Phong Lê và cụm công trình được giải thưởng nhà nước về khoa học năm 2005

09:44 26/11/2008
BÍCH THUNăm 2005, GS. Phong Lê vinh dự nhận giải thưởng Nhà nước về Khoa học với cụm công trình: Văn học Việt Nam hiện đại - những chân dung tiêu biểu (Nxb ĐHQG, H, 2001, 540 trang); Một số gương mặt văn chương - học thuật Việt hiện đại (Nxb GD, H, 2001, 450 trang); Văn học Việt hiện đại - lịch sử và lý luận (Nxb KHXH. H, 2003, 780 trang). Đây là kết quả của một quá trình nghiên cứu khoa học say mê, tâm huyết và cũng đầy khổ công, vất vả của một người sống tận tụy với nghề.

GS. Phong Lê sinh ra và lớn lên ở Hà Tĩnh nhưng lại lập nghiệp và trưởng thành ở Hà Nội. Như ông từng nói trong Lời đầu cuốn Chân dung - Ký - Tiểu luận Viết từ Hà Nội (Nxb. Lao động, H, 2003): Tôi mang ơn 45 năm quê ở Hà Nội, cùng 18 năm quê sinh Hà Tĩnh. Cả quê sinh và quê ở đã đưa tôi vào nghề. Đó là nghề viết”. Sau khi tốt nghiệp Khoa Ngữ văn Đại học Tổng hợp Hà Nội, GS. Phong Lê về công tác ở Viện Văn học và có bài đầu tiên về Nam Cao in trên Tập san Nghiên cứu văn học năm 1960. Hơn ai hết, với GS. Phong Lê, Viện Văn học là môi trường thuận lợi và tạo điều kiện tốt nhất cho ông làm việc và cống hiến. Cho đến nay, GS. Phong Lê đã là tác giả của 15 cuốn sách in riêng, và là Chủ biên trên 20 công trình tập thể về chuyên ngành văn học Việt Nam hiện đại.

Đọc, viết và nói- đó là ba động tác cơ bản trong hành trình nghề nghiệp của Phong Lê trong hơn 40 năm qua.
Vào đầu thiên niên kỷ mới, các cuốn sách đứng tên Phong Lê liên tiếp ra mắt bạn đọc, trong đó có 3 cuốn thuộc cụm công trình được nhận Giải thưởng Nhà nước đã nêu trên. Đây là ba công trình chủ yếu được viết từ thập niên 90 thế kỷ XX, tập trung khảo sát văn học Việt Nam hiện đại - văn học Việt Nam thế kỷ XX, trên 2 bình diện: - một số tác gia văn chương - học thuật tiêu biểu, và một số khu vực quan trọng làm nên diện mạo hiện đại của văn học Việt Nam. Cả ba công trình có sự gắn nối, xuyên suốt, tạo nên một tổng thể làm nổi bật những vấn đề về lịch sử và lý luận, gắn với thực tiễn văn học phong phú và sôi động trong hơn một thế kỷ qua. Ba công trình ghi nhận thành tựu và đóng góp quan trọng của tác giả đối với sự nghiệp nghiên cứu văn học nói riêng, và đời sống văn chương- học thuật nói chung. Đồng thời với chất lượng và hiệu quả của nó, ba công trình cũng góp phần dẫn tới những thay đổi đáng kể trong nhận thức và tư duy khoa học của chuyên ngành nghiên cứu văn học Việt hiện đại cũng như của đời sống văn học từ sau Đổi mới.

Với công trình Văn học Việt Nam hiện đại - những chân dung tiêu biểu - đó là một tổng hợp những gì đã được tác giả thâu nhận, tích lũy trong quá trình nghiên cứu hơn bốn mươi năm, vừa là kết quả của sự nhận thức lại trên tinh thần đổi mới từ sau 1986, để có thể tự tin và quả cảm hơn trong tiếp cận chân lý và đáp ứng yêu cầu của công cuộc đổi mới đặt ra trong đời sống văn chương và học thuật dân tộc.
Công trình gồm bốn phần:
- Phần một: Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh - hành trình thơ văn, hành trình dân tộc.
- Phần hai: Tác gia lý luận, phê bình, học thuật.
- Phần ba: Tác gia văn xuôi.
- Phần bốn: Cao - người kết thúc vẻ vang trào lưu văn học hiện thực.

Từ nhận thức về hai yêu cầu lớn đưa tới hai thành tựu lớn của văn học Việt Nam thế kỷ XX là cách mạng hóa và hiện đại hóa, cuốn sách đã dành Phần một, để đi sâu vào sự nghiệp văn chương của Chủ tịch Hồ Chí Minh như là người khai sáng và là đỉnh cao các giá trị văn học trước yêu cầu cách mạng hóa (và cả hiện đại hóa); và dành Phần cuối cho sự nghiệp sáng tác của Nam Cao- người đã đưa lên đỉnh cao và kết thúc vẻ vang trào lưu văn học hiện thực trước yêu cầu hiện đại hóa.
Hai phần còn lại gồm 6 tác gia lý luận phê bình và học thuật: Đặng Thai Mai, Trường Chinh, Hải Triều, Hoài Thanh, Hoàng Xuân Hãn, Nguyễn Khắc Viện và 9 tác gia văn xuôi: Hoàng Ngọc Phách, Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan, Thạch Lam, Nguyễn Huy Tưởng, Nguyên Hồng, Tô Hoài, Nguyễn Thi, Võ Quảng, theo quan niệm của tác giả, là những người mang được dấu ấn riêng và đậm nét trong nền văn học Việt Nam hiện đại, ở tư cách người khai sáng hoặc đứng ở vị trí hàng đầu, đúng với mục tiêu của công trình là khẳng định các giá trị văn chương bền vững, có sức sống với thời gian và người đọc.

Có thể nói, công trình Văn học Việt Nam hiện đại- những chân dung tiêu biểu được viết trên tinh thần xác nhận lại, và mở rộng thêm các giá trị của di sản; điều chỉnh lại những nhận định trước đây do hoàn cảnh lịch sử nên không tránh khỏi có mặt cứng nhắc và khe khắt; hướng tới một cách nhìn khách quan, công bằng hơn với các giá trị văn chương; góp phần làm cho bức tranh văn học dân tộc trở nên phong phú, đầy đặn và có thêm sức hấp dẫn.
Công trình Một số gương mặt văn chương- học thuật Việt Nam hiện đại tập hợp 54 chân dung nhà văn, nhà thơ, nhà nghiên cứu, lý luận, phê bình văn học Việt Nam hiện đại như một cách bổ sung cho công trình Văn học Việt Nam hiện đại- những chân dung tiêu biểu, trong đó, ngoài các tác giả quen thuộc, cần chú ý thêm sự góp mặt một số gương mặt mới- như Trương Vĩnh Ký- “cuốn sổ bình sanh công với tội”, Ngọc Giao- người khỏi bị lãng quên vào cuối thế kỷ, Đinh Gia Trinh trong đời sống văn chương học thuật hồi 1941-1945.

Phần lớn các tiểu luận trong công trình được viết trong thời kỳ đổi mới. Vào thời điểm đó, tác giả công trình ở cương vị Viện trưởng Viện Văn học. Với ý thức trách nhiệm của một người lãnh đạo cơ quan nghiên cứu khoa học và ý thức của một chuyên gia đầu ngành, GS. Phong Lê đã tham gia tổ chức và chủ trì trên hai mươi Hội thảo khoa học theo hướng nhận thức lại, mở rộng và khai phá sâu hơn những vấn đề lý luận và lịch sử đặt ra cho văn học dân tộc trên con đường hướng tới mục tiêu cách mạng và hiện đại.
Các báo cáo Đề dẫn hay tham luận khoa học được tập hợp trong công trình này đã ghi nhận nhiệt huyết, nỗ lực và những suy nghĩ, nhận thức mới của tác giả nhằm tiếp cận và khám phá sâu hơn vào đối tượng nghiên cứu, với ý thức đổi mới tư duy khoa học, cập nhật với những vấn đề thời sự của thực tiễn văn học. Trong quá trình phát hiện hoặc đánh giá lại các giá trị văn học dưới ánh sáng đổi mới, tác giả công trình không lúc nào rời mục tiêu nhe nhắm là soi nhìn nó dưới hai yêu cầu: cách mạng và hiện đại; và đặt nó trong bối cảnh sự vận động và biến chuyển theo gia tốc lịch sử của sự phát triển, nó là dấu ấn đặc trưng của đời sống dân tộc trong thế kỷ XX.

Công trình Văn học Việt Nam hiện đại- lịch sử và lý luận là công trình tổng hợp, chọn lọc từ 7 công trình được xuất bản từ 1980 đến 1997. Bảy công trình được tiến hành trong ngót 20 năm nhằm bao quát, trên một diện rộng, những khu vực quan trọng làm nên diện mạo hiện đại của văn học Việt Nam thế kỷ XX. Đó là:
- Văn xuôi Việt trên con đường hiện thực xã hội chủ nghĩa.
- Văn học các dân tộc thiểu số.
- Văn học về đề tài công nhân.
- Văn học Việt kháng chiến chống Pháp.
- Văn học Việt chống Mỹ cứu nước.
- Văn học và hiện thực.
- Văn học trên hành trình của thế kỷ XX.
Điều dễ nhận ở cụm công trình này, về phương diện đồng đại, đó là quá trình Phong Lê mở rộng đối tượng khảo sát; và về phương diện lịch đại, đó là sự bao quát toàn cảnh văn học Việt Nam trong chuyển động từ trung đại sang hiện đại, và trong bối cảnh giao lưu từ phương Đông chuyển sang phương Tây.

Nhìn chung 3 công trình của GS. Phong Lê toát lên tinh thần đổi mới tư duy nghiên cứu, với nhu cầu nhận thức lại, đánh giá lại một cách công bằng, khoa học những giá trị di sản văn học quá khứ, trong đó có một số hiện tượng tác gia, tác phẩm lâu nay còn bị oan sai hoặc khuất lấp. Với hai chặng đường nghiên cứu trước và sau Đổi mới, GS. Phong Lê không chỉ là người chứng kiến nửa thế kỷ của quá trình văn học mà còn là người góp phần tham gia vào quá trình đó, với nhiệt tâm và năng lực của mình. Là một chuyên gia văn học Việt hiện đại, bằng những trang viết nhiều tâm huyết và chính kiến, GS. Phong Lê, qua 3 công trình, đã chứng tỏ là một người đổi mới nhưng biết tự cân bằng, tự điều chỉnh và luôn trung thực với chính mình. Những công trình của GS. Phong Lê đã có tác động đáng kể trong lĩnh vực nghiên cứu, lý luận, phê bình cũng như trong đời sống văn học đương đại. Với cái nhìn “động” và một nền tảng kiến thức luôn được mở rộng, với tâm huyết và sức viết dồi dào, giàu chất văn và có phong cách riêng - đó là những gì có thể rút ra và khẳng định trong hành trình nghề nghiệp của Phong Lê.

Ba công trình Văn học Việt Nam hiện đại- những chân dung tiêu biểu, Một số gương mặt văn chương- học thuật Việt Nam hiện đại, Văn học Việt Nam hiện đại- lịch sử và lý luận là kết quả chọn lọc sau hơn 40 năm nghiên cứu, nhằm hướng tới một phác thảo về văn học Việt Nam thế kỷ XX. Việc khảo sát đối tượng trên bình diện thể loại, qua các giai đoạn lịch sử, gắn với sự nhận diện các gương mặt tiêu biểu cho mỗi khu vực, mỗi thời kỳ; sự miêu tả lịch sử về đối tượng gắn với việc đề xuất các vấn đề lý luận là định hướng khoa học kiên trì và nhất quán của tác giả, gắn với những hoạt động khoa học của Viện Văn học và Tạp chí Văn học trong hơn 40 năm qua. Điều đáng nói ở đây, công cuộc Đổi mới của đất nước là cái mốc quan trọng giúp người nghiên cứu vượt ra khỏi giới hạn sau 1945 mà đi ngược lên giai đoạn “giao thời” đầu thế kỷ XX để có cái nhìn xuyên suốt diện mạo văn học Việt Nam hiện đại, đồng thời là quá trình nhận thức lại và tự điều chỉnh trên tinh thần đối thoại với những nhận định trước đây do hoàn cảnh lịch sử nên không khỏi có phần phiến diện, cứng nhắc, với những khu vực văn học sử còn bỏ ngỏ hoặc chưa được nhìn nhận và đánh giá thỏa đáng, làm cho di sản văn học dân tộc trở nên giàu có và hấp dẫn hơn. Là người hòa nhập nhanh vào quá trình đổi mới, GS. Phong Lê đã có hoàn cảnh bộc lộ những ý kiến cá nhân, những suy nghĩ, tìm tòi có giá trị khoa học, góp phần khởi động tinh thần Đổi mới và thúc đẩy công tác nghiên cứu, giảng dạy văn học nói riêng và đời sống văn học đương đại nói chung.

 Cả ba công trình của GS. Phong Lê đều được sử dụng như là những cuốn sách công cụ, những tài liệu tham khảo bổ ích và cần thiết cho việc giảng dạy, nghiên cứu văn học Việt Nam hiện đại ở các bậc cao đẳng, đại học; cho các luận văn thạc sỹ, luận án tiến sỹ về lý luận và lịch sử văn học Việt Nam, và rộng ra đối với những ai quan tâm đến lịch sử văn học Việt Nam, đặc biệt văn học Việt Nam thế kỷ XX. Đó là ba công trình nghiên cứu công phu, nghiêm túc, có tác động vào đời sống văn học, cả sáng tác và phê bình, vừa gợi tranh luận, vừa thúc đẩy sự phát triển trên tinh thần đổi mới.

Hơn bốn mươi năm nghiên cứu và tham gia giảng dạy ở bậc Đại học và Sau Đại học, GS. Phong Lê đã tạo được uy tín trong giới nghiên cứu- học thuật, và trở thành một trong những chuyên gia đầu ngành về văn học Việt hiện đại. Đối với GS. Phong Lê, viết là một niềm say mê, hơn nữa, viết như là lẽ tồn tại, viết như là sống. Dễ nhận thấy, ông vẫn luôn hiện diện trong đời sống văn học, nhất là trong lĩnh vực nghiên cứu, phê bình văn học hôm nay. Trong quá trình nghiên cứu và viết, GS. Phong Lê luôn luôn có nhu cầu nhận rõ nhận mới những gì đã tích lũy, cũng như những gì còn phải tiếp cận tiếp tục khai phá; và đó là định hướng lớn chi phối hành trình nghề nghiệp đầy nhọc nhằn, thử thách mà cũng đầy mê hoặc và quyến rũ đối với ông.

Với những chân dung và tiểu luận văn học về Tô Hoài, Võ Quảng, Hoàng Trung Thông, Ma Văn Kháng..., và Nguyễn Du mà Phong Lê viết khá dồn dập trong năm 2005 vừa qua, và với công trình Về văn học Việt Nam hiện đại- nghĩ tiếp, 400 trang, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội vừa mới ấn hành- một chặng đường mới trong nghiên cứu- phê bình văn học lại đang mở ra trước ông.
                                      B.T

(nguồn: TCSH số 205 - 03 - 2006)

 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • TRẦN ANH PHƯƠNGCầm trên tay tập thơ "Người hái phù dung" của Hoàng Phủ Ngọc Tường tôi như đọc với chính mình giữa đêm khuya lặng lẽ bên ngọn đèn. Cảm nhận đầu tiên về thơ anh không phải thơ để đọc giữa chốn đông người hay ở trong hội trường lớn, thơ anh chỉ đến với người đọc khi chỉ còn lại một mình đối diện với chính mình, tìm lại mình trong những con chữ lan toả như từng đợt sóng, xâm chiếm choáng ngợp lòng người...

  • TRẦN THIỆN KHANH Inrasara nhập cuộc văn chương từ rất sớm. Ngòi bút của Inrasara chạm được vào những vấn đề cốt tử của nghệ thuật. Inrasara đã sống thực sự với đời sống văn chương đương thời.

  • HUYỀN SÂM - NGỌC ANH 1. Umberto Eco - nhà ký hiệu học nổi tiếng.Umberto Eco chiếm một vị trí rất đặc biệt trong nền lý luận đương đại của Châu Âu. Ông là một triết - mỹ gia hàn lâm, một nhà ký hiệu học uyên bác, một tiểu thuyết gia nổi tiếng và là giáo sư danh dự của trường Đại học Bologne ở Italia. Tư tưởng học thuật của ông đã tác động mạnh mẽ, tích cực đến đời sống trí tuệ của sinh viên và giới nghiên cứu trong suốt nửa thế kỷ qua. Ông có mặt trong danh sách của hai mươi nhà tư tưởng đương đại lớn nhất thế giới, và cũng là ứng cử viên thường trực của Viện Hàn lâm Thụy điển về việc bình chọn giải Nobel văn học.

  • ĐỖ NGUYỄN VIỆT TƯ         (Nhân đọc thơ Hoàng Vũ Thuật)Trong con người cũng như trong vũ trụ luôn luôn hiện diện một mâu thuẫn bất biến, nhờ cái khối mâu thuẫn này mà nó tồn tại, phát triển và trở nên thống nhất. Con người luôn đi tìm chính mình trong một cuộc phiêu lưu vô định, không bao giờ bằng lòng với những cái đã có, bản ngã lúc nào cũng thôi thúc sáng tạo để tìm ra cái mới. Nhà thơ luôn đồng hành với cuộc phiêu lưu của những con chữ để đi đến những miền đất lạ, những vùng cảm xúc.

  • NGUYỄN KHOA BỘI LANSau mấy tháng mưa tầm tã và lạnh thấu xương, qua đầu tháng chạp âm lịch, toàn khu Hạ Lào bắt đầu tạnh. Mặt trời lại hiện ra đem ánh sáng sưởi ấm những khu rừng bạt ngàn từ Trường Sơn lượn xuống. Ở các suối nước không còn chảy như thác đổ, ở Xê Công dòng nước cũng đã trở lại hiền hòa. Các con đường lớn, đường nhỏ bắt đầu khô ráo.

  • TRẦN ĐƯƠNGTôi được làm quen và có quan hệ cởi mở với nhà thơ Tố Hữu từ mùa thu năm 1973, sau khi ông dẫn đầu Đoàn đại biểu Đảng ta đi dự Đại hội đại biểu Đảng Cộng sản Đức (DKP) họp tại thành phố cảng Hăm-bugr). Từ  miền Tây, ông sang Béc-lin, Cộng hòa Dân chủ Đức, theo lời mời của Bộ chính trị Đảng xã hội chủ nghĩa thống nhất Đức (SED) với mục đích thăm, nghiên cứu và trao đổi về công tác tư tưởng giữa hai Đảng.

  • TRẦN THÁI HỌCĐến nay, vấn đề giá trị nghệ thuật không còn là vấn đề thời sự được nhiều người trong giới phê bình quan tâm bàn cãi. Sự lắng lại trong không khí phê bình về vấn đề này, vốn đã trải qua một thời kì tranh luận sôi nổi kéo dài hàng chục năm trên văn đàn gắn liền với những quan điểm triết học và mỹ học khác nhau, thậm chí đối lập nhau.

  • HÀ VĂN THỊNH Trên trái đất này, có lẽ chỉ có các nhà thơ mới quan niệm cuộc đời là một trò chơi. Ngay cả Thánh Kinh, khi bàn về lẽ khởi - tận của kiếp người cũng phải than: thân cát bụi trở về cát bụi. Lời nguyền đó là tiếng kêu bi thương từ sâu thẳm của hàng triệu năm đau đớn để sống và, để chết. Từ ngày đầu tiên sinh ra loài người, Adams  đã phải dắt díu Éva trốn chạy khỏi Thiên Đường trong nước mắt và uất hận; đau đớn và tuyệt vọng; cô đơn và sỉ nhục... Đó là những điều ngăn cản việc biến cuộc đời thành một trò chơi.

  • NGUYỄN THAM THIỆN KẾ... Đức Phật, nàng Savitri và tôi sẽ là cuốn tiểu thuyết quan trọng nhất của Hồ Anh Thái, đồng thời nó sẽ giữ ngôi vị lâu dài là tiểu thuyết duy nhất trong văn học Việt lấy cuộc đời giáo chủ Phật giáo làm nguồn cảm hứng. Và sẽ còn lâu lắm văn chương Việt mới có một nhà văn đủ tự tin cũng như tài năng để động vào bàn phím viết về đề tài này. Nó cũng sẽ là thời gian cộng trừ 20 năm, nếu như nhà văn nào đó bây giờ mới bắt đầu tìm hiểu văn hóa Ấn...

  • HOÀNG NGỌC HIẾNNhan đề của tập thơ khiến ta nghĩ Trần Tuấn đặc biệt quan tâm đến những ngón tu từ, mỹ từ của thi ca, thực ra cảm hứng và suy tưởng của tác giả tập trung vào những vấn đề tư tưởng của sự sáng tạo tinh thần: đường đi của những người làm nghệ thuật, cách đi của họ và cả những “dấu chân” họ để lại trên đường.

  • TRẦN ĐÌNH SỬTrong sáng tác văn học của nhà văn Lỗ Tấn, Cỏ dại  là tập thơ văn xuôi giàu tính hiện đại nhất xét về tư duy, tư tưởng và hình ảnh. Tuy nhiên trong một thời gian dài, phẩm chất nghệ thuật này đã không được nhìn nhận đúng mức.

  • HOÀNG NGỌC HIẾN(Trích đăng Lời giới thiệu “Tuyển tập Minh triết phương Đông - Triết học phương Tây” của Hoàng Ngọc Hiến)

  • NGUYỄN GIA NÙNGCả cuộc đời và sự nghiệp văn thơ của Cao Bá Quát là một chuỗi dài những bi kịch của cuộc tìm kiếm không ngừng, không nghỉ về lẽ sống ở đời, về vai trò của văn thơ nói riêng, về kẻ sĩ nói chung. "Mình là ai?" "Mình có thể làm được gì? Làm thế nào để có thể tự khẳng định mình và có thể giúp ích được cho đời?" Có thể nói những câu hỏi ấy luôn trăn trở, dằn vặt trong con người Cao Bá Quát từ khi tự ý thức được tài năng của mình cho đến lúc từ giã cõi đời mà vẫn chưa tìm được lời giải đáp trong một chế độ đầy rẫy bất công, phi lý mà mọi con đường để thoát ra, với ông, đều mờ mịt và chính ông, dù đã cố công tìm, bế tắc vẫn hoàn toàn bế tắc.

  • THẠCH QUỲBài thơ Đây thôn Vĩ Dạ được tuyển chọn để giảng dạy ở trường phổ thông vài chục năm nay. Đó cũng là bài thơ xuất sắc được bạn đọc cả nước yêu mến. Tuy vậy, cho đến hôm nay, cái hình ảnh “Mặt chữ điền” đầy sức quyến rũ và ám ảnh ấy vẫn chưa được nhận chân, nhận diện một cách chính xác.

  • HỒ THẾ HÀNhư một quy luật hiển nhiên, có sáng tác văn học thì sớm muộn gì cũng có phê bình văn học và lý luận văn học, càng về sau, có thêm các phương pháp nghiên cứu, phê bình văn học - với tư cách là trường phái, trào lưu nối tiếp nhau nhằm tiếp cận và giải mã tác phẩm ngày một đa dạng, tối ưu, hiện đại để không ngừng làm đầy những giá trị và ý nghĩa chỉnh thể của tác phẩm văn học.

  • PHONG LÊTrong văn học Việt Nam, trước trào lưu hiện thực, hình ảnh người trí thức đã có mặt trong khuynh hướng lãng mạn của Tự lực văn đoàn. Đó là các nhân vật trong vai điền chủ, luật sư, quan lại - có vốn tri thức và có chút băn khoăn, muốn nhìn xuống nỗi khổ của những người dân quê, và mong thực hiện một ít cải cách cho đời sống họ đỡ tối tăm và đỡ khổ.

  • MÃ GIANG LÂNCách nhân bản thơ, xuất bản thơ bằng "công nghệ sạch" của loài người có từ ngày xửa ngày xưa dưới hình thức ngâm thơ và đọc thơ. Người Việt chúng ta ngâm thơ là truyền thống. Tiếng Việt nhiều thanh, giàu tính nhạc, giọng ngâm có sức vang, sức truyền cảm.

  • TRIỀU NGUYÊN1. Chương trình Văn học lớp 11, chỉnh lí năm 2000, phần tác giả Cao Bá Quát, bài Đề sau khúc Yên Đài anh ngữ của ông đô sát họ Bùi, giảng một tiết, được thay bằng bài Dương phụ hành (Bài hành về người thiếu phụ phương Tây). Cả sách học sinh và sách giáo viên đều không có chú thích gì về "hành", ngoài cách chuyển y khi dịch sang tiếng Việt như vừa ghi.

  • ĐIỀN THANHAndy Warhol nổi tiếng là người đùa rỡn với chuyện danh tiếng, nhưng niềm say mê của ông với sinh hoạt hiện đại có hàm chứa một không gian tối xám hơn nhiều. Đó là việc ông bị ám ảnh bởi cái chết, điểm này cho mỗi chúng ta biết nhiều nhất về tinh thần của thời đại ngày nay…

  • ĐINH VŨ THUỲ TRANGThời Đường là thời đại cực thịnh của dân tộc Trung Hoa về mọi mặt, trong đó có thơ ca. Câu nói này có vẻ sáo mòn nhưng không thể không nhắc đến khi nhìn vào những trang sử vàng son ấy. Chúng ta biết đến ba nhà thơ lớn đời Đường là Lý Bạch, Đỗ Phủ, Bạch Cư Dị... Nhưng phải nói rằng, chỉ đọc thơ của họ thì chưa thấy hết được cái hay của thơ Đường. Bởi lẽ, các nhà thơ tuy cùng khuôn luật, cùng chủ đề... nhưng mỗi người đều riêng khác nhau.