà Tĩnh. Cả quê sinh và quê ở đã đưa tôi vào nghề. Đó là nghề viết”. Sau khi tốt nghiệp Khoa Ngữ văn Đại học Tổng hợp Hà Nội, GS. Phong Lê về công tác ở Viện Văn học và có bài đầu tiên về Nam Cao in trên Tập san Nghiên cứu văn học năm 1960. Hơn ai hết, với GS. Phong Lê, Viện Văn học là môi trường thuận lợi và tạo điều kiện tốt nhất cho ông làm việc và cống hiến. Cho đến nay, GS. Phong Lê đã là tác giả của 15 cuốn sách in riêng, và là Chủ biên trên 20 công trình tập thể về chuyên ngành văn học Việt Nam hiện đại.

Đọc, viết và nói- đó là ba động tác cơ bản trong hành trình nghề nghiệp của Phong Lê trong hơn 40 năm qua.
Vào đầu thiên niên kỷ mới, các cuốn sách đứng tên Phong Lê liên tiếp ra mắt bạn đọc, trong đó có 3 cuốn thuộc cụm công trình được nhận Giải thưởng Nhà nước đã nêu trên. Đây là ba công trình chủ yếu được viết từ thập niên 90 thế kỷ XX, tập trung khảo sát văn học Việt Nam hiện đại - văn học Việt Nam thế kỷ XX, trên 2 bình diện: - một số tác gia văn chương - học thuật tiêu biểu, và một số khu vực quan trọng làm nên diện mạo hiện đại của văn học Việt Nam. Cả ba công trình có sự gắn nối, xuyên suốt, tạo nên một tổng thể làm nổi bật những vấn đề về lịch sử và lý luận, gắn với thực tiễn văn học phong phú và sôi động trong hơn một thế kỷ qua. Ba công trình ghi nhận thành tựu và đóng góp quan trọng của tác giả đối với sự nghiệp nghiên cứu văn học nói riêng, và đời sống văn chương- học thuật nói chung. Đồng thời với chất lượng và hiệu quả của nó, ba công trình cũng góp phần dẫn tới những thay đổi đáng kể trong nhận thức và tư duy khoa học của chuyên ngành nghiên cứu văn học Việt hiện đại cũng như của đời sống văn học từ sau Đổi mới.

Với công trình Văn học Việt Nam hiện đại - những chân dung tiêu biểu - đó là một tổng hợp những gì đã được tác giả thâu nhận, tích lũy trong quá trình nghiên cứu hơn bốn mươi năm, vừa là kết quả của sự nhận thức lại trên tinh thần đổi mới từ sau 1986, để có thể tự tin và quả cảm hơn trong tiếp cận chân lý và đáp ứng yêu cầu của công cuộc đổi mới đặt ra trong đời sống văn chương và học thuật dân tộc.
Công trình gồm bốn phần:
- Phần một: Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh - hành trình thơ văn, hành trình dân tộc.
- Phần hai: Tác gia lý luận, phê bình, học thuật.
- Phần ba: Tác gia văn xuôi.
- Phần bốn: Cao - người kết thúc vẻ vang trào lưu văn học hiện thực.

Từ nhận thức về hai yêu cầu lớn đưa tới hai thành tựu lớn của văn học Việt Nam thế kỷ XX là cách mạng hóa và hiện đại hóa, cuốn sách đã dành Phần một, để đi sâu vào sự nghiệp văn chương của Chủ tịch Hồ Chí Minh như là người khai sáng và là đỉnh cao các giá trị văn học trước yêu cầu cách mạng hóa (và cả hiện đại hóa); và dành Phần cuối cho sự nghiệp sáng tác của Nam Cao- người đã đưa lên đỉnh cao và kết thúc vẻ vang trào lưu văn học hiện thực trước yêu cầu hiện đại hóa.
Hai phần còn lại gồm 6 tác gia lý luận phê bình và học thuật: Đặng Thai Mai, Trường Chinh, Hải Triều, Hoài Thanh, Hoàng Xuân Hãn, Nguyễn Khắc Viện và 9 tác gia văn xuôi: Hoàng Ngọc Phách, Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan, Thạch Lam, Nguyễn Huy Tưởng, Nguyên Hồng, Tô Hoài, Nguyễn Thi, Võ Quảng, theo quan niệm của tác giả, là những người mang được dấu ấn riêng và đậm nét trong nền văn học Việt Nam hiện đại, ở tư cách người khai sáng hoặc đứng ở vị trí hàng đầu, đúng với mục tiêu của công trình là khẳng định các giá trị văn chương bền vững, có sức sống với thời gian và người đọc.

Có thể nói, công trình Văn học Việt Nam hiện đại- những chân dung tiêu biểu được viết trên tinh thần xác nhận lại, và mở rộng thêm các giá trị của di sản; điều chỉnh lại những nhận định trước đây do hoàn cảnh lịch sử nên không tránh khỏi có mặt cứng nhắc và khe khắt; hướng tới một cách nhìn khách quan, công bằng hơn với các giá trị văn chương; góp phần làm cho bức tranh văn học dân tộc trở nên phong phú, đầy đặn và có thêm sức hấp dẫn.
Công trình Một số gương mặt văn chương- học thuật Việt Nam hiện đại tập hợp 54 chân dung nhà văn, nhà thơ, nhà nghiên cứu, lý luận, phê bình văn học Việt Nam hiện đại như một cách bổ sung cho công trình Văn học Việt Nam hiện đại- những chân dung tiêu biểu, trong đó, ngoài các tác giả quen thuộc, cần chú ý thêm sự góp mặt một số gương mặt mới- như Trương Vĩnh Ký- “cuốn sổ bình sanh công với tội”, Ngọc Giao- người khỏi bị lãng quên vào cuối thế kỷ, Đinh Gia Trinh trong đời sống văn chương học thuật hồi 1941-1945.

Phần lớn các tiểu luận trong công trình được viết trong thời kỳ đổi mới. Vào thời điểm đó, tác giả công trình ở cương vị Viện trưởng Viện Văn học. Với ý thức trách nhiệm của một người lãnh đạo cơ quan nghiên cứu khoa học và ý thức của một chuyên gia đầu ngành, GS. Phong Lê đã tham gia tổ chức và chủ trì trên hai mươi Hội thảo khoa học theo hướng nhận thức lại, mở rộng và khai phá sâu hơn những vấn đề lý luận và lịch sử đặt ra cho văn học dân tộc trên con đường hướng tới mục tiêu cách mạng và hiện đại.
Các báo cáo Đề dẫn hay tham luận khoa học được tập hợp trong công trình này đã ghi nhận nhiệt huyết, nỗ lực và những suy nghĩ, nhận thức mới của tác giả nhằm tiếp cận và khám phá sâu hơn vào đối tượng nghiên cứu, với ý thức đổi mới tư duy khoa học, cập nhật với những vấn đề thời sự của thực tiễn văn học. Trong quá trình phát hiện hoặc đánh giá lại các giá trị văn học dưới ánh sáng đổi mới, tác giả công trình không lúc nào rời mục tiêu nhe nhắm là soi nhìn nó dưới hai yêu cầu: cách mạng và hiện đại; và đặt nó trong bối cảnh sự vận động và biến chuyển theo gia tốc lịch sử của sự phát triển, nó là dấu ấn đặc trưng của đời sống dân tộc trong thế kỷ XX.

Công trình Văn học Việt Nam hiện đại- lịch sử và lý luận là công trình tổng hợp, chọn lọc từ 7 công trình được xuất bản từ 1980 đến 1997. Bảy công trình được tiến hành trong ngót 20 năm nhằm bao quát, trên một diện rộng, những khu vực quan trọng làm nên diện mạo hiện đại của văn học Việt Nam thế kỷ XX. Đó là:
- Văn xuôi Việt trên con đường hiện thực xã hội chủ nghĩa.
- Văn học các dân tộc thiểu số.
- Văn học về đề tài công nhân.
- Văn học Việt kháng chiến chống Pháp.
- Văn học Việt chống Mỹ cứu nước.
- Văn học và hiện thực.
- Văn học trên hành trình của thế kỷ XX.
Điều dễ nhận ở cụm công trình này, về phương diện đồng đại, đó là quá trình Phong Lê mở rộng đối tượng khảo sát; và về phương diện lịch đại, đó là sự bao quát toàn cảnh văn học Việt Nam trong chuyển động từ trung đại sang hiện đại, và trong bối cảnh giao lưu từ phương Đông chuyển sang phương Tây.

Nhìn chung 3 công trình của GS. Phong Lê toát lên tinh thần đổi mới tư duy nghiên cứu, với nhu cầu nhận thức lại, đánh giá lại một cách công bằng, khoa học những giá trị di sản văn học quá khứ, trong đó có một số hiện tượng tác gia, tác phẩm lâu nay còn bị oan sai hoặc khuất lấp. Với hai chặng đường nghiên cứu trước và sau Đổi mới, GS. Phong Lê không chỉ là người chứng kiến nửa thế kỷ của quá trình văn học mà còn là người góp phần tham gia vào quá trình đó, với nhiệt tâm và năng lực của mình. Là một chuyên gia văn học Việt hiện đại, bằng những trang viết nhiều tâm huyết và chính kiến, GS. Phong Lê, qua 3 công trình, đã chứng tỏ là một người đổi mới nhưng biết tự cân bằng, tự điều chỉnh và luôn trung thực với chính mình. Những công trình của GS. Phong Lê đã có tác động đáng kể trong lĩnh vực nghiên cứu, lý luận, phê bình cũng như trong đời sống văn học đương đại. Với cái nhìn “động” và một nền tảng kiến thức luôn được mở rộng, với tâm huyết và sức viết dồi dào, giàu chất văn và có phong cách riêng - đó là những gì có thể rút ra và khẳng định trong hành trình nghề nghiệp của Phong Lê.

Ba công trình Văn học Việt Nam hiện đại- những chân dung tiêu biểu, Một số gương mặt văn chương- học thuật Việt Nam hiện đại, Văn học Việt Nam hiện đại- lịch sử và lý luận là kết quả chọn lọc sau hơn 40 năm nghiên cứu, nhằm hướng tới một phác thảo về văn học Việt Nam thế kỷ XX. Việc khảo sát đối tượng trên bình diện thể loại, qua các giai đoạn lịch sử, gắn với sự nhận diện các gương mặt tiêu biểu cho mỗi khu vực, mỗi thời kỳ; sự miêu tả lịch sử về đối tượng gắn với việc đề xuất các vấn đề lý luận là định hướng khoa học kiên trì và nhất quán của tác giả, gắn với những hoạt động khoa học của Viện Văn học và Tạp chí Văn học trong hơn 40 năm qua. Điều đáng nói ở đây, công cuộc Đổi mới của đất nước là cái mốc quan trọng giúp người nghiên cứu vượt ra khỏi giới hạn sau 1945 mà đi ngược lên giai đoạn “giao thời” đầu thế kỷ XX để có cái nhìn xuyên suốt diện mạo văn học Việt Nam hiện đại, đồng thời là quá trình nhận thức lại và tự điều chỉnh trên tinh thần đối thoại với những nhận định trước đây do hoàn cảnh lịch sử nên không khỏi có phần phiến diện, cứng nhắc, với những khu vực văn học sử còn bỏ ngỏ hoặc chưa được nhìn nhận và đánh giá thỏa đáng, làm cho di sản văn học dân tộc trở nên giàu có và hấp dẫn hơn. Là người hòa nhập nhanh vào quá trình đổi mới, GS. Phong Lê đã có hoàn cảnh bộc lộ những ý kiến cá nhân, những suy nghĩ, tìm tòi có giá trị khoa học, góp phần khởi động tinh thần Đổi mới và thúc đẩy công tác nghiên cứu, giảng dạy văn học nói riêng và đời sống văn học đương đại nói chung.

 Cả ba công trình của GS. Phong Lê đều được sử dụng như là những cuốn sách công cụ, những tài liệu tham khảo bổ ích và cần thiết cho việc giảng dạy, nghiên cứu văn học Việt Nam hiện đại ở các bậc cao đẳng, đại học; cho các luận văn thạc sỹ, luận án tiến sỹ về lý luận và lịch sử văn học Việt Nam, và rộng ra đối với những ai quan tâm đến lịch sử văn học Việt Nam, đặc biệt văn học Việt Nam thế kỷ XX. Đó là ba công trình nghiên cứu công phu, nghiêm túc, có tác động vào đời sống văn học, cả sáng tác và phê bình, vừa gợi tranh luận, vừa thúc đẩy sự phát triển trên tinh thần đổi mới.

Hơn bốn mươi năm nghiên cứu và tham gia giảng dạy ở bậc Đại học và Sau Đại học, GS. Phong Lê đã tạo được uy tín trong giới nghiên cứu- học thuật, và trở thành một trong những chuyên gia đầu ngành về văn học Việt hiện đại. Đối với GS. Phong Lê, viết là một niềm say mê, hơn nữa, viết như là lẽ tồn tại, viết như là sống. Dễ nhận thấy, ông vẫn luôn hiện diện trong đời sống văn học, nhất là trong lĩnh vực nghiên cứu, phê bình văn học hôm nay. Trong quá trình nghiên cứu và viết, GS. Phong Lê luôn luôn có nhu cầu nhận rõ nhận mới những gì đã tích lũy, cũng như những gì còn phải tiếp cận tiếp tục khai phá; và đó là định hướng lớn chi phối hành trình nghề nghiệp đầy nhọc nhằn, thử thách mà cũng đầy mê hoặc và quyến rũ đối với ông.

Với những chân dung và tiểu luận văn học về Tô Hoài, Võ Quảng, Hoàng Trung Thông, Ma Văn Kháng..., và Nguyễn Du mà Phong Lê viết khá dồn dập trong năm 2005 vừa qua, và với công trình Về văn học Việt Nam hiện đại- nghĩ tiếp, 400 trang, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội vừa mới ấn hành- một chặng đường mới trong nghiên cứu- phê bình văn học lại đang mở ra trước ông.
                                      B.T

(nguồn: TCSH số 205 - 03 - 2006)

 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • MAI KHẮC ỨNGCó thể sau khi dẹp được loạn 12 sứ quân, Đinh Tiên Hoàng (968- 979) thống nhất lãnh thổ và lên ngôi hoàng đế, đã đặt được cơ sở ban đầu và xác định chủ quyền Đại Cồ Việt lên tận miền biên cương Tây Bắc vốn là địa bàn chịu ảnh hưởng Kiểu Công Hãn. Trên cơ sở 10 đạo thời Đinh nhà vua Lý Thái Tổ (1010- 1028) mới đổi thành 24 phủ, lộ. Nguyễn Trãi viết Dư địa chí (thế kỷ XV) vẫn giữ nguyên tên gọi đạo Lâm Tây. Tức vùng Tây- Bắc ngày nay.

  • TRẦN ANH VINHÂm vang của những sự kiện xẩy ra năm Ất Dậu (1885) không những vẫn còn đọng trong tâm trí người dân núi Ngự mà còn được ghi lại trong một số tác phẩm. Bài vè “Thất thủ Kinh đô” do cụ Mới đi kể rong hàng mấy chục năm ròng là một tác phẩm văn học dân gian, được nhiều người biết và ngưỡng mộ. Riêng Phan Bội Châu có viết hai bài:+ Kỷ niệm ngày 23 tháng Năm ở Huế (Thơ)+ Văn tế cô hồn ngày 23 tháng Năm ở Kinh thành Huế.

  • HOÀNG CÔNG KHANHCó một thực tế: số các nhà văn cổ kim đông tây viết tiểu thuyết lịch sử không nhiều. Ở Việt Nam càng ít. Theo ý riêng tôi nguyên nhân thì nhiều, nhưng cơ bản là nhà văn viết loại này phải đồng thời là nhà sử học, chí ít là có kiến thức sâu rộng về lịch sử. Cũng nhiều trường hợp người viết có đủ vốn liếng cả hai mặt ấy, nhưng hoặc ngại mất nhiều công sức để đọc hàng chục bộ chính sử, phải sưu tầm, dã ngoại, nghiên cứu, đối chiếu, chọn lọc hoặc đơn giản là chưa, thậm chí không quan tâm đến lịch sử.

  • TRƯƠNG ĐĂNG DUNG                 Tặng Đỗ Lai ThuýChủ nghĩa hiện đại là kết quả của những nỗ lực hiện đại hoá đời sống và tư duy xẩy ra từ những năm cuối của thế kỷ XIX, ở Châu Âu. Những thành tựu nổi bật của khoa học tự nhiên, của triết học, xã hội học và tâm lí học đã tác động đến cách nghĩ của con người hiện đại trước các vấn đề về tồn tại, đạo đức, tâm lí. Tư tưởng của Nietzsche, Husserl, hay Freud không chỉ ảnh hưởng đến tư duy hiện đại mà tiếp tục được nhắc đến nhiều ở thời hậu hiện đại.

  • ĐẶNG TIẾNTân Hình Thức là một trường phái thi ca hiện đại được phổ biến từ năm bảy năm nay, phát khởi do Tạp Chí Thơ, ấn hành tại Mỹ, chủ yếu từ số 18, xuân 2000 “chuyển đổi thế kỷ”, và được nhiều nhà văn, nhà thơ trong và ngoài nước hưởng ứng. Tên Tân Hình Thức dịch từ tiếng Anh New Formalism, một trường phái thơ Mỹ, thịnh hành những năm1980 - 1990.

  • NGUYỄN ĐĂNG ĐIỆP Một ngày kia, cát bụi vùng Hoan Diễn đã sinh tạo một “kẻ ham chơi”. Y cứ lãng đãng trong đời như một khách giang hồ mang trái tim nhạy cảm, một trái tim đầy nhạc với những đốm lửa buồn. Để rồi sau những cuộc say tràn cung mây, khi dòng cảm hứng chợt bùng lên từ những vùng u ẩn nằm sâu trong cõi nhớ, những giai âm ùa về như những luồng điện làm vỡ òa bí mật: có thương có nhớ có khóc có cười- có cái chớp mắt đã ngàn năm trôi. Đây là những câu thơ khép lại một trong những bài thơ hay nhất của Nguyễn Trọng Tạo: Đồng dao cho người lớn(1).

  • NGUYỄN KHẮC PHÊTừ lâu, ở Huế, nhiều người đã biết tiếng ba công chúa, ba nữ sĩ (Tam Khanh) con vua Minh Mạng, em gái nhà thơ nổi tiếng Tùng Thiện Vương Miên Thẩm, trong đó MAI AM là người được nhắc đến nhiều nhất. Mai Am nổi tiếng trước hết vì tài thơ và cùng vì cuộc đời riêng không được may mắn của bà, tuy bà là người sống thọ nhất trong “Tam Khanh”.

  • LÊ DỤC TÚCùng với nghệ thuật tiếp cận và phản ánh hiện thực, nghệ thuật miêu tả và khắc họa chân dung nhân vật, nghệ thuật châm biếm và sử dụng ngôn ngữ cũng là một trong những nét nghệ thuật đặc sắc ta thường gặp trong các phóng sự Việt Nam 1932 - 1945.

  • NGUYỄN VĂN DÂNTrong thế kỷ XX vừa qua, thế giới, đặc biệt là thế giới phương Tây, đã sản sinh ra biết bao phương pháp phục vụ cho nghiên cứu văn học, trong đó phương pháp cấu trúc là một trong những phương pháp được quan tâm nhiều nhất.

  • AN KHÁNHHai mươi tám năm kể từ ngày chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam, đủ để một thế hệ trưởng thành, một dòng thơ định vị. Tháng 3 vừa qua, Hội Văn nghệ Hà Nội và nhóm nhà thơ - nhà văn - cựu binh Mỹ có cuộc giao lưu thú vị, nhằm tìm ra tiếng nói "tương đồng", sự thân ái giữa các thế hệ Mỹ - Việt thông qua những thông điệp của văn chương.

  • TRẦN ĐÌNH SỬ Bạn đọc Việt Nam vốn không xa lạ với phê bình phân tâm học hơn nửa thế kỷ nay, bởi nó đã bắt đầu được giới thiệu vào nước ta từ những năm ba mươi, bốn mươi thế kỷ trước. Nhưng đáng tiếc nó đã bị kỳ thị rất nặng nề từ nhiều phía. Giống như nhân loại có thời phản ứng với Darwin vì không chấp nhận lý thuyết xem con người là một loài cao quý lại có thể tiến hóa từ một loài tầm thường như loài khỉ, người ta cũng không thể chấp nhận lý thuyết phân tâm học xem con người - một sinh vật có lý trí cao quý lại có thể bị sai khiến bởi bản năng tầm thường như các loài vật hạ đẳng!

  • PHẠM ĐÌNH ÂN(Nhân kỷ niệm lần thứ 20 ngày mất của Thế Lữ 3-6-1989 – 3-6-2009)Nói đến Thế Lữ, trước tiên là nói đến một nhà thơ tài danh, người góp phần lớn mở đầu phong trào Thơ Mới (1932-1945), cũng là nhà thơ tiêu biểu nhất của Thơ Mới buổi đầu. Ông còn là cây bút văn xuôi nghệ thuật tài hoa, là nhà báo, dịch giả và nổi bật là nhà hoạt động sân khấu xuất sắc, cụ thể là đưa nghệ thuật biểu diễn kịch nói nước nhà trở thành chuyên nghiệp theo hướng hiện đại hóa.

  • THÁI DOÃN HIỂUPhàm trần chưa rõ vàng thauChân tâm chẳng biết ở đâu mà tìm.                                VẠN HẠNH Thiền sư

  • HỒ THẾ HÀ  Thi ca là một loại hình nghệ thuật ngôn từ đặc biệt. Nó là điển hình của cảm xúc và tâm trạng được chứa đựng bởi một hình thức - “hình thức mang tính quan niệm” cũng rất đặc biệt. Sự “quái đản” trong sử dụng ngôn từ; sự chuyển nghĩa, tạo sinh nghĩa trong việc sử dụng các biện pháp tu từ; sự trừu tượng hoá, khái quát hoá các trạng thái tình cảm, hiện thực và khát vọng sống của con người; sự hữu hình hoá hoặc vô hình hoá các cảm xúc, đối tượng; sự âm thanh hoá theo quy luật của khoa phát âm thực nghiệm học (phonétique  expérimentale)...đã làm cho thi ca có sức quyến rũ bội phần (multiple) so với các thể loại nghệ thuật ngôn từ khác.

  • LÊ XUÂN LÍTHỏi: Mã Giám Sinh sau khi mua được Kiều, Mã phải đưa Kiều đi ròng rã một tháng tròn mới đến Lâm Tri, nơi Tú Bà đang chờ đợi. Trên đường, Mã đâm thèm muốn chuyện “nước trước bẻ hoa”. Hắn nghĩ ra đủ mưu mẹo, lí lẽ và hắn đâm liều, Nguyễn Du viết:              Đào tiên đã bén tay phàm              Thì vin cành quít, cho cam sự đờiĐào tiên ở đây là quả cây đào. Sao câu dưới lại vin cành quít? Nguyễn Du có lẩm cẩm không?

  • CHU ĐÌNH KIÊN1. Có những tác phẩm người đọc phải thực sự “vật lộn” trên từng trang giấy, mới có thể hiểu được nhà văn muốn nói điều gì. Đó là hiện tượng “Những kẻ thiện tâm” (Les Bienveillantes) của Jonathan Littell. Một “cas” được xem là quá khó đọc. Tác phẩm đã đạt hai giải thưởng danh giá của nước Pháp là: giải Goncourt và giải thưởng của Viện hàn lâm Pháp.

  • PHONG LÊSinh năm 1893, Ngô Tất Tố rõ ràng là bậc tiền bối của số rất lớn, nếu không nói là tất cả những người làm nên diện mạo hiện đại của văn học Việt Nam thời 1932-1945. Tất cả - gồm những gương mặt tiêu biểu trong phong trào Thơ mới, Tự Lực văn đoàn và trào lưu hiện thực đều ra đời sau ông từ 10 đến 20 năm, thậm chí ngót 30 năm.

  • HẢI TRUNGHiện tượng ngôn ngữ lai tạp hay gọi nôm na là tiếng bồi, tiếng lơ lớ (Pidgins và Creoles) được ngành ngôn ngữ học đề cập đến với những đặc trưng gắn liền với xã hội. Nguồn gốc ra đời của loại hình ngôn ngữ này có nhiều nét khác biệt so với ngôn ngữ nói chung. Đây không chỉ là một hiện tượng cá thể của một cộng đồng ngôn ngữ nào, mà nó có thể phát sinh gắn liền với những diễn biến, những thay đổi, sự phát triển của lịch sử, xã hội của nhiều dân tộc, nhiều quốc gia khác nhau.

  • BÙI NGỌC TẤN... Đã bao nhiêu cuộc hội thảo, bao nhiêu cuộc tổng kết, bao nhiêu cuộc thi cùng với bao nhiêu giải thưởng, văn chương của chúng ta, đặc biệt là tiểu thuyết vẫn chẳng tiến lên. Rất nhiều tiền của bỏ ra, rất nhiều trí tuệ công sức đã được đầu tư để rồi không đạt được điều mong muốn. Không có được những sáng tác hay, những tác phẩm chịu được thử thách của thời gian. Sự thất thu này đều đã được tiêu liệu.

  • NGUYỄN HUỆ CHICao Bá Quát là một tài thơ trác việt ở nửa đầu thế kỷ XIX. Thơ ông có những cách tân nghệ thuật táo bạo, không còn là loại thơ “kỷ sự” của thế kỷ XVIII mà đã chuyển sang một giọng điệu mới, kết hợp tự sự với độc thoại, cho nên lời thơ hàm súc, đa nghĩa, và mạch thơ hướng tới những đề tài có ý nghĩa xã hội sâu rộng.